Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc

Trần Khuê

Giải Văn Học 2008

(Tham luận hội thảo khoa học “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc” do Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm tổ chức, Viện KHXH tháng 10-1991)

 

Thú vị biết bao khi nghe ông Okakura Kakuzo, một triết nhân Nhật Bản nói rằng: “Chúng ta hãy kính mộ cổ nhân nhiều hơn nữa nhưng hãy bắt chước cổ nhân ít hơn”. Và quan sát tình hình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những năm qua, tôi xin phép được thêm rằng: chúng ta cần biết kính trọng người cùng thời, nhưng cần suy tư độc lập để tránh sao chép những suy tư của họ”.

 

Suy tư và nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời đại của ông, tôi thấy cần định rõ chuẩn mực và hệ thống hóa mọi chứng cứ lịch sử một cách trung thực, khoa học. Như thế mới hy vọng đánh giá đúng về ông và về cái gọi là “Ngụy triều Mạc” mà ông đã hết lòng phụng sự, từ đó có thể hiểu những gì là tinh hoa của Nguyễn Bỉnh Khiêm để kế thừa và phát huy; những gì là hạn chế của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời đại Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như những danh nhân và những thời đại kế tiếp chưa tập thành để xác định rõ nhiệm vụ của chúng ta hiện nay.

 

CÓ HAI NGUYỄN BỈNH KHIÊM...

 

Theo tôi hiểu, ít nhất chúng ta đã có tới hai Nguyễn Bỉnh Khiêm: một Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường và một Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại.

Huyền thoại hoặc là không thật hoặc là cái thật đã được huyền hóa nghĩa là được cường điệu, tô đậm, phóng đại theo ý chí, ước vọng của người đời. Với huyền thoại, cái mơ ước cao hơn cái thật, niềm hy vọng và lòng sùng tín trùm lên nhân vật và sự kiện; tất cả trở thành thần tượng, tuyệt vời, thiêng liêng, khả kính. Ở đó chỉ còn là sùng tín và hy vọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại và một Nguyễn Bỉnh Khiêm đạo cao đức trọng, giỏi thi ca và có tài tiên tri, một con người siêu việt vượt cao hơn cả mọi thứ vua chúa đương thời, sống vĩnh hằng trong tâm thức của muôn người, muôn đời. Bàn về Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại là chuyện cực khó, vì đó là một hiện tượng đã định hình được khẳng nhận và nhất thành bất biến, không thể thêm bớt nữa.

 

Tôi thành kính nghiêng mình trước Nguyễn Bỉnh Khiêm - huyền thoại, một hiện tượng thuộc về tâm thức dân tộc và với một ý nghĩa nào dó, đây cũng là một hiện tượng văn hóa dân tộc. Nhưng đứng trên giác độ nghiên cứu khoa học, tôi chú ý nhiều hơn, có thể là chủ yếu, đối với một Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường.

 

Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường, tôi muốn khảo sát (cho dù tư liệu còn chưa đầy đủ), tôi muốn đánh giá (cho dù chuẩn mực, tiêu chí chưa dễ được số đông chấp nhận) và tôi muốn rút ra những bài học thích đáng, bổ ích cho hôm nay (cho dù những khái niệm này chưa phải đã có chung một thức nhận).

 

Nhưng có lẽ, điều cần thiết và quan trọng là tôi muốn duyệt lại mấy vấn đề không được quyền tranh cãi nữa vì nó đã nằm trong tâm thức của nhiều thế hệ và đặc biệt là giới khoa học quyền uy đã khẳng định trên mặt sử sách, báo chí không chỉ dăm ba thập kỷ mà dăm ba thế kỷ.

 

Sở dĩ tôi dám liều mạng và sẵn sàng đón mọi búa rìu thị phi vì tôi ý thức được rằng mình đang nghiên cứu một Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc vì lợi ích của sự nghiệp bảo vệ văn hóa dân tộc, vì lợi ích của một cuộc cách mạng và một chế độ mà vài ba thế hệ chúng ta đã đổ mồ hôi và xương máu ra xây dựng nó và hiện tại giữa một thời đại đầy biến cố phi thường, chúng ta lại đang ra sức bảo vệ nó như bảo vệ chính mạng sống của mình. Mấy vấn đề đó là:

 

1. Vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại bỏ ra một nửa sau của đời mình để phụng sự nhà Mạc vốn bị coi là “ngụy triều”?
2. Phải chăng nhà Mạc đã có những mặt tích cực mà hầu hết các sử gia cổ xưa và hiện đại không nhìn thấy hoặc nhìn thấy mà không chấp nhận, còn Nguyễn Bỉnh Khiêm thì lại nhìn thấy và chấp nhận?
3. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người chán đời hay yêu đời? Là người của nhàn dật hay của hành động?
4. Về mặt thi pháp, Nguyễn Bỉnh Khiêm có gì hay, có gì dở, có gì hơn, có gì kém so với người đương thời?
5. Trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những thành tựu gì đóng góp vào sự phát triển và cả vào sự ngưng trệ của ý thức hệ dân tộc?
Nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi thấy có mấy điểm hết sức lý thú:

 

1. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn nhà Mạc để phụng sự và đã toàn tâm, toàn ý phụng sự nhà Mạc.

 

Khi nhà Mạc giành ngôi nhà Lê thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ở tuổi 37 (1491-l527). Và khi vua cha Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho vua con là Mạc Đăng Doanh thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa tròn 40 tuổi, nghĩa là đúng vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”. Quan sát và ngẫm nghĩ về thời cuộc 8 năm liền (từ l527-l534), ông quyết định vác lều chõng đi thi và sau khi đã đỗ rất cao (Trạng nguyên), ông làm quan với triều Mạc Đăng Doanh, rồi tiếp theo là các triều Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên và Mạc Mậu Hợp. Ngoài những đợt nghỉ ngắn hạn, ông chỉ chính thức “huyền xa” (về trí sĩ) vào năm đã ở tuổi 73:

 

Điểm kiểm hành niên thất thập tam
Huyền xa sai vãn đã ưng tàm.
(Đếm tuổi mình đã bảy mươi ba.
Treo xe hơi muộn, cũng nên thẹn).


Ông còn ân hận vì sức yếu rồi nên không giúp rập nhà vua được nữa:


Trì khu tự hứa ta vô lực
Vinh tiện hà cầu khởi thị tham.
(Vốn tự thẹn đua bay với người, than ôi không đủ sức
Không cầu sang hèn đâu phải là tham).
(Về hưu gửi quan Thượng thư bộ Lại Kế Khê bá Giáp Hải)

 

Trong khoảng 30 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hết lòng phò 4 triều vua Mạc - hành trạng của ông, thơ văn của ông và các bạn đồng liêu của ông đã minh định điều đó. Và phải lý giải sao cho thỏa đáng khi ông được phong tặng rất nhanh những chức tước quan trọng dưới triều các vua Mạc?

Lý giải sao cho thấu tình đạt lý về hơn hai chục bài thơ nói về việc hộ giá nhà vua đi đánh giặc và không phải chỉ đi một lần? Chỉ cần đọc kỹ 4 bài viết về chuyện “hộ giá...” và sáu bài “Qua sông.. Hữu” cũng đủ hiểu cảm hứng và lòng chân thực của ông. Và tôi nhất trí hoàn toàn với Ngô Đăng Lợi rằng không thể coi lời thơ khen tặng của Lại bộ thượng thư Giáp Hải đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là “lời nói vu vơ không căn cứ”:

 

Danh quán Nho gia lôi phấn địa
Lực phù nhật cốc trụ kình thiên;
Tứ triều huân nghiệp nhân trung kiệt
Cửu lão quang nghi thế thượng tiên.
(Tiếng tăm ông lừng lẫy làng nho như sấm rền mặt đất
Năng lực của ông phò vua như cột chống đỡ trời
Huân nghiệp trải bốn triều, ông là tài năng kiệt xuất giữa cõi người
Dung nghi rực rỡ của tuổi chín mươi, ông khác gì vị tiên nơi trần thế).

 

Điểm qua vài nét như vậy đủ thấy, thật đáng nghi ngờ những ý kiến đoán định, suy diễn (mà hầu hết đều sao chép từ Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề) rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm nghe lời khuyên của bạn hữu hoặc ông ở cái thế không ra không được” (Bùi Duy Tân). Rõ ràng tuổi tác, hành trạng và tác phẩm của ông đã chứng minh rằng ông đi thi ở tuổi 44 và làm quan với nhà Mạc cho đến tận năm 73 là hoàn toàn tự nguyện, chẳng có chứng cứ nào nói lên rằng ông miễn cưỡng hay bị bó buộc.

