|
Nha Trang:
Tứ Thú Tụ - Tứ Thủy Triều Quy
Huỳnh
Tấn Ðức
Thành phố Nha Trang được bao quanh bởi
những dòng nước nên khí hậu trở nên dễ chịu, tươi mát, mặc dù cái
nắng khắc nghiệt của vùng nhiệt đới ngự trị trên thành phố này.
Hai phái Nam và Bắc của con sông Nha Trang, phái chảy vào Cửa Bé,
phái chảy xuống Cửa Lớn, ôm choàng cuộc đất mà phía Đông là biển
lớn Thái Bình Dương, nên gọi là Tứ Thủy Triều Quy.

Tỉnh Khánh Hòa có hình dáng chiếc lọng nhìn theo hướng Đông-Tây
Rồi mượn bốn hòn núi ở ngay trong thành phố tượng
hình thành bốn con thú tụ họp lại để giữ anh khí, nên gọi là Tứ
Thú Tụ. Những hòn núi này là:
1. HÒN TRẠI THỦY
Là một hòn độc sơn, nằm ngay ở địa đầu thành phố
Nha Trang về hướng Tây. Núi cao hơn 30 mét, dài hơn 500 mét, chạy
dọc theo Quốc Lộ 1 ở phía Bắc khi con đường Cải Lộ Tuyến (nơi ngã
Ba Thành chưa hoàn thành).
Hình thù ngọn núi Trại Thủy giống một con Dơi, nằm
sè đôi cánh, đầu hướng về Tây-Nam. Cổ nhân gọi là "Ngọc Bức
Hàm Hòan" (Dơi ngọc ngậm vòng ngọc) vì trưóc núi, tại 'đầu
Dơi' có một bầu nước hình tròn như nguyệt nhưng ngày nay bị lấp
mất, dân chúng cất nhà trên bầu nước này và không còn nhận ra hình
dạng của nó nữa.

Thành phố Nha Trang (xanh lá cây)
- Minh đường có thất diệu
gồm đảo Hòn Tre (hình voi chầu)
và các đảo nhỏ.
Triền phía sau toàn đá hoa cương và dốc ngược: giáp
Đình Phương Sài, chạy dài lên tận đường rầy xe lửa xóm Lò Vôi (Ngọc
Hội).
Triền phía trước hơi lài lài, cũng bằng đá hoa cương nhưng có lẫn
đất điệp. Phía dưới có một khoảng đất rộng, dân đến chiếm xây nhà
lập nghiệp, gọi là đất Bà Ngô Đình Nhu, đối diện công trường Trịnh
Minh Thế và nhà Ga Thành Phố, với những hàng me xanh tươi.
Trên núi không có cây cổ thụ, không có bàn thạch nhưng do sự chiếm
cứ của dân nên có trồng những cây ăn trái như mít, mận, xoài, chùm
ruột, cốc.. và từ xa nhìn đến thấy cả một màu xanh đang trở mình
đầy sinh động .
Trên lưng núi cũng tạo thành một con đường mòn, chạy dài từ đầu
tới đuôi của hòn núi. Nơi đây một Kim Thân Phật Tổ được xây cất,
rất đồ sộ.
Núi Trại Thủy thường gọi là Hòn Xưởng. Tên chính thức đã được 'trước
bạ' trong sách vở là Khố Sơn, tục danh Hòn Kho.
Đại Nam Nhất Thống Chí chép:
"Khố Sơn ở phía Đông huyện Vĩnh Xương độ hai dặm. Phía Đông
Nam có nền cũ kho Phước Sơn nên đặt như thế. Phía Bắc gần sông Ngu
Trường. Năm Ất Mão đầu lúc Trung Hưng (1795) đại binh đánh phá tướng
Tây Sơn là Trần Quang Diệu ở bảo Khố Sơn tức là chỗ này. Trên núi
có đền Quan Công và miếu Ngũ Hành."

Kim thân Phật Tổ trên Hòn Trại
Thủy
Ly sở Vĩnh Xương trước kia đóng ở Phú Vinh, nên sách nói "Khố
Sơn nằm ở phía Đông ". Và kho Phước Sơn là kho chứa lương thực
từ thời Chúa Nguyễn.
Nhà Tây Sơn chiến thắng chúa Nguyễn, lập xưởng đóng thuyền bè tại
Hòn Kho. Từ ấy núi mang tên "Hòn Xưởng."
Sau khi lấy lại được Diên Khánh, Nguyễn Phúc Ánh lập trại nơi Hòn
Xưởng, gần bến Trường Cá (tức Phương Sài) để thuỷ binh đóng giữ
mặt biển. Người địa phương bèn gọi là Hòn Trại Thủy.
Sang thời Pháp thuộc, tên Trại Thủy được ghi trên các bàn địa đồ
và trên giấy tờ của Chính Phủ.
Hòn Trại Thủy đứng giữa đất bằng, nhiều người tưởng là một hòn núi
độc lập. Nhưng theo các nhà địa lý học thì núi thuộc hệ thống vùng
núi Cao Nguyên. Và các nhà Phong Thủy, tục gọi là Thầy Địa, cho
biết rằng đó là Trấn Thủy Khẩu của dãy núi phía Tây Diên Khánh.
Long mạch phát từ Hòn Thị (ở Bình Khánh, Diên Khánh),
chạy ngầm dưới đất đến gần cửa sông Cù thì đột khởi làm cột trụ
giữ anh khí cho cuộc đất Diên Khánh, Vĩnh Xương. Và thành Diên Khánh
lấy Hòn Thị ở phía Tây làm hữu bậc, lấy Hòn Trại Thủy ở phía Đông
làm tả bậc. Vì vậy, về mặt phong thủy, hòn Trại Thủy là hòn núi
quan trọng tỉnh Khánh Hòa .
Và trông thấy Hòn Trại Thủy có vẽ hiền lành, mấy ai ngờ rằng trước
kia đã xãy ra nhiều cuộc quyết chiến ngay dưới chân núi. Đó là những
trận đánh ác liệt giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn năm Quí Sửu (1793)
và năm Giáp Dần (1795) tại bến Trường Cá. Và năm Ất Dậu (1885) Nghĩa
Quân Cần Vương đã dùng nơi đây làm căn cứ chống Pháp.
