|
Cần hiểu
đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc
Trần Khuê
Giải Văn Học 2008
(Tham luận hội thảo khoa học “Nguyễn Bỉnh Khiêm
trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc” do Trung tâm nghiên cứu
Hán Nôm tổ chức, Viện KHXH tháng 10-1991)
Thú vị biết bao khi nghe ông Okakura Kakuzo, một
triết nhân Nhật Bản nói rằng: “Chúng ta hãy kính mộ cổ nhân nhiều
hơn nữa nhưng hãy bắt chước cổ nhân ít hơn”. Và quan sát tình hình
nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những năm qua, tôi xin phép được
thêm rằng: chúng ta cần biết kính trọng người cùng thời, nhưng cần
suy tư độc lập để tránh sao chép những suy tư của họ”.
Suy tư và nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời
đại của ông, tôi thấy cần định rõ chuẩn mực và hệ thống hóa mọi
chứng cứ lịch sử một cách trung thực, khoa học. Như thế mới hy vọng
đánh giá đúng về ông và về cái gọi là “Ngụy triều Mạc” mà ông đã
hết lòng phụng sự, từ đó có thể hiểu những gì là tinh hoa của Nguyễn
Bỉnh Khiêm để kế thừa và phát huy; những gì là hạn chế của Nguyễn
Bỉnh Khiêm và thời đại Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như những danh nhân
và những thời đại kế tiếp chưa tập thành để xác định rõ nhiệm vụ
của chúng ta hiện nay.
CÓ HAI NGUYỄN BỈNH
KHIÊM...
Theo tôi hiểu, ít nhất chúng ta đã có tới hai Nguyễn
Bỉnh Khiêm: một Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường và một Nguyễn Bỉnh
Khiêm - huyền thoại.
Huyền thoại hoặc là không thật hoặc là cái thật đã
được huyền hóa nghĩa là được cường điệu, tô đậm, phóng đại theo
ý chí, ước vọng của người đời. Với huyền thoại, cái mơ ước cao hơn
cái thật, niềm hy vọng và lòng sùng tín trùm lên nhân vật và sự
kiện; tất cả trở thành thần tượng, tuyệt vời, thiêng liêng, khả
kính. Ở đó chỉ còn là sùng tín và hy vọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền
thoại và một Nguyễn Bỉnh Khiêm đạo cao đức trọng, giỏi thi ca và
có tài tiên tri, một con người siêu việt vượt cao hơn cả mọi thứ
vua chúa đương thời, sống vĩnh hằng trong tâm thức của muôn người,
muôn đời. Bàn về Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại là chuyện cực khó,
vì đó là một hiện tượng đã định hình được khẳng nhận và nhất thành
bất biến, không thể thêm bớt nữa.
Tôi thành kính nghiêng mình trước Nguyễn Bỉnh Khiêm
- huyền thoại, một hiện tượng thuộc về tâm thức dân tộc và với một
ý nghĩa nào dó, đây cũng là một hiện tượng văn hóa dân tộc. Nhưng
đứng trên giác độ nghiên cứu khoa học, tôi chú ý nhiều hơn, có thể
là chủ yếu, đối với một Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường.
Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường, tôi muốn
khảo sát (cho dù tư liệu còn chưa đầy đủ), tôi muốn đánh giá (cho
dù chuẩn mực, tiêu chí chưa dễ được số đông chấp nhận) và tôi muốn
rút ra những bài học thích đáng, bổ ích cho hôm nay (cho dù những
khái niệm này chưa phải đã có chung một thức nhận).
Nhưng có lẽ, điều cần thiết và quan trọng là tôi
muốn duyệt lại mấy vấn đề không được quyền tranh cãi nữa vì nó đã
nằm trong tâm thức của nhiều thế hệ và đặc biệt là giới khoa học
quyền uy đã khẳng định trên mặt sử sách, báo chí không chỉ dăm ba
thập kỷ mà dăm ba thế kỷ.
Sở dĩ tôi dám liều mạng và sẵn sàng đón mọi búa rìu
thị phi vì tôi ý thức được rằng mình đang nghiên cứu một Nguyễn
Bỉnh Khiêm - đời thường, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân
tộc vì lợi ích của sự nghiệp bảo vệ văn hóa dân tộc, vì lợi ích
của một cuộc cách mạng và một chế độ mà vài ba thế hệ chúng ta đã
đổ mồ hôi và xương máu ra xây dựng nó và hiện tại giữa một thời
đại đầy biến cố phi thường, chúng ta lại đang ra sức bảo vệ nó như
bảo vệ chính mạng sống của mình. Mấy vấn đề đó là:
1. Vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại bỏ ra một nửa sau
của đời mình để phụng sự nhà Mạc vốn bị coi là “ngụy triều”?