 

Việc ông không sớm ra thi để làm quan với nhà Mạc cũng là điều dễ hiểu: ông không thể đem tài năng ra phụng sự cái loại “vua quỷ Lê Uy Mục” và “vua lợn Lê Tương Dực”. Ngay sau khi nhà Mạc đã giành ngôi vua của nhà Lê, ông cũng chẳng vội vã gì: quan sát và suy ngẫm 8 năm ròng, ông mới quyết định ra thi và làm quan với nhà Mạc.

 

Cân nhắc tính toán thận trọng nhường đó mà các vị nghiên cứu vẫn không chấp nhận. Trong khi đó các vị vẫn không ngớt lời ca tụng ông là tài giỏi, có bản lĩnh vững chắc, có tài tiên tri, tiên giác. Đặc biệt, Vũ Phương Đề lại khẳng định một cách võ đoán và cực kỳ mâu thuẫn: “Sở dĩ có bài thơ trên vì ông biết rõ nhà Lê sẽ được trung hưng (...).

 

Quả nhiên về sau nhà Lê trung hưng, bốn phương trở lại yên tĩnh, bấy giờ bạn hữu đều khuyên ông ra làm quan, đến năm bốn mươi tư tuổi ông mới chịu ra ứng thí. Khoa Hương thí ấy ông được đỗ đầu, rồi năm sau, tức là năm thứ sáu đời nhà Mạc (1535), lại ra tỉnh thi được đỗ thứ nhất, khi vào thi Đình đối lại đỗ Tiến sĩ đệ nhất danh, được bổ chức Đông các hiệu thư trong thời Thái Tông nhà Mạc, ông có làm hai bài thơ “Xuân thiện ngự tửu”, “Đều dự hạng ưu”, rồi thăng chức Hữu thị lang bộ Hình, sau thời gian ngắn lại thăng chức Tả thị lang kiêm chức Đông các đại học sĩ” (Công dư tiệp ký, tr. 400).

 

Tiên tri rằng nhà Lê sẽ trung hưng mà lại ra làm quan với nhà Mạc, làm một cách tận tụy để được thăng hết chức này đến tước khác và đến cực phẩm triều đình: Lại bộ thượng thư Thái phó Trình Quốc công. Quả thật là không thể hiểu nổi!

 

Càng khó hiểu hơn khi thấy rất nhiều người đều cả tin Vũ Phương Đề. Tôi không ngạc nhiên và phàn nàn gì nhiều lắm về các nhà nghiên cứu hiện đại của ta về Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 

Đáng ngạc nhiên là một trí tuệ lớn như Phan Huy Chú mà vẫn nhẹ dạ sao chép lại Vũ Phương Đề. Nếu tôi không nhầm thì người thận trọng nhất là Lê Quý Đôn - Trong Lê triều thông sử, ông không chép Nguyễn Bỉnh Khiêm vào chư thần truyện, cũng chẳng chép vào nghịch thần truyện. Ông lờ đi, thật rất tiếc! Do đó mọi điều hiểu sai, hiểu nhầm về Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu như đều phát xuất từ bản phả ký của Vũ Phương Đề.

 

Về tinh thần tự nguyện phục vụ nhà Mạc của Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn có hàng loạt chứng cứ để xác minh. Chính Vũ Phương Đề đã ghi nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm - đời thường của chúng ta có tất cả ba bà vợ. Ba bà này đã sinh hạ 12 người con gồm 7 trai, 5 gái. Trong số 7 trai thì có tới 6 người thành đạt và đều làm quan với nhà Mạc, lập được quân công và được thụ phong những chức tước quan trọng. Nghĩa là không phải riêng ông mà cả nhà ông đã phục vụ nhà Mạc.

 

Đáng chú ý hơn nữa là Nguyễn Bỉnh Khiêm có một loạt bạn thân trước kia từng làm quan với nhà Lê sau lại ra làm quan với nhà Mạc như: Lễ Độ bá Vũ Cẩn, Văn Đạt bá Nguyễn Mậu, v.v... sau này ông vẫn thân thiết và cùng xướng họa với những người bạn này. Ngay cha con Trạng nguyên Nguyễn Thiến, trọng thần nhà Mạc, sau bỏ theo Lê - Trịnh, ông cũng vẫn chẳng hề cắt đứt tình cảm.