Ngày nay, hòn Trại Thủy được trở thành một danh lam thắng cảnh nổi
tiếng với năm ngôi Chùa đồ sộ với chứng tích lịch sử của thời kỳ
hưng thịnh Phật Giáo Việt-Nam, như sau :
Chùa Hải Đức: Xưa kia Chùa nằm phía trên chùa Hội
Phước. Được xây đựng trên đỉnh núi, nhánh phía Tây, do ngài Viên
Giác Thiền Sư, pháp danh Đạt Khương, tục danh Tô Văn Danh, quê quán
làng Vạn Thạnh (Nhatrang), trụ trì từ năm Tự Đức (1847-1883).

Chùa Hải Đức
Ban đầu đặt tên là Duyên Sanh Tự. Đến năm Thành Thái
thứ ba (1891), mới đổi tên là Hải Đức Tự. Hiện nay là một Đại Tòng
Lâm, để tăng chúng khắp nước tụ họp về đây tu học, tham thiền nên
chùa được xây dựng đầy đủ tiện nghi như một Phật Học.
Viện có Tăng phòng, tịnh thất..Phía sau lưng chùa
có xây một tiểu đình để treo một Đại Hồng Chung, cao 1,70 mét, đường
kính 1,10 mét, nặng 1009 Kg. Tiếng chuông ngân rất xa, đã gây cảm
hứng cho nhiều nhà thơ, nhà văn mộ đạo hay báo hiệu giờ giấc sớm
chiều cho người dân sống quanh ngọn núi nhỏ này mà bài thơ sau đây
cũng diễn tả một bức tranh Thiền sinh động:
"Sương xuống hồi chuông lặng
Dư âm tràn hư không
Lững lơ vàng gợn sóng
Trăng hồ Thu mênh mông "
Ngài Viên Giác Thiền Sư viên tịch, các môn đệ kế tiếp nhau trụ trì
:
-Chánh Niệm Đại Sư , húy Chơn Minh.
-Nhân Thụy giáo thọ, húy Như Khánh.
-Phước Huệ hòa thượng,húy Ngộ Tánh.
Phước Huệ hòa thượng, tục danh là Nguyễn Hưng Long, người Quảng
Trị, được Viên Giác thiền sư thọ ký lúc 16 tuổi (1890). Năm 20 tuổi,
phải bái biệt bổn sư về quê hương lo báo hiếu cho thân phụ. Rồi
vào Huế tu hành. Mãi đến 15 năm sau mới trở lại Nha Trang. Vào lúc
này chùa Hải Đức bị hư dột vì lâu đời, Hòa thượng ra công sửa chữa
và khôi phục được quang cảnh ngày xưa.

Gác chuông chùa Hải Đức
Năm 1956, Hòa thượng cùng ban Hộ Tự chùa cúng dường
chùa và bất động sản liên hệ cho Phật Giáo Trung Phần để thành lập
Phật Học Viện Trung Phần và ủy quyền Thượng Tọa Thích Trí Thủ làm
Giám Viện, thay mặt toàn ban điều khiển mọi sinh hoạt của Viện.
Viện lại có một quả hồng chung, chú tạo năm 1961,kích
thước phỏng theo quả hồng chung chùa Thiên Mụ ở Huế. Cao 1,70 mét,
đường kính 1,10 mét, nặng hơn 1000 kg. Chuông treo nơi Tiểu Đình
phía sau chùa Hải Đức, nơi dốc lên Tịnh Thất. Rồi tuổi già sức yếu,
việc đi lại khó khăn, năm Bảo Đại thứ 14 (1938), Hòa thượng bèn
giao nhiệm vụ trụ trì chùa cho Bích Không Đại Sư.
Bích Không Đại Sư, pháp danh Trừng Đàn, tục danh Hoàng Hữu Đàng,
quê quán Quảng Trị. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Đậu
Tú Tài năm Mậu Ngọ(1918). Đắc pháp Đại Sư năm Ất Hợi (1935) trong
giới đàn chùa Sắc tứ Tịnh Quang tỉnh Quảng Trị do Hòa Thượng Phước
Huệ làm đàn đầu truyền giới. Nguyên Đại Sư là trụ trì chùa Giác
Phong tỉnh Quảng Trị, nên cũng gọi là Giác Phong Đại Sư .
Rồi trải bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cực nhọc, Đại Sư mới trưng
đất mới dỡ được non, nới rộng đất trên núi Trại Thuỷ và khởi công
từ đầu năm Quí Mùi (1943) đến đầu năm Ất Dậu (1945) mới cáo thành
ngôi chùa Hải Đức to lớn nhất, đẹp đẽ nhất.
Nhưng chùa chưa kịp lạc thành thì gặp quốc biến
năm ẤtDậu (1945), Đại Sư di cư về Huế, Quảng Trị, Nghệ An. Và năm
1954, ngài thị tịch tại Nam Đàn (Nghệ An). Ngày nay tại chùa vẫn
còn bút tích của Đại Sư được khắc chạm trên vách, trên cột mà mưa
nắng vẫn còn nguyên .
Có thể nói một cách mạnh dạn rằng đó là những tuyệt phẩm của Thiền
Môn Khánh-Hòa.
Nơi hàng cột ở chánh điện, có ba câu đối liên.
Câu chính giữa :
Hải thuỷ trừng thanh vạn tượng tề hiện;
Đức hương ôn nhã nhất thiết mông huân .
Câu kế :
Hạnh thảo tác thân mao đoan hiện sát;
Vi phong thuyết pháp ngoạn thạch điểm đầu .
Câu hai bên :
Kim Sơn Long Sơn tại kỳ tả hữu:
Nha Hải Phước Hải bổn bất khứ lai.
Nơi vách mái hiên ngó ra sân, mỗi vách khắc bốn đại tự, mỗi bề rộng
đến bốn tấc Tây.
Bốn chữ vách tả ( vách phía Đông ):
TRÚ BÌNH ĐẲNG HỘI
Bốn chữ nơi vách hữu ( vách phía Tây ):
TÁC NHƯ THỊ QUÁN
Nơi lầu chuông ở phía Đông khắc 8 chữ:
PHỔ ĐOẠN SANH TỬ, HƯỞNG BIẾN HÀ SA .