2. Phải chăng nhà Mạc đã có những mặt tích cực mà hầu hết các sử
gia cổ xưa và hiện đại không nhìn thấy hoặc nhìn thấy mà không chấp
nhận, còn Nguyễn Bỉnh Khiêm thì lại nhìn thấy và chấp nhận?
3. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người chán đời hay yêu đời? Là người của
nhàn dật hay của hành động?
4. Về mặt thi pháp, Nguyễn Bỉnh Khiêm có gì hay, có gì dở, có gì
hơn, có gì kém so với người đương thời?
5. Trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã
có những thành tựu gì đóng góp vào sự phát triển và cả vào sự ngưng
trệ của ý thức hệ dân tộc?
Nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi thấy có mấy điểm hết sức
lý thú:
1. Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã chọn nhà Mạc để phụng sự và đã toàn tâm, toàn ý phụng sự nhà
Mạc.
Khi nhà Mạc giành ngôi nhà Lê thì Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã ở tuổi 37 (1491-l527). Và khi vua cha Mạc Đăng Dung nhường ngôi
cho vua con là Mạc Đăng Doanh thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa tròn 40
tuổi, nghĩa là đúng vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”. Quan sát
và ngẫm nghĩ về thời cuộc 8 năm liền (từ l527-l534), ông quyết định
vác lều chõng đi thi và sau khi đã đỗ rất cao (Trạng nguyên), ông
làm quan với triều Mạc Đăng Doanh, rồi tiếp theo là các triều Mạc
Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên và Mạc Mậu Hợp. Ngoài những đợt nghỉ ngắn
hạn, ông chỉ chính thức “huyền xa” (về trí sĩ) vào năm đã ở tuổi
73:
Điểm kiểm hành niên thất thập tam
Huyền xa sai vãn đã ưng tàm.
(Đếm tuổi mình đã bảy mươi ba.
Treo xe hơi muộn, cũng nên thẹn).
Ông còn ân hận vì sức yếu rồi nên không giúp rập nhà vua được nữa:
Trì khu tự hứa ta vô lực
Vinh tiện hà cầu khởi thị tham.
(Vốn tự thẹn đua bay với người, than ôi không đủ sức
Không cầu sang hèn đâu phải là tham).
(Về hưu gửi quan Thượng thư bộ Lại Kế Khê bá Giáp Hải)
Trong khoảng 30 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hết lòng
phò 4 triều vua Mạc - hành trạng của ông, thơ văn của ông và các
bạn đồng liêu của ông đã minh định điều đó. Và phải lý giải sao
cho thỏa đáng khi ông được phong tặng rất nhanh những chức tước
quan trọng dưới triều các vua Mạc?
Lý giải sao cho thấu tình đạt lý về hơn hai chục
bài thơ nói về việc hộ giá nhà vua đi đánh giặc và không phải chỉ
đi một lần? Chỉ cần đọc kỹ 4 bài viết về chuyện “hộ giá...” và sáu
bài “Qua sông.. Hữu” cũng đủ hiểu cảm hứng và lòng chân thực của
ông. Và tôi nhất trí hoàn toàn với Ngô Đăng Lợi rằng không thể coi
lời thơ khen tặng của Lại bộ thượng thư Giáp Hải đối với Nguyễn
Bỉnh Khiêm là “lời nói vu vơ không căn cứ”:
Danh quán Nho gia lôi phấn địa
Lực phù nhật cốc trụ kình thiên;
Tứ triều huân nghiệp nhân trung kiệt
Cửu lão quang nghi thế thượng tiên.
(Tiếng tăm ông lừng lẫy làng nho như sấm rền mặt đất
Năng lực của ông phò vua như cột chống đỡ trời
Huân nghiệp trải bốn triều, ông là tài năng kiệt xuất giữa cõi người
Dung nghi rực rỡ của tuổi chín mươi, ông khác gì vị tiên nơi trần
thế).
Điểm qua vài nét như vậy đủ thấy, thật đáng nghi
ngờ những ý kiến đoán định, suy diễn (mà hầu hết đều sao chép từ
Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề) rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm nghe
lời khuyên của bạn hữu hoặc ông ở cái thế không ra không được” (Bùi
Duy Tân). Rõ ràng tuổi tác, hành trạng và tác phẩm của ông đã chứng
minh rằng ông đi thi ở tuổi 44 và làm quan với nhà Mạc cho đến tận
năm 73 là hoàn toàn tự nguyện, chẳng có chứng cứ nào nói lên rằng
ông miễn cưỡng hay bị bó buộc.