 

Theo tôi, phải chăng sau này các sử gia và các nhà nghiên cứu cứ nhìn theo con mắt của Tống Nho Hậu Lê triều hoặc Nguyễn triều nên mới trở nên khắt khe. Còn vào thế kỷ 16-17, việc chạy sang phía bên này hay bên kia cũng chẳng có gì lấy làm điều.

 

Chẳng có gì đến nổi day dứt quá đáng. Cứ xem như danh tướng Nguyễn Quyện chức đến Thái bảo, tước đến Thạch quận công mấy lần chạy qua chạy lại giữa Mạc và Lê -Trịnh là đủ biết. Hồi Lê Thái tổ lại càng rộng rãi: “Những bậc hào kiệt có tài văn võ, mà còn bỏ sót chưa có tiến cử, hoặc bị thù hằn, kìm hãm, hãy tới ngay Sở thiếu phó Lê Văn Linh, tại đây sẽ xét thực tài đức sẽ tâu trình bổ dụng.

 

Chỉ cốt được người tài đức, chứ không câu nệ về sự đã ra làm quan với nhà Minh, hoặc kẻ sĩ thường”. (Đại Việt thông sử- tr. 82). Sau này Quang Trung cũng rộng rãi như thế. Có lẽ đây là một vấn đề khá thú vị đáng cho các nhà sử học và các nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu.

 

2. Nguyễn Bỉnh Khiêm coi việc đánh giặc để giúp các vua Mạc và cứu dân là đại nghĩa.

 

Mấy nhà nghiên cứu của ta hay gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm những tư tưởng mà ông không có. Ông Bùi Duy tân viết: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có thái độ gay gắt trong phê phán chiến tranh phong kiến cát cứ (...) trong hoàn cảnh ấy, có lẽ trong thâm tâm ông nghĩ rằng: nếu cách ly các tập đoàn phong kiến ra xa nhau, để mỗi tập đoàn ổn định ở một nơi thì chiến tranh tuy chưa thể dập tắt ngay, cũng có thể hy vọng giảm thiểu được phần nào”. (Văn học Việt Nam tr. l31).

 

Ông Đinh Gia Khánh cũng diễn một ý tương tự: “Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm trước sau vẫn phê phán nạn cát cứ và chiến tranh phong kiến kia mà! Vậy có lẽ cần giải thích bằng lý do khác!

 

Rất có thể là Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy rằng các tập đoàn phong kiến đánh nhau mãi mà chưa tập đoàn nào chịu tập đoàn nào, cho nên để giảm nhẹ sự đối địch, giảm nhẹ xung đột bằng cách tạm thời tách các tập đoàn ra, mỗi tập đoàn ở một góc và ở xa nhau như thế, thì chúng đỡ đánh nhau”. (Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tr. 11).

 

Thế là cả hai ông đều mang huyền thoại trộn lẫn với hiện thực rồi đặt giả thiết và giả thiết theo kiểu đó thực vô cùng tai hại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm. Rồi các ông lại cố vớt vát bênh vực bào chữa cho Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Thế là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm một việc với động cơ lối, nhưng biện pháp thì tiêu cực và hậu quả thì lại nghiêm trọng.

 

Việc làm của ông chứa đầy mâu thuẫn nan giải, mâu thuẫn có nguồn gốc từ sự lẩn quẩn, bế tắc của chế độ phong kiến mà ông không thể vượt qua được”. (Bùi Duy Tân). Còn ông Đinh Gia Khánh thì coi: “Đó là mâu thuẫn trong việc làm của Nguyễn Bỉnh Khiêm”.


Thực ra đó không phải là mâu thuẫn của Nguyễn Bỉnh khiêm, đó chính là mâu thuẫn trong tư duy nghiên cứu của các ông. Chỉ khi nào người nghiên cứu dựa trên chứng cứ xác thực, chú ý đến quá trình phát triển biện chứng của sự vật và tránh được lối tư duy định kiến, tiên nghiệm thì mới hy vọng khỏi mắc sai lầm.

 

Một hệ thống luận cứ hiện thực và lịch sử chứng minh rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề có những mâu thuẫn kiểu đó. Ông không hề đứng trên các tập đoàn phong kiến mà dứt khoát đứng về một phía: tập đoàn nhà Mạc. Ông không hề phản đối chiến tranh chung chung mà phản đối những kẻ gây ra chiến tranh chống vua Mạc.