Ý nghĩa thâm viễn. Phải thấm đạo lý của Đức Phật, mới thưởng thức
nổi những cái hay cái đẹp dưới những nét thanh lão của ngọn bút
tài ba đã đượm nhuần giáo lý Đại Thừa .
Chùa Bửu Phong: cũng ở trên đồi Trại Thủy, nơi
đầu nhánh phía Nam, cạnh đường quốc lộ 1 (nay là mộ con lộ rộng
thêng thang chảy từ Thành xuống thành phố), đứng tai nơi ngã ba
vào xóm Xưởng nhìn lên không thấy Chùa vì bị những lùm cây che khuất
.
Chùa này do người Trung Hoa lập, từ đời Hậu Lê.Trong chùa hiện còn
một quả Đại Hồng Chung, có khắc tên chùa"Bửu Phong Tự"
và năm chú tạo "Tuế Thứ Quí Dậu Niên Tứ Nguyệt Cát Nhật "
tức là năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753).
Chùa thờ Quan Thánh: tức Quan Vân Trường đời Tam
Quốc.
Lâu đời không có người phụng tự, chùa trở thành chùa làng (làng
Phước Hải). Làng vẫn thờ ngài Quan Thánh nhưng gian bên thờ thêm
Bà Chúa Ngọc Thiên Y-A-NA. Người địa phương thường gọi là Chùa Núi.
Dưới triều Bảo Đại (1925-1945) khi phong trào chấn hưng Phật Giáo
phát động trong nước, làng Phước Hải hưởng ứng, cải chùa thờ Thánh
thành chùa thờ Phật. Sau khi chùa Linh Phong trên Xuân Phong bị
cháy và dời xuống Xuân Lạc đổi tên là Liên Hoa, thì có người được
tấm biển "Linh Phong Cổ Tự" đem cúng cho chùa Bửu Phong,
chùa giữ làm kỷ niệm.
Rồi chiến tranh bùng nổ, các chùa cũng lâm vào hòan cảnh khó khăn.
Sau ngày đình chiến 1954, một nhà sư ở Huế vào trụ trì chùa, thấy
tấm biển "Linh Phong Cổ Tự" nơi chùa, đinh ninh là tên
chùa. Khi tu bổ lại chùa, bèn đắp trước hiên, khắc trước ngõ bốn
chữ "LINH PHONG CỔ TỰ". Từ ấy chùa Bửu Phong là Linh Phong.
Nếu không có quả Đại Hồng Chung không ai biết đến chùa có tên là
Bửu Phong .
Chùa cất theo kiểu trùng thiềm. Cây gỗ tốt. Song vì đã quá lâu đời
mái đã quằn, cột đã xiêu. Đường lên chùa dốc thẳng đứng, các bậc
đá gập gềnh lỏng chỏng, bị vỡ hay mất đi khá nhiều làm cho việc
di chuyển lên xuống khó khăn, tạo cho cảnh trí thêm hoang vắng,khiến
cho khách vãng cảnh cảm thấy e ngại .
Hòn Trại Thủy hình giống con Dơi nằm sè đôi cánh, đầu hướng về phía
Tây Nam.
Chùa Bửu Phong đứng trên đầu con Dơi phía hai bên
tả hữu bị thân Dơi và hai cánh che khuất chân mây, song phía trước
nào núi nào đồng, nào xóm làng, nào phố xá, dường xe lửa..sống động
nhưng không ồn ào. Nếu Chùa Bửu Phong làm mặt bằng tốt để xây một
ngọn Tháp nhiều tầng như ở Thái Lan, Cao Mên hay như ngọn Tháp Thiên
Mụ thì phong cảnh hòn Trại Thủy nói riêng, phong cảnh thành phố
Nha Trang nói chung, sẽ nổi tiếng và tăng phần mỹ quang cho thành
phố du lịch trong thế kỷ 21 này.
Chùa Long Sơn: Chùa nằm dưói chân hòn Trại Thủy,
mặt hướng về Nam-Đông. Chùa Long Sơn trước có tên là Đăng Long Tự,
còn gọi là Chùa Tỉnh Hội Khánh Hòa, được xây dựng trên núi vào năm
1886 do Hòa thượng Thích Ngộ Chí (1856-1935) trụ trì, là người huyện
Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa. Năm Canh Tý (1900), sau một trận bão
lớn, chùa phải dời từ trên núi xuống vị trí hiện nay.

Chùa Long Sơn
Năm 1936 , chùa được Hội Phật Học chọn làm trụ sở
Phật Giáo Tỉnh Khánh Hòa. Năm 1940,chùa được trùng tu do công lao
của toàn thể tín đồ trong tỉnh. Năm 1968 , chùa phải sửa chữa lại.
Năm 1971-1975,Thượng Tọa Thích Thiện Bình đứng ra lo trùng tu chùa,
việc trùng tu mới này thực hiện được 60% theo họa đồ của Kiến Trúc
Sư Võ Đình Hiệp. Chùa kiến trúc theo kiểu tân thời, có tánh chất
Đông Phương. Nhưng ở vị trí tốt, được cất trên một trảng đất cao,
rộng nhìn ra đường quốc lộ 1.
Trước chùa có nhiều cây lớn và hàng dừa chạy dài
từ Tây sang Đông che mát cho ngôi trường Trung Học Bồ Đề, đây chính
cũng là sự thuận lơi cho du khách viếng thăm Chùa trong những ngày
Đại Lễ như lễ Phật Đản, Vu Lan hay ngày Tết (Vía Đức Phật Di-Lặc
) để nghe thuyết pháp, cầu nguyện. Tuy gần đường xe hơi xuống lên
từ Thành đến thành phố, chùa vẫn giữ được vẽ thanh tịnh, trang nghiêm.
Trong các danh lam thắng cảnh ở Khánh Hòa, chùa được
nhiều du khách thường lui tới thăm viếng nhiều nhất. Muốn đi lên
thăm kim thân Phật Tổ, chúng ta cũng có thể dùng con đường sau lưng
chùa đi lên rất là gần nhưng con đường bằng đá hoa cương quá hẹp
nên vào những ngày Lễ thì chỉ còn cách chen nhau, kẻ tránh người
né làm cho cảnh trí ồn ào, náo nhiệt khiến cho mọi người cảm thấy
bồn chồn, thích thú mất cái mỏi gối, đau chân-nam thanh nữ tú lòng
thấy rộn rã như những cây xanh đang đâm chồi nẩy lộc vào những ngày
Xuân lên viếng chùa. Ngày nay trước sân chùa có xây thêm một ngôi
nhà bán các vật kỷ niệm và kinh sách Phật .