Việc ông không sớm ra thi để làm quan với nhà Mạc
cũng là điều dễ hiểu: ông không thể đem tài năng ra phụng sự cái
loại “vua quỷ Lê Uy Mục” và “vua lợn Lê Tương Dực”. Ngay sau khi
nhà Mạc đã giành ngôi vua của nhà Lê, ông cũng chẳng vội vã gì:
quan sát và suy ngẫm 8 năm ròng, ông mới quyết định ra thi và làm
quan với nhà Mạc.
Cân nhắc tính toán thận trọng nhường đó mà các vị
nghiên cứu vẫn không chấp nhận. Trong khi đó các vị vẫn không ngớt
lời ca tụng ông là tài giỏi, có bản lĩnh vững chắc, có tài tiên
tri, tiên giác. Đặc biệt, Vũ Phương Đề lại khẳng định một cách võ
đoán và cực kỳ mâu thuẫn: “Sở dĩ có bài thơ trên vì ông biết rõ
nhà Lê sẽ được trung hưng (...).
Quả nhiên về sau nhà Lê trung hưng, bốn phương trở
lại yên tĩnh, bấy giờ bạn hữu đều khuyên ông ra làm quan, đến năm
bốn mươi tư tuổi ông mới chịu ra ứng thí. Khoa Hương thí ấy ông
được đỗ đầu, rồi năm sau, tức là năm thứ sáu đời nhà Mạc (1535),
lại ra tỉnh thi được đỗ thứ nhất, khi vào thi Đình đối lại đỗ Tiến
sĩ đệ nhất danh, được bổ chức Đông các hiệu thư trong thời Thái
Tông nhà Mạc, ông có làm hai bài thơ “Xuân thiện ngự tửu”, “Đều
dự hạng ưu”, rồi thăng chức Hữu thị lang bộ Hình, sau thời gian
ngắn lại thăng chức Tả thị lang kiêm chức Đông các đại học sĩ” (Công
dư tiệp ký, tr. 400).
Tiên tri rằng nhà Lê sẽ trung hưng mà lại ra làm
quan với nhà Mạc, làm một cách tận tụy để được thăng hết chức này
đến tước khác và đến cực phẩm triều đình: Lại bộ thượng thư Thái
phó Trình Quốc công. Quả thật là không thể hiểu nổi!
Càng khó hiểu hơn khi thấy rất nhiều người đều cả
tin Vũ Phương Đề. Tôi không ngạc nhiên và phàn nàn gì nhiều lắm
về các nhà nghiên cứu hiện đại của ta về Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Đáng ngạc nhiên là một trí tuệ lớn như Phan Huy Chú
mà vẫn nhẹ dạ sao chép lại Vũ Phương Đề. Nếu tôi không nhầm thì
người thận trọng nhất là Lê Quý Đôn - Trong Lê triều thông sử, ông
không chép Nguyễn Bỉnh Khiêm vào chư thần truyện, cũng chẳng chép
vào nghịch thần truyện. Ông lờ đi, thật rất tiếc! Do đó mọi điều
hiểu sai, hiểu nhầm về Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu như đều phát xuất từ
bản phả ký của Vũ Phương Đề.
Về tinh thần tự nguyện phục vụ nhà Mạc của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, còn có hàng loạt chứng cứ để xác minh. Chính Vũ Phương
Đề đã ghi nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường của chúng ta có tất
cả ba bà vợ. Ba bà này đã sinh hạ 12 người con gồm 7 trai, 5 gái.
Trong số 7 trai thì có tới 6 người thành đạt và đều làm quan với
nhà Mạc, lập được quân công và được thụ phong những chức tước quan
trọng. Nghĩa là không phải riêng ông mà cả nhà ông đã phục vụ nhà
Mạc.
Đáng chú ý hơn nữa là Nguyễn Bỉnh Khiêm có một loạt
bạn thân trước kia từng làm quan với nhà Lê sau lại ra làm quan
với nhà Mạc như: Lễ Độ bá Vũ Cẩn, Văn Đạt bá Nguyễn Mậu, v.v...
sau này ông vẫn thân thiết và cùng xướng họa với những người bạn
này. Ngay cha con Trạng nguyên Nguyễn Thiến, trọng thần nhà Mạc,
sau bỏ theo Lê - Trịnh, ông cũng vẫn chẳng hề cắt đứt tình cảm.
