Trần Thái Tông
Niên hiệu:
- Kiến Trung (1225-1231)
- Thiên ứng chính Bình (1232-1250)
- Nguyên Phong (1251-1258)
Vị vua đầu tiên của nhà Trần,
sinh ngày 16 tháng 6 nǎm Mậu Dần (1218) tại hương Tức Mặc Phủ Thiên
Trường, nay là thôn Tức Mặc xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định.
Ông có tên thật là Trần Cảnh
con trai Trần Thừa, cháu gọi Trần Thủ Độ bằng chú. Việc lên ngôi
của Ông do tài sắp đặt của Trần Thủ Độ mà nên, lúc ấy ông mới tròn
8 tuổi. Trần Thủ Độ đã thu xếp cho Trần Cảnh được làm chức chánh
hậu, có tên gọi là chức Chánh thủ. Ban đầu chỉ được hầu hạ bên ngoài,
sau vài lần được vào trong để bưng nước rửa cho vua. Vua lúc bấy
giờ là Lý Chiêu Hoàng (Con gái vua Lý Huệ Tông, cô là vị vua sau
cùng của nhà Lý). Sau nhờ Trần Thủ Độ thu xếp Lý Chiêu Hoàng đã
nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông.
Trần Cảnh lên ngôi nhưng việc
quân sự thì do Trần Thủ Độ nắm việc chính trị thì do cha làm Thượng
hoàng giúp đỡ, song những người này trình độ vǎn hoá cũng còn nhiều
hạn chế. Các quan nhà Lý ở lại phục vụ nhiều, song không thấy nói
có một ai được chính thức giúp vua làm phụ chính. Vậy mà trong suốt
những nǎm đầu ở tuổi thiếu nhi, Trần Cảnh đã được sử sách ghi chép
đúng như một ông vua có tài.
Để giữ vững an ninh đất nước,
Trần Thủ Độ đã giúp nhà vua dần ổn định được tình hình, lợi dụng
các mâu thuẫn giữa các tay quân phiệt và dần dần dẹp yên được nội
loạn.
Khi bước sang tuổi thành niên,
Ông đã phát huy rõ rệt tài nǎng xuất sắc của mình. Nhưng trước khi
thực sự nắm chắc quyền hành của mình, Ông đã phải chịu một nỗi đau,
khiến Ông phải xót xa ân hận mà không biết phải xử trí ra sao, nguyên
nhân là Chiêu Thánh Hoàng hậu lấy Ông đã được 12 nǎm mà vẫn chưa
có con, trong khi triều Trần cần kíp phải có Hoàng tử.
Trần Thủ Độ đã nhất quyết buộc
Ông phải bỏ Chiêu Thánh lập Hoàng hậu mới là Thuận Thiên chị ruột
của Chiêu Thánh, hiện là vợ của Trần Liễu (anh của Trần Cảnh) đang
có mang khiến Trần Cảnh đau khổ bỏ trốn ra khỏi kinh thành lên núi
Yên Tử trú ngụ (1236). Trần Thủ Độ phải trổ hết mưu mẹo mới rước
được Ông về kinh.
Trong cuộc kháng chiến chống
Nguyên Mông đầu nǎm Đinh Tý (1-1258) vua Trần Thái Tông đã biết
dựa vào Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn (tức Hưng Đạo vương, con của
Trần Liễu) để lãnh đạo dân Đại Việt quyết chống giặc.
Tháng 12 nǎm Đinh Tý (1258),
vua Thái Tông đã cùng Thái Tử Hoảng chỉ huy quân Tần phá tan quân
Nguyên ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thǎng Long.
Trần Thái Tông được sử sách
lưu truyền bởi ông là một nhà Thiền học, một triết gia có những
tư tưởng sâu sắc, một cốt cách độc đáo. Lúc làm vua ông đã thân
chinh đi đánh giặc, xông vào mũi tên hòn đạn, làm vua thì xem thường
vinh hoa phú quý, có thể từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc.
Mùa Xuân nǎm Mậu Ngọ (1258),
Thái Tông nhường ngôi cho Thái Tử Trần Hoảng, triều đình tôn Thái
Tông lên làm Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước. Thái Tông
làm vua được 33 nǎm, làm Thái Thượng Hoàng 19 nǎm thì mất, thọ 60
tuổi.
Trần Thánh Tông
(1258-1278)
Niên hiệu:
- Thiện Long (1258-1272)
- Bảo Phù (1273-1278)
Vua Trần Thái Tông có 6 người
con: Trần Quốc Khang (thực là con của Trần Liễu với Thuận Thiên),
Trần Hoảng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật và các công chúa Thiều
Dương, Thuỵ Bảo.
Mùa xuân nǎm Mậu Ngọ (1258),
Thái tử Hoảng sinh nǎm 1240 lên nối ngôi lấy hiệu là Thánh Tông.
Vua Thánh Tông sống hoà hợp
thân ái với các hoàng thân, vua dốc lòng xây dựng đất nước thái
bình, thịnh trị. Vua quan tâm đến việc giáo hoá dân, khuyến khích
việc học hành, mở những khoa thi chọn người tài và trọng dụng họ.
Dưới thời ông Bộ Đại Việt ký sử, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta,
được Lê Vǎn Hưu hoàn thành nǎm Nhân Thân (1272).
Vua còn quan tâm đến dân nghèo
bằng việc ra lệnh cho các vương hầu, phò mã chiêu tập những người
nghèo đói lưu lạc để khai khẩn ruộng hoang, lập trang hộ. Trang
điền có từ đấy. Vì vậy, trong suốt 21 nǎm làm vua đất nước không
có giặc giã. Nơi nơi dân chúng yên ổn làm ǎn.
Vua Thánh Tông thực hiện chính
sách ngoại giao mềm dẻo, nhưng rất kiên quyết, nhằm bảo vệ danh
dự cho tổ quốc, ngǎn chặn từ xa mọi sự dòm ngó, tạo cớ xâm lược
của nhà Nguyên.
Nǎm Đinh Sửu (1277) Thái thượng
hoàng Trần Thái Tông mất ở phủ Thiên Trường (Tức Mạc. Nǎm sau đó
vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm rồi về phủ
Thiên Trường làm Thái thượng hoàng.
Vua Trần Thánh Tông trị vì
được 21 nǎm, làm Thái thượng hoàng được 13 nǎm thì mất, thọ 51 tuổi.
Trần Nhân Tông
(1279-1293)
Niên hiệu:
- Thiệu Bảo (1279-1284)
- Trùng Hưng (1258-1293)
Vua Trần Thánh Tông có 3 người
con: Thiên Thuỵ công chúa, Thái Tử Khâm và Tả thiên Vương Đức Việp.
Nǎm Kỷ Mão (1279), Thái tử Khâm Sinh nǎm Mậu Ngọ (1258) kế vị ngôi
vua lấy hiệu là Nhân Tông.
Trần Nhân Tông là vị vua anh
minh, quyết đoán được sử sách ca ngợi là vị anh hùng cứu nước. Thời
gian Trần Nhân Tông trị vì, nước Đại Việt đã trải qua những thử
thách ghê gớm, nhưng Triều đại nhà Trần dưới quyền ông quả là một
thời thịnh trị.
Những nǎm đầu cầm quyền, Trần
Nhân Tông đã phải trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống giặc
Nguyên Mông. Ông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông, mở hội nghị quân
sự Bình Than, phân công các tướng lĩnh đi đóng giữ những nơi hiểm
yếu để chuẩn bị đỡ các mũi tiến công của địch (1282). Ông lại cùng
với cha tổ chức hội nghị Diên Hồng (1284) để nhất trí trẻ già một
lòng quyết đánh. Chưa bao giờ tinh thần đánh giặc ở nước ta lại
phát triển mạnh như thế. Quân ta đã đại thắng tại trận Bạch Đằng
(9-4-1288), đè bẹp ý đồ bành trướng của đế quốc Nguyên Mông. Chiến
công này là của toàn dân, của những vị nguyên soái, đại tướng tài
giỏi như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão...
Sau 14 nǎm làm vua Trần Nhân
Tông truyền ngôi cho con là Anh Tông về làm Thái thượng hoàng và
đi tu trở thành thuỷ tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, để lại dấu ấn
sâu sắc trong lịch sử Việt nam. Trần Nhân Tông qua đời nǎm 1308
tại am Ngoạ Vân núi Yên Tử.
Trần Anh Tông
(1293-1314)
Niên hiệu: Hưng Long
Vua Trần Anh Tông có tên thật
là Trần Thuyên được vua cha là Trần Nhân Tông truyền ngôi nǎm 1293
khi Ông 17 tuổi. Tuổi trẻ ham chơi nên ông không để ý đến việc triều
chính chỉ lo lang thang các phố chè chén múa hát. Sau khi bị cha
phát hiện và trách phạt Ông đã thay đổi tính tình trở thành con
người mẫn cán, chǎm chỉ, rất chú trọng việc trị nước an dân. Ông
chú ý giữ gìn bờ cõi, dùng sức mạnh thị uy để những nước láng giềng
không được gây hấn. Ông rất trọng dụng người hiền tài, nghiêm khắc
với những thói bê tha chơi bời quá mức. Dưới triều đại của ông các
quan lại đều rất xứng với chức sắc của mình, đã hoàn thành được
công việc mà lại còn được lưu tiếng tốt: cương trực, thanh liêm.
Anh Tông trị vì 21 nǎm. Ngay
18 tháng 3 nǎm Giáp Dần (1314) nhường ngôi cho con là Minh Tông,
để trở thành thượng hoàng, lúc đó ông 38 tuổi. Nǎm Canh Thân (1320)
Anh Tông mất, thọ 54 tuổi.
Trần Minh Tông
(1314-1329)
Niên hiệu:
- Đại Khánh (1314-1323)
- Khai Thái (1324-1329)
Vua Trần Minh Tông sinh nǎm
1300 có tên là Trần Mạnh con vua Trần Anh Tông và bà Chiêu Hiến
(con gái của Trần Bình Trọng). Vua Minh Tông có lòng nhân hậu ,
hay thương người nhưng xét việc chưa minh. Nǎm Â't Mão (1315) vua
định lệ cấm người trong họ không được kiện cáo nhau. Nǎm Quý Hợi
(1323) mở khoa thi Thái học sinh chọn người tài ra giúp nước. Nhờ
biết tôn trọng kẻ sĩ nên vua Trần Minh Tông đã có dưới trướng mình
những hiền thần như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu,
Nguyễn Trung Ngạn, Chu Vǎn An giúp rập. Tuy nhiên do quá tin vào
bọn nịnh thần, vua đã giết oan Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn, một
người có công, là chú ruột đồng thời là bố vợ mình. Minh Tông làm
vua đến nǎm Kỷ tị (1329) thì nhường ngôi cho Thái tử Vượng về làm
Thái thượng hoàng.
Trần Hiến Tông
(1329-1341)
Niên hiệu: Khai Hưu
Thái tử Vượng con vua Minh
Tông sinh nǎm Kỷ Mùi (1319), mới 10 tuổi lên nối ngôi, hiệu là Hiến
Tông. Hiến Tông trị vì nhưng việc điều khiển triều chính, kể cả
việc dẹp loạn Ngưu Hống ở Đà Giang, đánh quân Ai Lao xâm phạm bờ
cõi đều do Thượng hoàng Minh Tông đảm nhận.
Hiến Tông làm vua đến nǎm Tân
Tị (1341) thì mất, ở ngôi được 13 nǎm thọ 23 tuổi.
Trần Dụ Tông
(1341-1369)
Niên hiệu:
- Thiệu Phong (1341-1357)
- Đại Trị (1358-1369)
Vua Hiến Tông không có con
nên việc truyền ngôi báu do Thượng hoàng xếp đặt. Thượng hoàng Minh
Tông có 7 con trai: Hiến Tông Vượng, Cung Túc vương Dục, Cung Định
vương Trạch, Dụ Tông Hạo, Cung Tĩnh vương Nguyên Trạch, Nghệ Tông
Phủ, Duệ Tông Kính.
Hiến Tông mất, Thượng hoàng
lập người con tên Hạo, sinh nǎm Bính Ngọ (1336) lên làm vua hiệu
là Dụ Tông. Những nǎm đầu những quyền bính đều do Thượng hoàng Minh
Tông điều khiển. Bởi thế, dù có mất mùa dân đói nhưng việc chính
trị vẫn còn nền nếp. Từ nǎm 1358 trở đi, Thượng Hoàng mất, các cựu
thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng không còn, triều
đình bắt đầu rối loạn. Bọn gian thần kéo bè kết đảng lũng đoạn triều
chính. Chu Vǎn An dâng "thất trảm sớ", xin chém 7 gian
thần nhưng vua không nghe, ông liền bỏ quan về dạy học. Vua Dụ Tông
ham chơi bời rượu chè khiến triều đình rối nát loạn nổi lên như
ong. Nhân dân cực khổ trǎm bề. Vua Chiêm là Chế Bồng Nga mấy lần
đem quân đánh phá thành Thắng Long khiến triều Trần nhiều phen khốn
đốn.
Nǎm Kỷ Dậu (1369) vua Dụ Tông
mất thì bão táp đã nổi lên ở cung đình. Nguyên do, Dụ Tông không
có con nên triều đình lập Cung Định vương là anh Dụ Tông lên làm
vua nhưng bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của
Cung Túc vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Nguyên mẹ Nhật Lễ là một
đào hát, lấy một kép hát boịo là Dương Khương có thai rồi mới bỏ
Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh ra Nhật Lễ. Nay lên làm
vua, Nhật Lễ muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần rồi giết bà
Hoàng thái hậu cùng Cung Định Vương. Cung Tĩnh vương vốn nhu nhược
thấy thể bỏ trốn lên mạn Đà Giang.
Trước tình hình nội chính rối
ren, các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt giết Nhật Lễ
rồi rước Cung Tĩnh vương về làm vua, tức vua Trần Nghệ Tông.
Trần Nghệ Tông (1370-1372)
Niên hiệu: Thiệu Khánh
Cung Tĩnh vương sinh nǎm Â't
Sửu (1324) do các tôn thất nhà Trần phò giúp, lên ngôi nǎm Canh
Tuất (1370).
Nghệ Tông lên làm vua chưa
được bao lâu đã phải lao đao chạy giặc. Nguyên do, khi Nhật Lễ bị
giết, mẹ Nhật Lễ chạy vào Chiêm Thành cầu cứu vua Chế Bồng Nga đem
quân đánh Đại Việt. Quân Chiêm vượt bể vào cửa Đại An tiến đánh
Thǎng Long. Quân Trần không chống nổi, phải bỏ kinh thành. Vua Nghệ
Tông chạy sang Đông Ngàn (Đình Bảng, Bắc Ninh).
Vua nhu nhước, bất lực không
điều khiển nổi triều chính phải trao cho Hồ Quý Ly nhiều quyền hành.
Hồ Quý Ly có hai người cô lấy vua Minh Tông. Một người là M inh
Từ hoàng hậu sinh ra vua Duệ Tông, một người là Minh Tử hoàng hậu
sinh ra vua Duệ Tông.
Nǎm Nhâm Tý (1372) Nghệ Tông
truyền gôi cho em là Kính rồi về phủ Thiên Trường làm Thái thượng
hoàng.
Trần Duệ Tông
(1372-1377)
Niên hiệu: Long Khánh
Trần Kính sinh nǎm Đinh Mùi
(1337) lên ngôi lấy hiệu là Duệ Tông, lập em họ Hồ Quý Ly là Lê
Thị làm Hoàng hậu. Duệ Tông quyết đoán hơn nhưng không thể làm được
gì vì quyền bính vẫn do Thượng hoàng Nghệ Tông nắm giữ.
Nǎm Bính Thìn (1376), quân
Chiên sang đánh Hoá Châu (Nghệ An). Thấy Chiêm Thành luôn xâm phạm
bờ cõi Đại Việt, vua Duệ Tông quyết thân chinh đem quân đi trừng
phạt.
Tháng Giêng nǎm Đinh Tỵ (1377)
Duệ Tông tiến quân vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn) đánh lấy đồn Thạch
Kiều và động Kỳ Mang rồi tiến vào Đồ Bàn, kinh đô vua Chiêm. Chế
Bồng Nga lập đồn giữ ở ngoài thành, cho người trá hàng nói Chế Bồng
Nga đã bỏ thành chạy trốn, xin tiến binh ngay. Duệ Tông tưởng thật,
truyền lệnh tiến binh vào thành. Đại tướng Đại Việt là Đỗ Lễ can
mãi vua không nghe. Khi quân Việt đến chân thành Đồ Bàn, quân Chiêm
từ 4 phía đổ ra đánh. Quan quân thua to. Vua Duệ Tông chết trong
đám loạn quân.
Trần Phế Đế
(1377-1388)
Niêu hiệu: Xương Phù
Thượng hoàng Nghệ Tông được
tin vua Duệ Tông chết trận bèn lập con Duệ Tông là Hiền, sinh nǎm
Tân Sửu (1361) lên nối ngôi, hiệu là Phế Đế. Nhưng mọi quyền bính
vẫn do Thượng hoàng nắm giữ.
Ngay sau khi giết được vua
Duệ Tông, Chế Bồng Nga huy động quân Chiêm tiến đánh và cướp phá
Thǎng Long.
Nǎm Mậu Ngọ (1378), quân Chiêm
lại sang đánh Nghệ An, rồi theo sông Đại Hoàng cướp bóc Thǎng Long
lần nữa.
Nǎm Canh Thân (1380) rồi nǎm Nhâm Tuất (1382) quân Chiêm lại xâm
phạm bờ cõi Đại Việt. Nhưng hai lần này chúng bị đánh bại.
Tháng Sáu nǎm Quý Hợi (1383),
vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga lại đem quan tiến đánh Đại Việt. Thượng
hoàng Nghệ Tông sai tướng Mật Ôn ra giữ ở châu Tam Kỳ (Quốc Oai),
nhưng Mật Ôn thua trận bị bắt sống. Thượng hoàng sợ hãi sai Nguyễn
Đa Phương ở lại giữ kinh thành còn mình và vua Phế Đế chạy sang
Đông Ngàn. Có người thấy vậy níu thuyền lại xin Thượng hoàng cứ
ở lại kinh sư mà chống giặc. Nhưng Thượng hoàng không nghe. Lần
nữa quân Chiêm lại tàn phá Thǎng Long.
Trước tình hình quốc chính
rã rời, nhiều tôn thất nhà Trần chỉ lo cho cá nhân mình, xin về
trí sĩ. Trần Nguyên Đán biét trước Hồ Quý Ly sẽ cướp ngôi nhà Trần
bèn kết làm thông gia với họ Hồ, mong cho con cháu được phú quý
và toàn tính mạng. Thượng hoàng Nghệ Tông vẫn hết lòng tin Hồ Quý
Ly trung thành với triều Trần, đã trao cho Quý Ly gươm và cờ đề:
"Vǎn võ toàn tài, quân thần đồng đức". Nhưng vua Phế Đế
đã thấy rõ âm mưu thoán đoạt của Hồ Quý Ly. Vua bàn với các quan
tâm phúc tìm cách trừ khử để tránh hậu hoạ. Hồ Quý Ly biết mưu ấy
đến kêu van với Thượng hoàng:
- Cổ lai chỉ bỏ cháu nuôi con, chứ chưa thấy ai bỏ con nuôi cháu
bao giờ.
Thượng hoàng nghe lời Quý Ly xuống chiếu trách vua Phế Đế trẻ con,
lại có ý làm hại kẻ công thần, làm nguy xã tắc nên giáng xuống làm
Minh Đức đại vương và lập Chiêu Định Vương là con Nghệ Tông lên
nối ngôi.
Thấy Thượng hoàng mê muội,
một số tướng toan đưa quân vào điện cứu vua Phế Đế. Nhưng vua viết
hai chữ "Giải Giáp", ý không muốn trái lệnh Thượng hoàng.
Sau đó vua Phế Đế bị thắt cổ chết, các tướng đồng mưu giết Quý Ly
đều bị sát hại.
Trần Thuận Tông (1388-1398)
Niên hiệu: Quang Thái
Nghệ Tông Thượng hoàng nghe
Quý Ly, giết Phế Đế rồi lập con út của mình là Chiêu Định vương
sinh nǎm Đinh Tỵ (1377) lên làm vua, tức là vua Thuận Tông.
Nǎm Kỷ Tỵ (1389) Chế Bồng Nga
lại đem quân tiến đánh Đại Việt. Vua sai Hồ Quý Ly đem quân cự chiế.
Nhưng Quý Ly thua trận phải rút chạy. Cuối nǎm ấy Chế Bồng Nga lại
tiến vào sông Hoàng Giang để đánh chiếm Thǎng Long. Thượng hoàng
sai đô tướng là Trần Khát Chân đem binh đi chặn giặc. Trần Khát
Chân khóc và lạy rồi ra đi. Thượng hoàng cũng khóc. Xem thế đủ thấy
vua tôi nhà Trần đã khiếp nhược đến cùng cực. Trần Khát Chân đem
binh đóng ở Hải Triều (vùng Hưng Nhân, Thái Bình và Tiên Lữ, Hải
Dương).
Tháng Giêng nǎm Canh Ngọ (1390),
Chế Bồng Nga đi thị sát trận địa của Trần Khát Chân. Trần Khát Chân
hạ lệnh tập trung mọi loại vũ khí bắt vào chiếc thuyền có chở Chế
Bồng Nga. Chế Bồng Nga trúng tên chết.
Trừ xong giặc Chiêm Thành,
Hồ Quý Ly càng thao túng triều đình, những ai không ǎn cánh với
mình, trừ con cái Trần Nguyên Đán, Quý Ly đều xui Thượng hoàng giết
hết.
Tháng Chạp nǎm Giáp Tuất (1394)
Thượng hoàng Nghệ Tông mất, trị vì được 3 nǎm, làm Thái thượng hoàng
27 nǎm, thọ 74 tuổi. Người đương thời cho Nghệ Tông là ông vua "chí
khí đã không có, trí tuệ cũng hèn kém, để cho gian thần lửa đảo,
giết hại cả con cháu họ hàng, xa bỏ những trung thần nghĩa sĩ, cứ
tin dùng một Quý Ly cho được quyền thế đến nỗi làm xiêu đổ cơ nghiệp
nhà Trần".
Nǎm 1397, Quý Ly bắt vua Thuận
Tông phải dời kinh về Tây Đô. Tháng ba nǎm sau, Quý Ly ép vua nhường
ngôi để đi tu. Thuận Tông buộc phải nhường ngôi cho con rồi đi tu.
Thuận Tông buộc phải nhường ngôi cho con rồi đi tu ở cung Bảo Thanh
tại núi Đại Lại (Thanh Hoá).
Trần Thiếu Đế
(1398-1400)
Niên hiệu: Kiến Tân
Hồ Quý Ly bắt vua Thuận tông
nhường ngôi cho Thái tử A'n lúc đó mới có 3 tuổi lên kế nghiệp tức
là vua Thiếu Đế. Hồ Quý Ly tự xưng là Khâm Đức Hưng Liệt đại vương
rồi sai người giết Thuận Tông, con rể mình.
Triều Trần lúc đó có Thái Bảo
Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng quân Trần Khát Chân lập hội tế mưu
trừ Quý Ly. Việc bại lộ Hồ Quý Ly cho giết tất cả 370 người. Sau
đấy, Hồ Quý Ly lại xưng là Quốc Tế Thượng hoàng ở cùng Nhân Thọ,
ra vào dùng nghi vệ Thiên Tử. Đến tháng hai nǎm Canh Thìn (1400)
Hồ Quý Ly bỏ Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua, lật đổ nhà Trần lập nên
nhà Hồ.
Như vậy, triều Trần kể từ Thái
Tông Trần Cảnh đến Trần Thiếu Đế, là 12 ông vua, trị vì được 175
nǎm.
Cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu
suy vì từ vua Dụ Tông và Nghệ Tông. Dụ Tông thì hoang chơi, không
lo đến chính sự, làm loạn cả kỷ cương phép nước làm dân nghèo nước
yếu. Nghệ Tông thì bạc nhược không phân biệt hiền gian để kẻ quyền
thần được thể làm loạn, tự mình nối giáo cho giặc khiến cơ nghiệp
nhà Trần tan vỡ. |