Từ khi thành lập đến nay, chùa do các nhà sư sau đây trụ trì: Hòa
Thượng Thích Ngộ Chí (1886-1935), Thượng Tọa Thích Chánh Hóa (1936-1957),
Thượng Tọa Thích Chí Tín (1957 về sau).
Sau lưng trên đồi Trại Thủy, ở lưng đồi có kiến tạo một Kim Thân
Phật Tổ với chiều cao từ mặt bằng lên 24 m, từ đế lên 21m , phần
tượng cao 14 m, đài sen 7m, đường kính đài sen 10 m,. Xung quanh
đài là hình bảy vị Thánh tử vì đạo. Trước Phật đài có cặp rồng,
chiều dài 7,20 m. Việc đúc tượng khởi công vào năm 1964,hoàn thành
năm 1965 do Hòa Thượng Thích Đức Minh, lúc đó là Hội Trưởng Tỉnh
Hội Phật Giáo Khánh Hòa và điêu khắc gia Kim Điền thực hiện .
Chùa Tỉnh Đức: nằm tọa lạc ở triền núi phía Đông,
hướng về đường Trần Quý Cáp và công trường Trịnh Minh Thế, đi lên
chùa từ con đường nhỏ từ bên hông ngôi nhà bán vật liệu xây dựng
đối điện với cây xăng Mã Vòng. Ngôi chùa này do các Sư cô thành
lập để tu tập và dân địa phương thường gọi là Chùa Nữ. Chùa được
xây cất theo lối tân thời không có gì đặc sắc.
Lôi Am Tự: Tọa lạc ở phần cuối của hòn Trại Thủy,
hướng về phía Đông, nằm phía trước bồn chứa nước thành phố và kim
thân Phật Tổ. Chùa Lôi Am do Phật Hội Pháp Hoa Việt Nam xây dựng
từng phần vào năm 1966. Hội Pháp Hoa được một vị Giáo Chủ đã chứng
quả vị Tuyệt- Đối, hướng dẫn cho mọi người tu theo con đường Nhất
Thừa của đạo Phật, được giải thoát trong kiếp hiện tại.
Vào những năm đầu, hội Pháp Hoa xây một hội trường để Đạo Chúng
có nơi sinh hoạt với đầy đủ tiện nghi nào là nhà trù, bếp, nhà vệ
sinh... tiếp đến là xây dựng khu thiền thất phía sau chùa với hai
hàng cốc dành cho thiền sinh khắp các tỉnh trên toàn quốc về đây
tu học và tham thiền. Sau đó xây đựng một cốc Biệt Giáo và cốc Vô
Ưu.
Bên phải Chùa phần đất được nới rộng và tạo dựng
khu Quán Không Thiền Viện dành riêng cho phái nữ đã xuất gia.
Như thế, hàng đêm đạo chúng bao gồm mọi giới như
giáo sư, sinh viên, học sinh, công chức, dân lao động, nông dân...
từ dưới thành phố hay các vùng phụ cận như Thành, Cam Ranh, Cầu
Đá hay các tỉnh trong nước về đây để nghe thuyết pháp, học giáo
lý, tham thiền, sinh hoạt.
Từ ngày đặt viên đá đầu tiên năm 1967, Chùa tiến
hành xây cất được phần hậu diện Chùa và cột cờ, riêng phần cổng
Tứ Quán được thay thế tạm bằng cổng Tam Quan. Thiết kế Chùa được
các nhà thầu khoán Giáo sư Nguyễn Hữu Dưỡng, Huỳnh Ngọc Điển … thi
công với sự dạy vẽ của Giáo Chủ Pháp Hoa .
Chùa được các vị Huynh trông nôm như Huynh Như Trí, Huynh Pháp Hư
(G/S Hồ Viết Đốc ) và sau cùng là Huynh Pháp Doãn. Khi Cộng Sản
tiến chiếm miền Nam với chánh sách tiêu diệt tôn giáo, chùa Lôi
Am bị gài vào tội chống phá lại chế độ nên trong một đêm cuối năm
1975, công an đột nhập vào chùa tịch thu tất cả tài sản và tiến
hành đập phá chùa, nay chùa chỉ còn lại cổng Tam Quan nơi triền
dốc.
Và trong chùa vẫn còn hai nấm mộ cuả người Hời hay
Chàm chôn từ lúc nơi đây là quốc gia cũa họ. Muốn lên chùa, có thể
đi bằng hai ngã đường: Đường từ Phương Sài, chéo góc nhà hộ sanh
Bác sĩ Tý, đi vào xóm lao động thuộc đất bà Ngô Đình Nhu; ngã thứ
hai là bên đường Trần Quý Cáp, bên hông đồn Quân Cảnh cùng với lối
đi lên chùa Tịnh Đức, đi dọc theo triền núi. Cả hai ngã đều qui
về cổng Tam Quan "Lôi Am Tự".
Chùa Lôi Am tọa lạc ở vị trí của cánh phải, chân phải của con Dơi,
nên khi đào hồ chứa nước Quán Không Thiền Viện đã làm thương tích
long mạch.
Muốn nhìn toàn diện thành phố Nha Trang chỉ có vị trí Chùa Lội Am
ta mới ngắm được toàn cảnh từ Bắc (Tháp Bà, Dòng La San, Xóm Bóng,
Cồn Dê, Hộ, Xóm Lò Vôi..) kéo dài về biển Đông (hòn Én, hòn Tre,
đường Duy Tân , Bãi biển, Cầu Đá) băng qua phía Nam (cửa Bé, núi
Đồng Bò , khu Phước Hải).
Chính vì thế vào năm Mậu Thân 1968, Cộng quân đã
chiếm vị trí này để đóng bộ chỉ huy tiện việc điều động quân đánh
chiếm thành phố nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng đánh gía tầm
quan trọng của vị trí này và cho phi cơ trực thăng phóng pháo ngay
vào chổ này tiêu diệt ngay bộ đầu não Cộng quân từ lúc đầu cuộc
tấn công vào ngày mồng 1 Tết Mậu Thân.