Theo tôi, phải chăng sau này các sử gia và các nhà
nghiên cứu cứ nhìn theo con mắt của Tống Nho Hậu Lê triều hoặc Nguyễn
triều nên mới trở nên khắt khe. Còn vào thế kỷ 16-17, việc chạy
sang phía bên này hay bên kia cũng chẳng có gì lấy làm điều.
Chẳng có gì đến nổi day dứt quá đáng. Cứ xem như
danh tướng Nguyễn Quyện chức đến Thái bảo, tước đến Thạch quận công
mấy lần chạy qua chạy lại giữa Mạc và Lê -Trịnh là đủ biết. Hồi
Lê Thái tổ lại càng rộng rãi: “Những bậc hào kiệt có tài văn võ,
mà còn bỏ sót chưa có tiến cử, hoặc bị thù hằn, kìm hãm, hãy tới
ngay Sở thiếu phó Lê Văn Linh, tại đây sẽ xét thực tài đức sẽ tâu
trình bổ dụng.
Chỉ cốt được người tài đức, chứ không câu nệ về sự
đã ra làm quan với nhà Minh, hoặc kẻ sĩ thường”. (Đại Việt thông
sử- tr. 82). Sau này Quang Trung cũng rộng rãi như thế. Có lẽ đây
là một vấn đề khá thú vị đáng cho các nhà sử học và các nhà tâm
lý học quan tâm nghiên cứu.
2. Nguyễn Bỉnh Khiêm
coi việc đánh giặc để giúp các vua Mạc và cứu dân là đại nghĩa.
Mấy nhà nghiên cứu của ta hay gán cho Nguyễn Bỉnh
Khiêm những tư tưởng mà ông không có. Ông Bùi Duy tân viết: “Nguyễn
Bỉnh Khiêm là người có thái độ gay gắt trong phê phán chiến tranh
phong kiến cát cứ (...) trong hoàn cảnh ấy, có lẽ trong thâm tâm
ông nghĩ rằng: nếu cách ly các tập đoàn phong kiến ra xa nhau, để
mỗi tập đoàn ổn định ở một nơi thì chiến tranh tuy chưa thể dập
tắt ngay, cũng có thể hy vọng giảm thiểu được phần nào”. (Văn học
Việt Nam tr. l31).
Ông Đinh Gia Khánh cũng diễn một ý tương tự: “Nhưng
Nguyễn Bỉnh Khiêm trước sau vẫn phê phán nạn cát cứ và chiến tranh
phong kiến kia mà! Vậy có lẽ cần giải thích bằng lý do khác!
Rất có thể là Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy rằng các tập
đoàn phong kiến đánh nhau mãi mà chưa tập đoàn nào chịu tập đoàn
nào, cho nên để giảm nhẹ sự đối địch, giảm nhẹ xung đột bằng cách
tạm thời tách các tập đoàn ra, mỗi tập đoàn ở một góc và ở xa nhau
như thế, thì chúng đỡ đánh nhau”. (Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tr.
11).
Thế là cả hai ông đều mang huyền thoại trộn lẫn với
hiện thực rồi đặt giả thiết và giả thiết theo kiểu đó thực vô cùng
tai hại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm. Rồi các ông lại cố vớt vát bênh vực
bào chữa cho Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Thế là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm
một việc với động cơ lối, nhưng biện pháp thì tiêu cực và hậu quả
thì lại nghiêm trọng.
Việc làm của ông chứa đầy mâu thuẫn nan giải, mâu
thuẫn có nguồn gốc từ sự lẩn quẩn, bế tắc của chế độ phong kiến
mà ông không thể vượt qua được”. (Bùi Duy Tân). Còn ông Đinh Gia
Khánh thì coi: “Đó là mâu thuẫn trong việc làm của Nguyễn Bỉnh Khiêm”.
Thực ra đó không phải là mâu thuẫn của Nguyễn Bỉnh khiêm, đó chính
là mâu thuẫn trong tư duy nghiên cứu của các ông. Chỉ khi nào người
nghiên cứu dựa trên chứng cứ xác thực, chú ý đến quá trình phát
triển biện chứng của sự vật và tránh được lối tư duy định kiến,
tiên nghiệm thì mới hy vọng khỏi mắc sai lầm.
Một hệ thống luận cứ hiện thực và lịch sử chứng minh
rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề có những mâu thuẫn kiểu đó. Ông
không hề đứng trên các tập đoàn phong kiến mà dứt khoát đứng về
một phía: tập đoàn nhà Mạc. Ông không hề phản đối chiến tranh chung
chung mà phản đối những kẻ gây ra chiến tranh chống vua Mạc.
Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh
Chủ ưu thần nhục trọng thương tình
(Lũ giặc ngang ngược điên khùng phạm cả vào kinh đô
Chúa lo thì tôi nhục, đáng thương tình biết bao)
(Cảm hứng thi (tam)
Thiên tâm như bất dung gian ngụy
Ứng vị vương sư trợ nhấtn kỳ.
(Lòng trời nếu chẳng dung tha kẻ gian ngụy
Thì hãy một phen trợ sức cho quân nhà vua).
(Quá Hữu Giang (nhị).
Rõ ràng “nghịch tặc”, “gian ngụy” và tất cả những
chữ “tặc” khác trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chỉ tập đoàn Lê-Trịnh;
còn các từ “chủ”, “vương sư” hoặc “cửu trùng”, “thánh chủ”, “quân
vương”, “đại giá”, v.v... là dùng để chỉ vua nhà Mạc.
Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những kẻ chống lại vua
nhà Mạc là “gian” là “ngụy”; Nguyễn Bỉnh Khiêm theo vua Mạc đánh
dẹp bọn gian ngụy để cứu nhân dân thoát cảnh bị “treo ngược”:
Đại giá tây tuần trú thử sơn.
Nhất phương sĩ nữ vọng an toàn
Đảo huyền dân cửu ly hung đạo:
Trắc đát thùy vô xúc thiện đoan.
(Tây hộ quá Lục Yên châu).
(Xa giá lớn đi miền Tây, đóng quân ở núi này,
Khắp vùng trai gái đều trông mong được sống yên ổn.
Lâu nay dân sa vào tay bọn trộm cướp hung dữ như kẻ bị treo ngược;
Không ai là không động lòng từ thiện, tỏ tình thương xót).
(Hộ giá đi miền Tây qua châu Lục Yên).
Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân và một số vị nghiên cứu
khác cứ cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm mấy lần đi “tòng nhung” là do
“bị vua Mạc ép đi thco quân”. Có lẽ một phần do các vị hiểu nhầm
nghĩa từ “cưỡng” trong “cưỡng tòng nhung”, “cưỡng trí tòng nhung”,
“cưỡng truy tù”...
Từ “cưỡng” có ba nghĩa: 1. Không chịu khuất (resister,
contrarier); 2. Ép buộc (foreer, obliger, contraindre); 3. Gắng
sức (s’efforeer).
Vì hiểu nhầm nên ông Đinh Gia Khánh và ông Hữu Thế mới dịch thành
“gắng gượng”:
Tuổi quá sáu chục, gắng gượng theo quân.
(Niên du lục thập cưỡng tòng nhung).
Gượng dấn mình dự cuộc viễn chinh.
(Cưỡng trí tòng nhung tán viễn chinh).
Chỉ có ông Lỗ Công hiểu đúng và dịch đúng:
Tuổi già gắng gỏi việc binh nhung
Giết giặc mong vì nước dốc trung.
(Lão lai tương dữ cưỡng tòng nhung
Diệt tặc do hoài báo quốc trung).
Và ông Hữu Thế cũng có một lần dịch đúng:
Già si đần, gặp thời loạn lạc
Gắng theo quân bàn bạc mưu cơ.
(Lão độn trùng phùng thư loạn ly
Dự tham nhung mạc cường truy tùy).
(Cũng nên lưu ý “cưỡng” có thể dùng làm ngoại động
từ (verbe transitif) cũng có thể dùng làm nội động lừ (verbe intransitif).
Trong các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu
hết từ “cưõng” được dùng làm nội động từ. Do đó chủ ngữ ẩn trong
các dòng thơ này không thể là vua Mạc mà chính là một đại từ phản
thân (pronom réfléchi) chỉ tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dịch là “gắng
sức” hay “gắng gỏi” mới chính xác và mới bảo đảm được sự nhất quán
của nội dung tác phẩm vì thực tế Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ
bị ép buộc và ông cũng chưa bao giờ nói rằng mình bị ép buộc. Ông
cho việc “tòng nhung” giết giặc là trách nhiệm của mình đối với
vua, với dân.
Ông hành động vì muốn báo dân ơn nước:
“Diệt tặc do hoài báo quốc trung”.
Vì muốn cho nhân dân sống yên vui:
“Đồ thán dân giai nhẩm tịch tê”
(Dân lầm than khổ cực đều được nằm trên nệm chiếu yên ổn).