 

Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh
Chủ ưu thần nhục trọng thương tình
(Lũ giặc ngang ngược điên khùng phạm cả vào kinh đô
Chúa lo thì tôi nhục, đáng thương tình biết bao)
(Cảm hứng thi (tam)
Thiên tâm như bất dung gian ngụy
Ứng vị vương sư trợ nhấtn kỳ.
(Lòng trời nếu chẳng dung tha kẻ gian ngụy
Thì hãy một phen trợ sức cho quân nhà vua).
(Quá Hữu Giang (nhị).

 

Rõ ràng “nghịch tặc”, “gian ngụy” và tất cả những chữ “tặc” khác trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chỉ tập đoàn Lê-Trịnh; còn các từ “chủ”, “vương sư” hoặc “cửu trùng”, “thánh chủ”, “quân vương”, “đại giá”, v.v... là dùng để chỉ vua nhà Mạc.

 

Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những kẻ chống lại vua nhà Mạc là “gian” là “ngụy”; Nguyễn Bỉnh Khiêm theo vua Mạc đánh dẹp bọn gian ngụy để cứu nhân dân thoát cảnh bị “treo ngược”:

 

Đại giá tây tuần trú thử sơn.
Nhất phương sĩ nữ vọng an toàn
Đảo huyền dân cửu ly hung đạo:
Trắc đát thùy vô xúc thiện đoan.
(Tây hộ quá Lục Yên châu).
(Xa giá lớn đi miền Tây, đóng quân ở núi này,
Khắp vùng trai gái đều trông mong được sống yên ổn.
Lâu nay dân sa vào tay bọn trộm cướp hung dữ như kẻ bị treo ngược;
Không ai là không động lòng từ thiện, tỏ tình thương xót).
(Hộ giá đi miền Tây qua châu Lục Yên).

 

Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân và một số vị nghiên cứu khác cứ cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm mấy lần đi “tòng nhung” là do “bị vua Mạc ép đi thco quân”. Có lẽ một phần do các vị hiểu nhầm nghĩa từ “cưỡng” trong “cưỡng tòng nhung”, “cưỡng trí tòng nhung”, “cưỡng truy tù”...

 

Từ “cưỡng” có ba nghĩa: 1. Không chịu khuất (resister, contrarier); 2. Ép buộc (foreer, obliger, contraindre); 3. Gắng sức (s’efforeer).
Vì hiểu nhầm nên ông Đinh Gia Khánh và ông Hữu Thế mới dịch thành “gắng gượng”:

 

Tuổi quá sáu chục, gắng gượng theo quân.
(Niên du lục thập cưỡng tòng nhung).
Gượng dấn mình dự cuộc viễn chinh.
(Cưỡng trí tòng nhung tán viễn chinh).
Chỉ có ông Lỗ Công hiểu đúng và dịch đúng:
Tuổi già gắng gỏi việc binh nhung
Giết giặc mong vì nước dốc trung.
(Lão lai tương dữ cưỡng tòng nhung
Diệt tặc do hoài báo quốc trung).
Và ông Hữu Thế cũng có một lần dịch đúng:
Già si đần, gặp thời loạn lạc
Gắng theo quân bàn bạc mưu cơ.
(Lão độn trùng phùng thư loạn ly
Dự tham nhung mạc cường truy tùy).

 

(Cũng nên lưu ý “cưỡng” có thể dùng làm ngoại động từ (verbe transitif) cũng có thể dùng làm nội động lừ (verbe intransitif).

 

Trong các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu hết từ “cưõng” được dùng làm nội động từ. Do đó chủ ngữ ẩn trong các dòng thơ này không thể là vua Mạc mà chính là một đại từ phản thân (pronom réfléchi) chỉ tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dịch là “gắng sức” hay “gắng gỏi” mới chính xác và mới bảo đảm được sự nhất quán của nội dung tác phẩm vì thực tế Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ bị ép buộc và ông cũng chưa bao giờ nói rằng mình bị ép buộc. Ông cho việc “tòng nhung” giết giặc là trách nhiệm của mình đối với vua, với dân.