Từ một khu đất hoang nay đã khang trang với các loại cây ăn trái
trồng khắp chùa , nào là mận, ổi, mít, cốc, chùm ruột, chuối, mãn
cầu …làm cho mảnh đất trở nên có sinh khí nhưng bây giờ đã hoang
tàn bởi do một chế độ khắc nghiệt, phá hoại; lại thêm phần không
có nước và người chăm sóc vì thế chỉ là chổ dung thân của những
kẻ không nhà và nghiện ngập sau một ngày lang thang khắp phố trở
về đây dung thân tránh mưa dưới mái chùa hoang này.
2 . HÒN HOA-SƠN
Tục gọi là Núi Một, ở quận Nha Trang Tây (nay đổi
thành phường Phước Tiến và Phước Tân). Đi vào thành phố bằng con
đường Gia-Long (nay là Thái Nguyên), qua Mã Vòng, đến nhà Ga Xe
Lửa và gặp ngay Ngã Sáu-nhìn bên phải thấy một giáo đường to lớn,
đồ sộ,uy nghi chọc thẳng lên trời và được xây trên một hòn núi nhỏ,
đây chính là hòn Hoa Sơn.

Nhà thờ Chánh Tòa trên núi Hoa Sơn
Nguyên thủy lúc ban sơ, hòn núi này
không bị cắt thành hai cụm núi nhỏ, nó trông giống con Rùa vì phần
núi nhỏ hướng ra biển Đông như "đầu Rùa", trên có ngọn
cổ Tháp nhỏ; phần núi lớn hướng về phía Tây là 'thân Rùa' , nên
gọi là "Kim Qui đới Tháp", nghĩa là Rùa Vàng đội tháp
.
Vào thời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786), một vị Thiền
Sư, pháp danh Phật An đến cất một am tranh tu khổ hạnh trên hòn
Núi Một-Năm Bình Ngọ 1786, vị Thiền Sư thiết hóa trà tỳ (tự hỏa
tán), đệ tử thâu xá lợi, xây Liên Hoa tháp thờ phụng ở trên đầu
hòn núi Một.
Khi người Pháp chiếm cứ tỉnh Khánh Hòa, núi Hoa Sơn chỉ có một ngọn
cổ tháp của Thiền Sư Phật An và nơi 'cổ Rùa' người ta khai phá một
con đường mòn đi qua vùng Phước Hải-Đồng Bò để kiếm củi, đốt than,
bắt cá hay đi chặt những nhánh mai vào dịp gần Tết, vì đây là một
động mai vàng tuyệt đẹp, được khen qua những vần thơ:
Mã Vòng đêm trắng, ma trêu nguyệt,
Phước Hải rừng mai, cọp thưởng Xuân .
Hay:
Biển Én sóng vờn trăng thúy liễu,
Đồng Bò hương thoảng gió hoàng mai.
Khi đất nước chia đôi, dân miền Bắc di cư vào Nam, thành phố Nha
Trang cũng đã tiếp nhận một số khá đông đồng bào miền Bắc và họ
đã định cư tại khu Xóm Mới -Phước Hải vì thế thành phố nới rộng
ra và phát triển mạnh và con đường mòn qua cổ Rùa trở thành con
đường Phước Hải (nay là Nguyễn Trãi) với chiều rộng 8 mét, hai bên
đường nhà cửa mọc lên như nấm và từ đấy hòn Hoa Sơn bị cắt hẳn thành
hai phần rỏ rệt, khu rừng mai Phước Hải cũng mất luôn với những
cây xương rồng trổ hoa màu đỏ khi hè về, nay thì dân chen chúc nhau
mà sống .
Riêng ngôi giáo đường trên phần núi còn lại vẫn như ngày nào. Vào
năm 1930-1935, một nhà truyền giáo người Pháp tên là Vallet, kiến
lập ngôi giáo đường này. Nhà thờ kiến trúc không giống như những
giáo đường trong nước và đặt tên là Nhà Thờ Chánh Tòa Nhatrang,
dân địa phương gọi là nhà thờ ông Cố hay nhà thờ Núi.
Nhà thờ vừa cổ kính, trang nghiêm-vừa tân kỳ vì vật
liệu xây dựng toàn là xi măng với những kính đủ màu lắp trên các
cửa sổ, vách khi ánh sáng mặt trời vừa hừng đông chiếu vào tạo thành
nhiều màu sắc rực rỡ, đẹp lạ thường, kỳ ảo ẩn hiện những bức tranh
có tánh cách tôn giáo và đứng chắc trên một đầu non, với bộ áo xám
tro, hình tướng trông nửa như khiêm nhường, nửa ngạo nghễ.
Đi lên nhà thờ chúng ta có thể dùng hai lối đi: một
con đường bằng đá hoa cương chạy từ dưới ngã Sáu chạy men theo triền
núi phía Nam lên tận sân giáo đường với chiều rộng khoảng 8 mét,
có thể dùng xe hơi lên cũng được và một con đường khác bên hông
trường Hưng Đạo (đường Gia Long) ta phải đi bằng chân với những
bậc cấp xi măng . Phía bên trái nhà thờ có xây một hang đá "Tiểu
Vương Cung" thờ Đức Mẹ Maria, được che mát bởi cây đa lớn nhiều
lá.
Lầu chuông cao ngất!
Lên đứng nơi gác chuông nhìn bốn mặt, thì vọng cảnh trùm cả toàn
diện thành phố Nha Trang. Trông tới ngó lui,nước non, nhà cửa, nơi
gần nơi xa, nơi ẩn nơi hiện, khoái con mắt, hả tấm lòng, nhiều khi
tưởng mình đương đứng nơi trung tâm điểm của một vùng đất giàu sang
trù phú với biển xanh, núi cao, đồng bằng với hòn non bộ nhỏ này.
Tiếng chuông làm cho ta thức tỉnh nhưng xung quanh tháp chuông có
gắn bốn cái đồng hồ to thường báo hiệu giờ giấc cho mọi người trong
thành phố sớm hôm đi làm .
3. NÚI CẢNH LONG
Núi Cảnh Long ở Chụt, là Con Rồng.