Ông hành động vì nghĩa:
Trì khu mị đạn hiệu vi cung
Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết
(Ruổi rong chẳng quản thân hèn.
Tấm lòng chí nghĩa vững bền sắt son).
Hơn nữa, vì muốn làm sáng đại nghĩa:
Vị quốc tồn cô minh đại nghĩa
Chỉ kỳ diệt tặc phục thần châu.
(Vì nước bảo toàn ấu chúa, nêu rõ nghĩa lớn
Định thời hạn giết giặc, khôi phục kinh đô).
3. Nguyễn Bỉnh Khiêm
là người có tài thao lược:
Theo Đinh Gia Khánh thì Nguyễn Bỉnh Khiêm “bị vua
Mạc ép đi theo quân. Có lẽ vì vua Mạc muốn dùng uy vọng của ông
để tăng thanh thế cho mình, chứ chưa có chứng cớ gì về tài thao
lược điều binh khiển tướng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cả” (tr. 15).
Ông cũng nhấn mạnh cái ý “cũng vì các vua Mạc kế
tiếp nhau tìm cách sử dụng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho nên lại có cớ để
luôn luôn thăng chức cho ông (...). Vua Mạc trọng thị Nguyễn Bỉnh
Khiêm thì mộl phần có thể thực lòng (tôi gạch dưới – T.K) mà cũng
vì muốn lợi dụng uy vọng của ông (tôi gạch dưới – T.K)”.
Cái chuyện “ép đi theo quân” rõ ràng không hề có đối với Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Còn chuyện “lợi dụng uy vọng của ông” cũng cần được
xem lại. Nhưng cái chuyện “có lẽ”, “có thể là” mà cứ được nhấn đi
nhấn lại dưới những ngòi bút có uy vọng như ngòi bút của ông Đinh
Gia Khánh quả thật là điều khá gay cấn cho những lớp đến sau.
Theo những chứng cứ mà tôi thu lượm được trong thư tịch xưa trên
những văn bản đáng tin cậy thì không hề có chuyện vua Mạc mang theo
đi trong hàng quân của mình một ông già đầy uy vọng nhưng lại thiếu
tài thao lược. Trước hết phải nói rõ rằng nhà Mạc không hề thiếu
những người có tài thao lược, chuyện này tôi sẽ đưa đủ chứng cứ
trong phần bàn về nhà Mạc. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thiếu tài thao
lược hoặc không lập nên công trạng gì đáng kể hẳn vua Mạc không
cần phong tặng ông những chức tước quan trọng như thế. Cũng không
nên quá tin vào lối nói khiêm nhượng của ông mà tưởng thật rằng
ông thiếu tài cán hoặc sự đóng góp mưu kế của ông là không đáng
kể:
Đã hai dạo, già yếu theo quân đến phía sông miền Tây
...
Bỗng nghe đồn lũy giặc bị quét sạch không.
Mưu kế vạn toàn ở chốn miếu đường là tài lực của chư tướng.
Thư sinh này sao dám nói đến công lao.
(Qua sông Hữu (sáu bài).
Có một lần, Mạc Phúc Nguyên ở vào tình thế nguy cấp.
Ông đã hiến kế và làm chuyển biến được tình hình. Chiến công lừng
lẫy này, tác giả Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rất sơ sài, không
hề nói rõ tại sao quân Lê-Trịnh đang thắng lớn ở vùng Kinh Bắc và
trên nhiều vùng khác, thế mà đột nhiên Trịnh Kiểm hốt hoảng vội
vã rút quân về Thanh Hoa.
Đây là một kế sách rất lớn giúp vua Mạc chuyển bại
thành thắng, bảo toàn được đất đai và kinh đô. Trong Công dư tiệp
ký, Vũ Phương Đề ghi rất sơ lược. Sau khi thuật khá chi tiết về
công lao và mưu trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm giúp vua Mạc dụ hàng được
Nguyễn Quyện, Vũ Phương Đề viết: “Trong thời gian ấy, đức Thế tổ
đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang khắp xa gần, đánh nhau mấy trận
ở cửa Thần Phù, Khiêm vương Mạc Kính Điển đại bại, Thế tổ thừa cơ
tiến binh theo đường núi phía tây ra đánh Kinh Bắc, khiến cho trong
ngoài nơm nớp lo sợ, ông hiến kế hư thực, họ Mạc theo đó thi hành,
bấy giờ trong cõi mới tạm ổn định” (tr. 403).