 

Ông hành động vì muốn báo dân ơn nước:
“Diệt tặc do hoài báo quốc trung”.
Vì muốn cho nhân dân sống yên vui:
“Đồ thán dân giai nhẩm tịch tê”
(Dân lầm than khổ cực đều được nằm trên nệm chiếu yên ổn).
Ông hành động vì nghĩa:
Trì khu mị đạn hiệu vi cung
Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết
(Ruổi rong chẳng quản thân hèn.
Tấm lòng chí nghĩa vững bền sắt son).
Hơn nữa, vì muốn làm sáng đại nghĩa:
Vị quốc tồn cô minh đại nghĩa
Chỉ kỳ diệt tặc phục thần châu.
(Vì nước bảo toàn ấu chúa, nêu rõ nghĩa lớn
Định thời hạn giết giặc, khôi phục kinh đô).

 

3. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài thao lược:

 

Theo Đinh Gia Khánh thì Nguyễn Bỉnh Khiêm “bị vua Mạc ép đi theo quân. Có lẽ vì vua Mạc muốn dùng uy vọng của ông để tăng thanh thế cho mình, chứ chưa có chứng cớ gì về tài thao lược điều binh khiển tướng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cả” (tr. 15).

 

Ông cũng nhấn mạnh cái ý “cũng vì các vua Mạc kế tiếp nhau tìm cách sử dụng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho nên lại có cớ để luôn luôn thăng chức cho ông (...). Vua Mạc trọng thị Nguyễn Bỉnh Khiêm thì mộl phần có thể thực lòng (tôi gạch dưới – T.K) mà cũng vì muốn lợi dụng uy vọng của ông (tôi gạch dưới – T.K)”.


Cái chuyện “ép đi theo quân” rõ ràng không hề có đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Còn chuyện “lợi dụng uy vọng của ông” cũng cần được xem lại. Nhưng cái chuyện “có lẽ”, “có thể là” mà cứ được nhấn đi nhấn lại dưới những ngòi bút có uy vọng như ngòi bút của ông Đinh Gia Khánh quả thật là điều khá gay cấn cho những lớp đến sau.


Theo những chứng cứ mà tôi thu lượm được trong thư tịch xưa trên những văn bản đáng tin cậy thì không hề có chuyện vua Mạc mang theo đi trong hàng quân của mình một ông già đầy uy vọng nhưng lại thiếu tài thao lược. Trước hết phải nói rõ rằng nhà Mạc không hề thiếu những người có tài thao lược, chuyện này tôi sẽ đưa đủ chứng cứ trong phần bàn về nhà Mạc. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thiếu tài thao lược hoặc không lập nên công trạng gì đáng kể hẳn vua Mạc không cần phong tặng ông những chức tước quan trọng như thế. Cũng không nên quá tin vào lối nói khiêm nhượng của ông mà tưởng thật rằng ông thiếu tài cán hoặc sự đóng góp mưu kế của ông là không đáng kể:


Đã hai dạo, già yếu theo quân đến phía sông miền Tây
...
Bỗng nghe đồn lũy giặc bị quét sạch không.
Mưu kế vạn toàn ở chốn miếu đường là tài lực của chư tướng.
Thư sinh này sao dám nói đến công lao.
(Qua sông Hữu (sáu bài).

 

Có một lần, Mạc Phúc Nguyên ở vào tình thế nguy cấp. Ông đã hiến kế và làm chuyển biến được tình hình. Chiến công lừng lẫy này, tác giả Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rất sơ sài, không hề nói rõ tại sao quân Lê-Trịnh đang thắng lớn ở vùng Kinh Bắc và trên nhiều vùng khác, thế mà đột nhiên Trịnh Kiểm hốt hoảng vội vã rút quân về Thanh Hoa.

 

Đây là một kế sách rất lớn giúp vua Mạc chuyển bại thành thắng, bảo toàn được đất đai và kinh đô. Trong Công dư tiệp ký, Vũ Phương Đề ghi rất sơ lược. Sau khi thuật khá chi tiết về công lao và mưu trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm giúp vua Mạc dụ hàng được Nguyễn Quyện, Vũ Phương Đề viết: “Trong thời gian ấy, đức Thế tổ đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang khắp xa gần, đánh nhau mấy trận ở cửa Thần Phù, Khiêm vương Mạc Kính Điển đại bại, Thế tổ thừa cơ tiến binh theo đường núi phía tây ra đánh Kinh Bắc, khiến cho trong ngoài nơm nớp lo sợ, ông hiến kế hư thực, họ Mạc theo đó thi hành, bấy giờ trong cõi mới tạm ổn định” (tr. 403).

 

Chỉ có Lê Quý Đôn là ghi khá cụ thể, tỉ mỉ:

 

“Tháng 3 năm Chỉnh Trị thứ 4 (1561), có người hiến kế với Phúc Nguyên rằng: Quân nhà Lê xâm lấn ta rất gay gắt! Ta sở dĩ kiên thành cố thủ để cầm cự lâu dài, là có ý muốn chờ họ thiếu lương sẽ bị bại. Nhưng hiện nay đường vận tải của họ rất thuận tiện, tịch tế lương thảo liên tiếp đầy đủ, họ hoành hành đã hai năm nay, thanh thế rất mạnh. Thì còn chờ đến lúc nào mới thừa cơ đánh phá? Chi bằng dùng cách xuất kỳ bất ý, ngầm dẫn quân tiến thẳng vào Thanh Hoa, đánh ngay vào nơi tâm phúc, thì đạo quân đang vây ở Kinh Bắc và Hải Dương ta không cần đánh cũng sẽ tự giải. Đó là cái kế “đánh nước Ngụy để cứu nước Hàn” của Tôn Tử vậy”.

 

Phúc Nguyên nghe theo lời tren, bèn sai viên tướng khác thay Kính Điển trấn thủ Kinh Bắc rồi ngầm vời Kính Điển về Kinh sư.

 

Tháng 7, Kính Điển dùng thuyền vào cướp Thanh Hoa, đánh vào các cửa biển. Các tướng trấn thủ cửa biển là Vũ Sư Thước và Lại Thế Khanh không phòng bị, trong khi hoảng hốt, vội lui quân về giữ Vạn lại. Thái sư được tin trên, bèn gấp rút truyền lệnh cho Hoàng Đình Ái dẫn quân về trấn thủ Thanh Hoa (...). Thái sư cũng trệit hết quân ở các doanh lui về Thanh Hoa” (Đại Việt thông sử tr. 310).

 

Ghi chép cụ thể, tỉ mỉ và tương đối khách quan là tác phong rất đáng quý của Lê Quý Đôn khi viết Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục cũng như nhiều sách khác của ông. Nhưng ở đoạn văn trên lại có một chi tiết không cụ thể (có thể nói đây là hiện tượng hiếm thấy vào loại số 1 của Lê Quý Đôn), đó là chi tiết “có người hiến kế với Phúc Nguyên”.

 

“Người hiến kế” này là ai? Hiến kế với vua và lại được nhà vua “nghe theo” hẳn không thể là người ít danh vọng và uy tín. Đọc suốt Đại Việt thông sử cũng như Kiến văn tiểu lục, người ta dễ nhận thấy dưới các triều Mạc, nhất là Mạc Phúc Nguyên và Mạc Mậu Hợp, có rất nhiều triều thần hiến kế sách trị nước và giữ nước cho nhà vua.

 

Nhưng dù người hiến kế có nhiều hay ít uy vọng, dù được nhà vua nghe theo hay không nghe theo; Lê Quý Đôn cũng ghi chép rất cụ thể nội dung kế sách và họ tên kèm theo chức tước của người hiến kế.

 

Có thể nói trường hợp này là rất ngoại lệ, rất đặc biệt. Cũng như việc Lê Quý Đôn ghi đủ loại chư thần và nghịch thần, và trong Kiến văn tiểu lục, mục Tài phẩm (tài năng và phẩm hạnh), ông ghi mấy chục danh nhân kể cả một số người đã làm quan với “ngụy Mạc” như Lễ bộ thượng thu Hà Nhậm Đại, nhưng tài năng, phẩm hạnh, hành trạng... của Lại bộ thượng thư Thái phó Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông không ghi chép. (Có những nhân vật ít nổi tiếng như Lê Bá Ly mà Lê Quý Đôn ghi về tài năng phẩm hạnh 2 trang giấy đặc tới hơn 500 chữ, một số nhân vật khác cũng còn được một vài trăm chữ.

 

Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm thì không được ghi tiểu truyện). Lê Quý Đôn chỉ ghi về Nguyễn Bỉnh Khiêm rất sơ sài: Một lần ghi về thi đỗ, một lần ghi về “trí sĩ”, một lần ghi về “tên tác phẩm”. Thế thôi? À, có thêm một lần ông ghi ý kiến của Chu Xán về Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683).

 

Xán có tiếng hay thơ. Ông ta chép những thơ đề vịnh núi sông và bè bạn tặng đáp vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt 48 bài, nhan đề là Sứ giao ngâm. Khi về dâng lên triều đình. Trong các bài thơ ấy có câu rằng: “Y quan văn vật trọng Nam cương”, lại tự chua rằng: “Nhân vật nước này, về phần lý học, có Trình Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi và Lương Thế Vinh; còn về phần văn học có khá nhiểu”.

 

Như thế thì tiếng tăm tiền bối nước ta vang đến tận Trung Quốc đã lâu. Lại lúc ấy, triều thần có Nguyễn Đình Trụ, Trần Thọ, Tống Nho và Vũ Duy Khương phụng mệnh đón tiếp; Nguyễn Công Vọng, Lê Hy, Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Điền tiếp đãi ở sứ quán, Nguyễn Trạc Dụng và Nguyễn Công Nho sung vào việc hộ tống; đều có thơ tặng, vừa thất ngôn vừa tứ tuyệt gồm 34 bài. Chu Xán đều chép thành tập nhan đề là Nam giao hảo âm, phụ vào với tập trước, đều khắc vào ván gỗ phát hành. Như thế cũng đủ rõ Văn hiến nước ta được Trung Quốc quý trọng” (Kiến văn tiểu lục - tr. 284-285).

 

Các nhận vật tiền bối có tiếng tăm mà Chu Xán đã kể đến, Lê Quý Đôn đều có ghi chép tiểu sử và bình luận, riêng Trình Tuyền thì không! Tôi ghi nhận mấy hiện tượng rất lạ này để các nhà nghiên cứu của ta xem xét thêm và cho ý kiến.

 

Nhân đây, tôi cũng xin phép đính chính vài điều đã được truyền ngoa quá lâu quanh huyền thoại và truyền thuyết về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cái câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền!” trong Công dư tiệp ký rõ ràng không phải nguyên văn của Chu Xán, mà là lời của Vũ Phương Đề. Vũ Phương Đề đã cắt xén lời chua của Chu Xán và gây ra sự hiểu lầm không nhỏ. Còn câu “Giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản” mà ông Bùi Duy Tân và một số nhà nghiên cứu khác ghi là lời của Trạng Trình cũng không phải. Đó là lời văn suy đoán của Vũ Phương Đề ghi trong Công dư tiệp ký:


“Năm Thuận Bình thứ 8 (1556), Lê Trung Tông mất, không có hoàng nam nối ngôi. Thế tổ do dự không biết lập ai, hỏi Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan cũng không quyết định nổi, nên mới phải sai gia thần ngầm đem lễ vật về tận Hải Dương để hỏi. Ông không trả lời mà chỉ quay lại bảo các gia nhân rằng: “Vụ lúa này không được mấy, chỉ tạ thóc giống không tốt, vậy các người phải đi tìm giống cũ mà gieo mạ!”. Nói xong, ông quay lên xe ra chùa, sai các chú tiểu quét dọn, đốt hương, ngoài ra không hề đá động gì đến chuyện khác, bởi ông đã hơi tỏ cho biết cái thâm ý là “cứ việc thờ Phật thì được ăn oản” (tr. 405).

 

Lại còn cái câu vẫn truyền miệng là lời của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói bóng gió với sứ giả của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng cũng cứ được phiên âm sai đi. Chỉ có ông Nguyễn Quân phiên đúng: “Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân”. Vũ Phương Đề chép là “khả dĩ”, sau sang sách khác thì thành “vạn đại”. Theo tôi, truyền khẩu thì thế nào cũng được nhưng đã chép vào sách giáo khoa, giáo trình để dạy các cháu học sinh trung học hay đại học thì phải hết sức thận trọng, chính xác. Cổ nhân rất kỵ cái lối “dĩ ngoa truyền ngoa”.

 

Nhà nghiên cứu văn học Hoài Thanh đã nhầm khi nhận định rằng “Nguyễn Du thật thà đi theo nhà Nguyễn” . Còn tôi, sau khi khảo sát, nghiên cứu thân thế và sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm với những chứng cứ hiện có trong tay, với tất cả sự dè dặt thận trọng, tôi cứ xin phép được khẳng định không nhầm lẫn rằng:

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề miễn cưỡng đi theo nhà Mạc!

 

xem tiếp >>