Cảnh là bờ cõi - Long là tốt, thịnh. Không hiểu cổ nhân thủ nghĩa
ra sao, có người hỏi cụ cử Phan Bá Vỹ làm ký lục Tòa Sứ Nha Trang
thời tiền chiến, cụ đáp :
"Có lẽ ông cha chúng ta biết trước rằng thế nào vua ta cùng
các quan bảo hộ cũng đến cất dinh thự để làm nơi thừa lương nên
mới đạt tên là nuí Cảnh Long. Hình núi chạy dài theo bờ biển, giống
như một con Rồng xanh. Cổ nhân gọi là "Thanh Long hý thủy"
tức là Rồng xanh giỡn nước."

Núi Cảnh Long và Cầu Đá
Con đường Duy Tân (nay là đường Trần Phú) chạy ngang
qua phi trường Nha Trang và Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, rồi
đến Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, chạy đến tận Chụt, con đường
đổi thành tên là Đường Tự Do và vượt qua một dốc nhỏ, thấy ngay
Cảng Cầu Đá và Hải Học Viện bên tay trái.
Chính con dốc này cắt ngọn núi Cảnh Long thành hai
phần: một phần nhìn ra biển, gọi là "đầu Rồng "; phần
còn lại chạy dài đến tận cửa Bé, gọi là "mình Rồng". Ngoài
ra còn có một con đường piste chạy vòng theo từ sườn phía Đông cho
đến Cửa Bé (cảng cá Vĩnh Trường), chạy vòng lên sườn phía Tây, để
xuống đất bằng trở về Chụt, đường này có thể gọi là "đường
vòng mỹ cảnh". Ngoạn mục nhất là đơạn đường chạy ra biển. Nằm
trên lưng chừng núi, đường khi lên khi xuống, uốn éo quanh co, như
con rắn bò quanh hòn non bộ.
Trên đầu núi về phía Cầu Đá có lầu Bảo Đại và nhiều dinh thự của
người Pháp xây vào thời Pháp thuộc. Hiện nay cũng là nơi nghĩ mát
của các vị lãnh đạo Trung Ương, đồng thời cũng mở cửa cho du khách
vào thăm viếng coi như là nhà bảo tàng của thành phố.

Đường Duy Tân đi lên núi Cảnh
Long
Bên dưới "đầu Rồng" sát chân núi là viện Hải Dương Học,
do phủ Toàn Quyền Đông-Dương xây dựng năm 1927 và bàn giao lại cho
chánh phủ Việt Nam Cọng Hòa vào năm 1952. Viện được xây theo lối
kiến trúc Tây Phương , tọa lạc trên một khu đất rộng 20 mẫu tây,
phạm vi bao trùm cả phần bên dưới đầu con Rồng. Cơ sở viện chia
làm hai phần:
- Nhà của cấp Chỉ Huy gồm 5 ngôi biệt thự, khang trang, cất trên
đỉnh núi cách mặt biển chừng 35 m và ẩn hiện trong bóng xanh của
những cây Bàng lâu đời, lá thay đổi bốn mùa.
-Viện chính thức: một sở nhà lầu đồ sộ, cất dưới chân núi phía Đông,
trên một khoảng đất bằng phẳng , cách mặt biển 4m. Bao gồm: Một
tòa nhà lầu hình khối chữ nhật, ba tầng với hai tầng lầu một; tầng
trệt cao 12 m, dài 40 m; hai tầng lầu dùng làm phòng thí nghiệm,
thư viện và văn phòng.
Tầng trệt dùng nuôi những giống cá lạ ở dưới biển...
để cho công chúng thưởng lãm (Aquarium). Một tòa lầu thứ hai, kiểu
thức giống như tòa thứ nhất nhưng nhỏ thua, nằm phía Nam tòa thứ
nhất, sát chân dốc, mặt ngó ra hướng Bắc dùng làm phòng nghiên cứu
về Sử, Lý Hóa…trong ngành Hải học. Một nhà bảo tàng, rộng 400 mét
vuông, cao 5m, nằm phía sau chính viện và dùng cất giữ những giống
thủy tộc sưu tập được (Hall des collections).
4. HÒN SINH TRUNG
Là một hòn độc sơn , đứng trên mé đầm Xương Huân,
cạnh bến Hà Ra của con sông Cù, nơi đây có một bến xe chạy các vùng
lân cận phía Bắc- Nam như Ninh Hòa, Tu Bông , Đại Lãnh, Cam ranh
…(Nay bến xe chuyển lên Mã Vòng ) .
Các thầy Địa Lý gọi là "Bạch Tượng quyện hồ" tức là Voi
trắng cuốn hồ.
Núi Sinh Trung không cao lắm, đi lên đỉnh núi chỉ cần bước trên
90 bậc cấp, được làm bằng xi măng, ngay chân núi có xay một cổng
Chùa mặc dù trên đỉnh núi vẫn còn cổng Miếu cũ, nay đã trùng tu
rất đẹp. Đối với thành phố Nha Trang thì núi Sinh Trung chẳng khác
nào như một hòn non bộ đứng trong vườn cảnh xung quanh có sông nước
bao bọc; rừng dừa, cây cối, dương liễu xếp thành hình vòng cung
theo dọc bờ biển. Quanh núi toàn hững cây dẹp mọc (loại cây, dân
chúng thường dùng để trị bệnh sán lãi ).
Trên đỉnh núi là một vùng đất rộng khoảng hơn 150 m chiều dài và
100 m chiều ngang, nhưng thiết trí chùa cũng rất gọn và trang nghiêm.
Vào năm 1802- 1852, triều Nguyễn dựng một cái Miếu thờ 350 vị công
thần bị tử trận hay bị mệnh vong trong khi tranh hùng với nhà Tây
Sơn, miếu có tên là Tinh Trung, sau đổi là Sinh Trung. Tên núi mượn
tên Miếu mà kêu. Người địa phương cũng thường gọi là núi Ha Ra .
Ha Ra là tên khu vực. Sách Đại Nam chép là A La.
Năm Tự Đức thứ 5 (1852) trùng tu miếu và đặt lại tên là Trung-Nghĩa
miếu. Đến năm 1945 -1950, Đức bà Từ-Cung và một số hào lão làng
Vạn Thạnh vận động hiến cúng Miếu cho Giáo Hội Phật Giáo Khánh Hòa
, vị trù trì đầu tiên là Hoà Thượng Thích Thiện Minh, đặt tên chùa
là Khuôn Hội Kỳ Viên; kế thừa là Hòa Thượng Thích Từ Mãn, Hòa Thượng
Thích Chí Tín, Đại đức Thích Viên Mãn. Từ đấy thật sự Miếu Sinh
Trung đổi thành tên Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự.

Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự trên núi
Sinh Trung
Năm 1990, thầy trù trì Thích Trí Viên cùng Phật Tử
khắp nước và địa phương phát nguyện cúng dường trùng tu chùa. Xây
dựng phần chánh điện rất trang nghiêm, nhà Tổ và những công trình
phụ trông rất mỹ quang như đúc tạc các tượng Đức Di Lặc với lục
tặc đặt trước cổng chùa, tượng Đức Quan Thế Am đứng trên toà sen,
nhìn về hướng Đông, đặt sau lưng chùa với một công viên trồng hoa
hai bên có những bức tường đá dùng làm những hộc đựng hài cốt, mặt
hộc có ghi tên tuổi người quá cố để thân nhân dễ tìm và thăm viếng
.
Phía sau chùa một khoảng đất trống lớn xây một gác
chuông với một Đại Hồng Chung cao hơn 1 mét bên cạnh có một hồ nuôi
cá với những hòn non bộ và cây cảnh, cây mai chiếu thủy nở hoa trắng
suốt bốn mùa, có cầu nhỏ bắt qua trông rất thơ mộng; một tấm bia
ghi tiểu sử thành lập chùa và miếu. Bên phía trái Chùa là một dãy
nhà trù dành cho cho việc ăn ở của các Tu sĩ. Toàn công trình được
hoàn tất vào tháng 2 năm 1992.
Vào năm 1995, chùa lại xây thêm một nhà mát tứ giác
hai tầng, dùng vào việc tiếp khách thập phương, đối diện với nhà
trù. Ngày nay, việc xây dựng chùa xem như là hoàn mỹ. Một quang
cảnh tươi sáng với sân chùa trồng toàn cây bông sứ trắng nhụy vàng
, xen lẫn những cây hoa phượng vỹ đỏ thắm và bức bình phong có hình
con Cọp được sơn vẽ lại làm cho Chùa trở nên uy nghi.

Đầm Xương Huân - Nha Trang trước
năm 1954
Miếu Sinh Trung và đầm Xương Huân vốn có tình "cốt nhục".
Truyền rằng lúc ban sơ không có đầm cũng không có núi. Khi nữ thần
Poh Naga giáng thế, sấm trời nổi dậy báo cho vạn vật biết tin, thì
một con Cù sanh từ lúc khai thiên lập địa nằm ngủ quên trong lòng
đất, giật mình vùng dậy, những lớp đất đá đã phủ lên mình Cù bị
hất tung lên thành Núi và nơi Cù nằm lủng xuống thành Đầm. Cho nên
Đầm có tên là Cù Đàm và Núi có tên là Cù Lĩnh.
Đầm nằm ôm chân núi, núi đứng soi bóng vào lòng đầm. Nước trang
điểm cho non, non trang điểm cho nước. Tương y tương ỷ, ngày nắng
cũng như ngày mưa. Những đêm gió mát trăng trong, lên núi Cù Lĩnh
xem Đầm thì cực kỳ thanh thú như chốn bồng lai tiên cảnh. Mặt đầm
như tờ giấy băng cơ trắng láng và vầng trăng như quả ấn ngàn châu
treo lơ lửng trên bầu trời, mờ mờ dưới chân núi là nhà cửa với những
ngọn đèn dầu leo lét hay ngọn đèn điện thắp sáng choang-cây cối
chỗ thấp, chỗ cao ẩn hiện trong ánh đèn khi thành phố bắt đầu sinh
hoạt về đêm.
Ngày nay, Cù Đàm bị lấp đi, để xây một ngôi chợ hình
tròn, đó là chợ Đầm Nha Trang, Cù Lĩnh trơ trọi một mình, không
còn soi dưới bóng nước và chị Hằng, con Voi trắng không có nước
để uống khi trời hạn hán và bơ vơ giữa cảnh ồn ào, náo nhiệt của
một thành phố đông người khi một cuộc 'di dân có qui mô' sau năm
1975.
Đặc biệt là đứng trên núi Sinh Trung ta nhìn thấy ba hòn núi kia
tượng hình ba con vật linh thiêng (Dơi , Rùa , Rồng) cùng với con
Voi trắng đang hộ trì và phù trợ cho người dân thành phố nói riêng,
người Khánh Hòa nói chung được phát tài như cuộc đất "Đại phú
đại quí". Theo nhà phong thủy Huyền Vi, viết trong cuốn sách
Thiền và Phong Thủy đã nói về cuộc đất Nha trang như sau:
Hình thể thành phố Nha trang rất giống Con Cóc. Bãi biển Nha trang
là bụng Cóc, hai chân sau là vùng Cầu Đá , hai chân trước chạy ra
đến gần Hòn Chồng. Sóng biển vỗ quanh năm vào bụng Cóc Thần. Điều
quan trọng là con Cóc Nha Trang tuy ngon lành thật nhưng chưa đủ
hấp dẫn để dụ Xà Tinh vào miền Nam. Vậy phải làm sao thay đổi long
mạch cho con Cóc mau chóng ngậm một hạt Minh Châu để cho Xà Tinh
tăng thêm sự ham muốn. Sau khi long mạch con Cóc được làm cho vận
hành mạnh mẽ , "đốt giai đoạn" thì chợ Đầm, ngôi chợ chính
của Nha Trang , bị hỏa hoạn thiêu rụi.
Long mạch xui khiến Kiến Trúc Sư vẽ lại Chợ Đầm để
tái thiết lại vẽ thành một hình thể độc đáo, hiếm có. Chợ Đầm hình
tròn! Nhìn lên bản đồ thành phố Nhatrang ta thấy rõ ràng hình con
Cóc ngậm hạt Minh Châu hình tròn!
Ngày nay, nếu ta đi máy bay nhìn xuống Nhatrang,
ta sẽ thấy hình thể của một con Cóc khổng lồ ngậm hạt minh châu!
