|
Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm
Ông
sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22
(1491), tại thôn Cổ Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là huyện Vĩnh
Bảo, Hải Phòng.
Sinh trưởng trong một danh
gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn
Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn
Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm
từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương.
Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi
ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng
cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.
Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng
Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh
lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.
Tuy vậy, thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không
muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Nhưng sau vì có nhiều
người khuyên nhủ, ông đi thi và đỗ tiến sĩ cập đệ (trạng nguyên)
năm Đại Chính thứ sáu đời Mạc Thái Tông (1535). Vua Mạc cất ông
lên làm Tả thị lang Đông các Học sĩ.
Vì ông đỗ trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền
hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.
Làm quan được 7 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng
thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.
Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch
Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang, còn có tên Tuyết
giang, do đó học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử".
Học trò của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng
Khắc Khoan - một nhà ngoại giao, Nguyễn Dữ - tác giả Truyền kỳ mạn
lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền...
Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Lễ tang
ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn
đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi
như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc
với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua
truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình quốc công.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác
phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân, gồm hàng trăm bài
thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình quốc công Bạch vân thi
tập và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là
Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm) hiện còn
lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài
thơ trong tập Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết
lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức bao chùm lên
tất cả, mục đích để răn dạy đời.
Khi
theo học Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần
kinh từ đó ông tinh thông về lý học, tướng số... Sau này, dù Nguyễn
Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc
Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544),
ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình
Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa.
Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu
Trình quốc công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng Trình.
Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến
cố xảy ra 500 năm sau này. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền".
Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền
tụng và suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam.
Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người
đời gọi là "Sấm Trạng Trình".
Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp
các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh
Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu "Hoành Sơn
nhất đái, vạn đại dung thân" (có tài liệu viết là "khả
dĩ dung thân") nghĩa là "Một dải Hoành Sơn có thể dung
thân lâu dài".
Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền
cho con cháu từ đất Thuận Hoá.
Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông
khuyên vua tôi nhà Mạc "Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể"
(tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời
ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa.
Đối với Lê - Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không
có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận
nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là
nói với bề tôi họ Trịnh: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản"
(ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe
theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh
Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng
thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ
họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau
tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: "Lê tồn Trịnh
tại".
Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy
Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương lọai chí: "Một
bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở".
La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn
Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình
tuyền) đã xem Trình tuyền là người có tài "Huyền cơ tham tạo
hóa" (nắm được huyền vi xen vào công việc của tạo hóa).
Tiến sĩ thời nhà Hậu Lê Vũ Khâm Lân đã làm bia ở
đền Trạng Trình và nói rằng danh tiếng Trạng
Như núi Thái sơn, sao Bắc Đẩu
Nghìn năm sau như vẫn một ngày.
Cùng với Tôn Trung Sơn và Victor Hugo, ông là một
trong 3 vị Thánh của đạo Cao Đài.
Giai Thoại
Tương truyền thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là
Văn Đạt. Mẹ ông là Nhữ thị vốn tinh thông tướng số và có ước vọng
là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua. Do đó trong quá trình
dạy dỗ, bà đã truyền cho ông mơ ước ấy rồi.
Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và
tình cờ hát:
"Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung".
Không ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh nhảu ứng đối lại
ngay:
"Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung".
Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện
ấy thì bị bà trách nuôi con mong làm vua làm chúa cớ sao lại mong
làm bầy tôi (nguyệt chỉ bầy tôi).
Lại một lần khác bà dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm câu hát
"Bống bống bang bang, ngày sau con lớn
con tựa ngai vàng".
Ông Định hoảng sợ vì nếu triều đình hay được sẽ mất
đầu về tội khi quân nên sửa lại:
"Bống bống bang bang, ngày sau con lớn
con vịn ngai vàng".
Nhiều lần như vậy, bà rất bất bình nên bỏ đi. Nguyễn
Bỉnh Khiêm lớn lên chỉ được ở cạnh bố.
Tương truyền sau đó bà lấy một người họ Phùng và
sinh ra Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Sau chính Khắc Khoan trở thành
học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Bà Nhữ Thị vẫn không thoả chí vì họ Phùng không có
chí làm vua.
Mãi sau này bà Nhữ tình cờ gặp một trang nam nhi
làng chài đang kéo lưới mà bà tiếc nuối vì cho rằng người này có
số làm vua, còn tuổi mình đã cao. Người đó chính là Mạc Đăng Dung,
vị vua khai triều của nhà Mạc. |