Chỉ có Lê Quý Đôn là ghi khá cụ thể, tỉ mỉ:
“Tháng 3 năm Chỉnh Trị thứ 4 (1561), có người hiến
kế với Phúc Nguyên rằng: Quân nhà Lê xâm lấn ta rất gay gắt! Ta
sở dĩ kiên thành cố thủ để cầm cự lâu dài, là có ý muốn chờ họ thiếu
lương sẽ bị bại. Nhưng hiện nay đường vận tải của họ rất thuận tiện,
tịch tế lương thảo liên tiếp đầy đủ, họ hoành hành đã hai năm nay,
thanh thế rất mạnh. Thì còn chờ đến lúc nào mới thừa cơ đánh phá?
Chi bằng dùng cách xuất kỳ bất ý, ngầm dẫn quân tiến thẳng vào Thanh
Hoa, đánh ngay vào nơi tâm phúc, thì đạo quân đang vây ở Kinh Bắc
và Hải Dương ta không cần đánh cũng sẽ tự giải. Đó là cái kế “đánh
nước Ngụy để cứu nước Hàn” của Tôn Tử vậy”.
Phúc Nguyên nghe theo lời tren, bèn sai viên tướng
khác thay Kính Điển trấn thủ Kinh Bắc rồi ngầm vời Kính Điển về
Kinh sư.
Tháng 7, Kính Điển dùng thuyền vào cướp Thanh Hoa,
đánh vào các cửa biển. Các tướng trấn thủ cửa biển là Vũ Sư Thước
và Lại Thế Khanh không phòng bị, trong khi hoảng hốt, vội lui quân
về giữ Vạn lại. Thái sư được tin trên, bèn gấp rút truyền lệnh cho
Hoàng Đình Ái dẫn quân về trấn thủ Thanh Hoa (...). Thái sư cũng
trệit hết quân ở các doanh lui về Thanh Hoa” (Đại Việt thông sử
tr. 310).
Ghi chép cụ thể, tỉ mỉ và tương đối khách quan là
tác phong rất đáng quý của Lê Quý Đôn khi viết Đại Việt thông sử,
Kiến văn tiểu lục cũng như nhiều sách khác của ông. Nhưng ở đoạn
văn trên lại có một chi tiết không cụ thể (có thể nói đây là hiện
tượng hiếm thấy vào loại số 1 của Lê Quý Đôn), đó là chi tiết “có
người hiến kế với Phúc Nguyên”.
“Người hiến kế” này là ai? Hiến kế với vua và lại
được nhà vua “nghe theo” hẳn không thể là người ít danh vọng và
uy tín. Đọc suốt Đại Việt thông sử cũng như Kiến văn tiểu lục, người
ta dễ nhận thấy dưới các triều Mạc, nhất là Mạc Phúc Nguyên và Mạc
Mậu Hợp, có rất nhiều triều thần hiến kế sách trị nước và giữ nước
cho nhà vua.
Nhưng dù người hiến kế có nhiều hay ít uy vọng, dù
được nhà vua nghe theo hay không nghe theo; Lê Quý Đôn cũng ghi
chép rất cụ thể nội dung kế sách và họ tên kèm theo chức tước của
người hiến kế.
Có thể nói trường hợp này là rất ngoại lệ, rất đặc
biệt. Cũng như việc Lê Quý Đôn ghi đủ loại chư thần và nghịch thần,
và trong Kiến văn tiểu lục, mục Tài phẩm (tài năng và phẩm hạnh),
ông ghi mấy chục danh nhân kể cả một số người đã làm quan với “ngụy
Mạc” như Lễ bộ thượng thu Hà Nhậm Đại, nhưng tài năng, phẩm hạnh,
hành trạng... của Lại bộ thượng thư Thái phó Trình quốc công Nguyễn
Bỉnh Khiêm thì ông không ghi chép. (Có những nhân vật ít nổi tiếng
như Lê Bá Ly mà Lê Quý Đôn ghi về tài năng phẩm hạnh 2 trang giấy
đặc tới hơn 500 chữ, một số nhân vật khác cũng còn được một vài
trăm chữ.
Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm thì không được ghi tiểu truyện).
Lê Quý Đôn chỉ ghi về Nguyễn Bỉnh Khiêm rất sơ sài: Một lần ghi
về thi đỗ, một lần ghi về “trí sĩ”, một lần ghi về “tên tác phẩm”.
Thế thôi? À, có thêm một lần ông ghi ý kiến của Chu Xán về Nguyễn
Bỉnh Khiêm: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và
Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư
(1683).
Xán có tiếng hay thơ. Ông ta chép những thơ đề vịnh
núi sông và bè bạn tặng đáp vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt 48 bài, nhan
đề là Sứ giao ngâm. Khi về dâng lên triều đình. Trong các bài thơ
ấy có câu rằng: “Y quan văn vật trọng Nam cương”, lại tự chua rằng:
“Nhân vật nước này, về phần lý học, có Trình Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn
Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn
Trung Ngạn, Nguyễn Trãi và Lương Thế Vinh; còn về phần văn học có
khá nhiểu”.
Như thế thì tiếng tăm tiền bối nước ta vang đến tận
Trung Quốc đã lâu. Lại lúc ấy, triều thần có Nguyễn Đình Trụ, Trần
Thọ, Tống Nho và Vũ Duy Khương phụng mệnh đón tiếp; Nguyễn Công
Vọng, Lê Hy, Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Điền tiếp đãi ở sứ quán,
Nguyễn Trạc Dụng và Nguyễn Công Nho sung vào việc hộ tống; đều có
thơ tặng, vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt gồm 34 bài. Chu Xán đều chép
thành tập nhan đề là Nam giao hảo âm, phụ vào với tập trước, đều
khắc vào ván gỗ phát hành. Như thế cũng đủ rõ Văn hiến nước ta được
Trung Quốc quý trọng” (Kiến văn tiểu lục - tr. 284-285).
Các nhận vật tiền bối có tiếng tăm mà Chu Xán đã
kể đến, Lê Quý Đôn đều có ghi chép tiểu sử và bình luận, riêng Trình
Tuyền thì không! Tôi ghi nhận mấy hiện tượng rất lạ này để các nhà
nghiên cứu của ta xem xét thêm và cho ý kiến.
Nhân đây, tôi cũng xin phép đính chính vài điều đã
được truyền ngoa quá lâu quanh huyền thoại và truyền thuyết về Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Cái câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền!” trong Công
dư tiệp ký rõ ràng không phải nguyên văn của Chu Xán, mà là lời
của Vũ Phương Đề. Vũ Phương Đề đã cắt xén lời chua của Chu Xán và
gây ra sự hiểu lầm không nhỏ. Còn câu “Giữ chùa thờ Phật thì được
ăn oản” mà ông Bùi Duy Tân và một số nhà nghiên cứu khác ghi là
lời của Trạng Trình cũng không phải. Đó là lời văn suy đoán của
Vũ Phương Đề ghi trong Công dư tiệp ký:
“Năm Thuận Bình thứ 8 (1556), Lê Trung Tông mất, không có hoàng
nam nối ngôi. Thế tổ do dự không biết lập ai, hỏi Trạng nguyên Phùng
Khắc Khoan cũng không quyết định nổi, nên mới phải sai gia thần
ngầm đem lễ vật về tận Hải Dương để hỏi. Ông không trả lời mà chỉ
quay lại bảo các gia nhân rằng: “Vụ lúa này không được mấy, chỉ
tạ thóc giống không tốt, vậy các người phải đi tìm giống cũ mà gieo
mạ!”. Nói xong, ông quay lên xe ra chùa, sai các chú tiểu quét dọn,
đốt hương, ngoài ra không hề đá động gì đến chuyện khác, bởi ông
đã hơi tỏ cho biết cái thâm ý là “cứ việc thờ Phật thì được ăn oản”
(tr. 405).
Lại còn cái câu vẫn truyền miệng là lời của Nguyễn
Bỉnh Khiêm nói bóng gió với sứ giả của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng
cũng cứ được phiên âm sai đi. Chỉ có ông Nguyễn Quân phiên đúng:
“Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân”. Vũ Phương Đề chép là “khả
dĩ”, sau sang sách khác thì thành “vạn đại”. Theo tôi, truyền khẩu
thì thế nào cũng được nhưng đã chép vào sách giáo khoa, giáo trình
để dạy các cháu học sinh trung học hay đại học thì phải hết sức
thận trọng, chính xác. Cổ nhân rất kỵ cái lối “dĩ ngoa truyền ngoa”.
Nhà nghiên cứu văn học Hoài Thanh đã nhầm khi nhận
định rằng “Nguyễn Du thật thà đi theo nhà Nguyễn” . Còn tôi, sau
khi khảo sát, nghiên cứu thân thế và sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm
với những chứng cứ hiện có trong tay, với tất cả sự dè dặt thận
trọng, tôi cứ xin phép được khẳng định không nhầm lẫn rằng:
Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề miễn cưỡng đi theo nhà
Mạc!
xem tiếp
>>
|