IV. PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc Việt, tôi đã dùng phương pháp y-khoa
nhiều nhất, và phương pháp khoa học mới đây. Tôi đã được giáo sư
Tarentino về khoa Anatomie của Ý và giáo sư sinh vật Vareilla Pascale
của Pháp tích cực giúp đỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoảng
5000 trước Tây-lịch, lãnh thổ tộc Việt nằm từ phía Nam sông Trường-giang
tới vịnh Thái-lan. Phía Tây tới tỉnh Tứ-xuyên Trung-quốc, phía Ðông
tới biển Nam-hải. Nghĩa là bao gồm toàn bộ Hoa-Nam, và Ðông Dương.
1. Dùng
biện chứng y-khoa vào khảo cổ
Biện chứng căn bản của người nghiên cứu y-khoa là:
"Khi có chứng trạng, ắt có nguyên
do"
Biện chứng này đã giúp tôi rất nhiều
trong khi nghiên cứu về nguồn gốc tộc Việt. Khi nghiên cứu, những
tài liệu cổ, dù là huyền thoại, dù là huyền sử, dù là triết học,
tôi cũng coi là chất liệu quan trọng. Như tôi đã trình bày, nước
tôi có một tôn giáo, mà toàn dân đều theo đó là thờ các anh hùng
dân tộc. Tại những đền thờ chư vị anh hùng, thường có một cuốn phổ
kể sự tích các ngài. Vì theo thời gian, tiểu sử các ngài bị dân
chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những
học giả đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ qua.
Tôi lại suy nghĩ khác:
"Không có nguyên do, sao có chứng
trạng?"
Vì vậy tôi đã tìm ra rất nhiều điều
lý thú. Tỷ dụ: Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời vua
An Dương cũng cho rằng chuyện thần Kim-quy do vua móng làm nỏ bắn
một lúc hàng nghìn mũi tên khiến Triệu-Đà bị bại là hoang đường,
là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lại tin và cuối cùng tôi tìm ra sự
thật. Hồi ấy Cao Cảnh hầu Cao Nỗ đã chế ra nỏ liên châu, như súng
liên thanh ngày nay. Tôi cũng tìm ra kích thước của ba mũi tên đồng
của nỏ này.(4)
Trước tôi đã có các nhà khảo cổ căn
cứ vào xương sọ tìm được tại Trung và Bắc-phần (70 cái). Trong đó
có 38 cái do người Pháp sưu tầm thuộc thời đại Đồ-đá, thì 29/38
cái được kết luận là thuộc chủng loại Malanésien, Indonésien, Australoide
hay Nam-á. Với 29 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể.
Gần đây các học giả Việt-Nam lại tìm ra 32 xương sọ, thuộc thời
đại Đồ-sắt (1000 năm trước Tây-lịch đến 300 sau Tây-lịch), thì 22/27
thuộc chủng loại Mongoide. Với 32 cái thì không thể kết luận rằng
đó là toàn thể tộc Việt thuộc chủng loại Mongoide.
Những tác giả trên đã căn cứ vào chỉ
số xương sọ để kết luận. Nhưng y học đã tiến bộ, căn cứ vào chỉ
số xương sọ để định nguồn gốc đã bị đánh đổ. Nguyên do: Khi con
người di cư đến vùng khác, bị khí hậu, bị nước uống, bị thực phẩm
làm thay đổi xương sọ.
Chúng tôi dùng hệ thống ADN, hệ thống
sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những người đang sống của 35 dòng
họ tại Hoa Nam với Việt-Nam, rồi với những dòng họ khác tại Hoa
Bắc. Lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không
phân biệt thời gian. Cuối cùng chúng tôi tìm ra sự khác biệt của
những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc, và đi đến kết
luận: lãnh thổ Văn-lang, tới hồ Ðộng-đình. (5)
2. Những
vấn đề
Ranh giới phía Nam của nước Văn-lang tới nước Hồ-tôn đã quá rõ ràng.
Ranh giới phía Tây với Ba-thục, phía Đông với biển lại tùy thuộc
vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc qủa tới hồ Động-đình,
thì ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba-thục và phía Đông phải
giáp Đông-hải.
Có thực như thế không? Vì vậy tôi
đi tìm ranh giới phía Bắc.
Dưới đây là huyền thoại, huyền sử mà tôi đã bấu víu vào để đi nghiên
cứu. Tôi cần tra cứu cho ra:
Vấn đề thứ nhất,
Cổ sử Việt đều nói rằng ranh giới phía Bắc tới hồ Ðộng-đình. Có
thực như vậy không?
Truyền thuyết nói Ðế-Minh lập đàn tế cáo trời đất, rồi chia thiên
hạ làm hai. Từ Ngũ-lĩnh về Bắc cho Ðế-Nghi, sau thành Trung-quốc.
Từ Ngũ-lĩnh về Nam truyền cho vua Kinh Dương sau thành Văn-lang.
Núi Ngũ-lĩnh, hồ Ðộng-đình nay vẫn còn. Nhưng liệu có di tích gì
chứng minh chăng? Tôi phải đi tìm Ngũ-lĩnh, hồ Ðộng-đình.
Vấn đề thứ nhì,
Truyền thuyết nói: Sau khi vua KinhĐương, vua Lạc-Long kết hôn,
đều lên núi Tam-sơn trên hồ Ðộng-đình hưởng thanh phúc ba năm. Lúc
ngài lên núi có chín vạn hoa tầm xuân nở. