|
Người kỵ mã cầm cờ
vào Thăng Long
Lê Hân là lính kỵ mã trong tiền quân
của Ngô Văn Sở, từng cầm đại kỳ, hộ giá Quang Trung vào Thăng Long
sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.
Thuở thiếu thời, Lê Hân, một cậu bé con nhà nghèo
ở huyện Bình Khê, được một nhà sư ở Thiên Thai tự dạy võ nghệ cho.
Khi tập đánh bộ, khi tập đánh trên ngựa, Hân trở thành một chàng
trai dũng mãnh, những muốn đem tài sức ra cứu dân giúp đời.
Gặp Ngô Văn Sở trên đường đi mộ binh, Hân ứng nghĩa
ngay. Buổi đầu, chưa ai biết đến, Hân chỉ là một giản binh giữa
hàng quân. Về sau, nhờ tài đức hơn người, Hân được cất nhắc làm
đội trưởng, cầm cờ đi đầu khi hành quân hay phất cao trên trận địa
để cổ vũ binh sĩ xông lên.
Đại kỳ của tướng Tây Sơn hình vuông, mỗi bề hai mét,
giữa có màu đào, thêu tên chủ tướng, quanh viền tua xanh đính chặt
các móc câu sắc, khi cần, có thể thành vũ khí phất ngang, làm sát
thương quân địch.
Người lính cầm cờ phải rất khỏe, can đảm, giỏi võ
nghệ, để giữ chắc lá cờ khi xông trận. Vì giữ được cờ là giữ vững
tinh thần quân sĩ, bị địch chém gãy cờ là báo điềm vỡ trận. Vì thế
Ngô Văn Sở mới giao cho Lê Hân giữ đại kỳ.
Mỗi lần ra trận, ông ngồi trên một chiến mã, tay
cầm chắc cán cờ bằng gỗ trắc, sườn đeo trường kiếm, lưng mang hỏa
hổ để ứng phó khi cần. Tay cờ, tay kiếm, Hân không ngại khi đánh
giáp mặt với kẻ thù. Cuộc đời chiến đấu của Lê Hân đã gắn với ngọn
cờ đào của nghĩa quân Tây Sơn như vậy.
Mùa đông năm 1773, sau khi lấy được phủ Quy Nhơn,
Tây Sơn Vương cử Ngô Văn Sở làm Chinh Nam Đại Tướng quân, đem binh
vào đánh chiếm ba phủ: Phú Yên, Diên Khánh và Bình Thuận. Các tướng
giữ thành của chúa Nguyễn kẻ đầu hàng kẻ tử trận. Lê Hân ngồi trên
mình ngựa, giương cao cờ dẫn đoàn quân chiến thắng làm chủ hết thành
này đến thành khác, trong tiếng reo hòa vang dội của nhân dân.
Vinh quang nhất là giữa trưa ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu,
Lê Hân hiên ngang giương cao lá cờ đào, đi đầu đội tiền quân, hộ
giá vua Quang Trung vào thành Thăng Long sau chiến thắng Ngọc Hồi
- Đống Đa.
Đi sau đoàn kỵ binh của ông là hàng trăm thớt voi
mang súng cự thuần trên lưng. Đầu các quản tượng và nòng súng đều
quấn dải lụa điều mừng chiến thắng.
Vua Quang Trung ngồi trên bành voi, áo bào đỏ và
khăn vàng xạm đen khói súng, vẫy tay chào trăm họ đang hân hoan
ra đón bên vệ đường.
Sau chiến thắng, vua trở về Phú Xuân, Lê Hân ở lại
Bắc Thành cùng chủ soái. Từ một người lính kỵ mã cầm cờ tiền quân,
ông trở thành một tỳ tướng thân cận của Ngô Văn Sở.
Tới triều Cảnh Thịnh, chủ soái bị hại, ông chán ngán,
lấy lý do đau yếu và xin về quê, nhưng không được chấp thuận.
Triều Tây Sơn sụp đổ, ông trốn thoát khỏi vùng truy
lùng của nhà Nguyễn, băng rừng núi trở về vùng Tây Sơn Thượng, mai
danh ẩn tích, sống cùng đồng bào Ba Na quen biết từ hồi dấy nghĩa.
Tới thời Minh Mệnh, lúc đã gần 80 tuổi, lệnh truy
lùng quan quân nhà Tây Sơn đã lắng dịu, ông mới lặng lẽ về quê,
sống trong đùm bọc, chở che của họ hàng, làng xóm.
Nguồn Bình Định |