So với thiết kế thì chợ Đầm xây chưa hoàn tất, phía bên tay trái
hai chung cư A va B đã xong , còn chung cư C và D bên phải chưa
dựng nên phần này đã hở hẳn ra, phía sau chợ chạy dài ra tận nhánh
sông Hà Ra một khoảng đất trống lớn, dân đã chiếm cất ở lộn xộn
nên không thể xây phần nối tiếp khu chợ trái cây và bán thịt cá
với cái cảng nhỏ cho ghe thuyền từ các nơi vào, tạo thành một khối
chữ T án ngữ mặt sau. Như thế hạt Minh Châu ở cái thế nửa kín nửa
hở.
Nhưng nói về địa lý tạo dựng mảnh đất Nha Trang nhìn từ biển Thái
Bình Dương vào, mảnh đất Nhatrang là một bãi cát trắng rộng với
bốn hòn núi trấn bốn góc tạo cái thế Bốn Con Thú qui tụ gồm Long
(tại Cầu Đá), Tượng (tại Sinh Trung, chợ Đầm), Dơi (tại Mã Vòng)
và Qui (tại Ngã Sáu). Long mạch thành phố lấy hai hòn núi Hòn Trại
Thuỷ và Hòn Thị ở Diên Khánh làm Hữu và Tả bậc, với bốn mặt có hai
con sông Cái và sông Đồng Bò ôm choàng cuộc đất mà phía Đông là
biển khơi. Nhưng nếu ta nhìn thật lâu và hình dung bãi biển Nha
Trang vừa rộng và dài trông giống như một lưỡi liềm bằng bạc, cán
trở ra xóm Cồn, mũi day xuống Chụt, và lưỡi được sóng biển mài dũa
sáng trưng .
Chính vì vậy thành phố Nha Trang mỗi ngày càng hưng
khởi lên sự vượng khí:
"Buổi sáng, bao nhiêu ánh ngọc ngà châu báu
nơi thủy cung đều hiện lên mặt sóng, trông lộng lẫy huy hoàng. Và
những cảnh vật chung quanh, nhờ cái hào quang ấy, cũng trở nên huy
hoàng lộng lẫy tráng lệ tạo thành một kỳ quan đẹp cho mảnh đất Thánh
này.

Bình minh trên biển Nha Trang
Buổi trưa, biển trở thành một tấm sa tanh xanh thêu
kim tuyến căn phơi. Nhà cửa cây cối núi non là những vật nhân cách
hóa thành những người đang đứng canh giữ mảnh đất thiên.
Buổi chiều, tất cả biển trời cây đá đều trõ thành
gấm vóc mà bên ngoài trùm một tấm màn bạch sa mỏng và sưa. Còn ban
đêm, cát hòa với nước, không còn phân biệt ngã với nhân, và ánh
đèn câu ngoài khơi giăng dài trên đường chân trới như nhừng hạt
châu kềt thành xâu đang tỏa ra ánh sáng lúc ẩn lúc hiện.
Nếu trời có trăng thì trước mặt là một tấm nhung
trắng kết hoàng bảo trải dưới vòm nhà bằng bạch cẩm nạm kim cương,
nếu trời không trăng thì lại là một tấm nhung đen rải hồng bảo xích
,một nửa trải nền một nửa phất trên trần, trong một đền thờ người
Ấn".
Nha Trang với cảnh đẹp tự nhiên với thiên hình vạn
trạng, nó đã tạo dựng một thế phong thủy đặc biệt cho nên khi còn
là đất của người Chiêm Thành hoặc là đất của dân Việt ta ngày nay
và tiến dần về tương lai thì mảnh đất này chính là vùng đất Đại
Phú và Đại Quý. Bước vào thế kỷ 21. Thành phố đang tiến hành xây
dựng chiếc Cầu nối liền từ bờ xóm Cồn đến Hòn Chồng và chạy dài
ra tận bãi Tiên, thì cái thế đất chưa hoàn hảo bởi vì cái long mạch
chưa được nối liền bởi con sông Đồng Bò còn hở. Vậy ta chỉ còn thêm
một chiếc cầu nối liền Cầu Đá với Đồng Bò chạy dài đến tận Bãi Dài,
Cam Ranh thì lúc ấy cái long mạch ấy mới hình thành trọn vẹn.
Nhưng muốn chiếm cái ưu thế vững vàng nhất cho thành phố thì phải
thay đổi vị trí tòa Thị Sảnh Nha Trang thì mặt hưng vượng của ngưới
dân và chính quyền càng ngày càng cao về mọi mặt như sự xuất hiện
các tài nhân, dân giàu sang, chính quyền có người tài đức ra gánh
vác, đồng thời cũng là nơi đào tạo nhân tài về quân sự như Hải-Lục-Không
quân rất là thuận tiện cho cả vùng Đông Nam Á và Đông Dương (Lào
và Campuchia).

Núi Hoàng Ngưu (núi Đồng Bò)
Về mặt tâm linh, huyền bí nơi đây chính là Thánh
địa vì một vị Đại Bồ Tát đến với cõi Ta Bà này thuyết pháp Đại-Thừa
và Nhất Thừa trước tiên và đây chính là cái duyên to lớn nhất của
chúng sanh và cho người dân Nha Trang vậy .
Nhưng theo nhà Địa Lý Hứa Minh cùng con trai là Hứa Vinh viết trong
sách: "Địa Lý Toàn Thư" do Lưu Bá Ôn và một số tác giả
ghi đã nói như sau:
"Chỉ có nơi Tứ Thú hội họp mới được gọi
là Long Tụ Tinh."
Và để hình thành một vùng Đại Phú - Đại Quý, nhân
tài xuất hiện thì khí Âm Dương cần phối hợp tức là trước biển cả
mênh mông sau là núi rừng vây bọc.
Vậy thì Long mạch chính nằm ở vị trí nào trong thành
phố NhaTrang?
Khi ấy người đầu Tỉnh đặt bản doanh mình nơi ấy thì
cái hào quang vi diệu kia tỏa khắp cho mọi người đều cùng hưởng
cái diễm phúc của vũ trụ giành cho. Tôi không bàn rộng vấn đề này,
xin để lại cho những ai có Đức, có Hạnh mà suy nghĩ, đem cái tài
mình ra mà giúp dân, giúp nước được cái hạnh phúc-phú quý trong
những năm kế tiếp của thế kỷ 21.
|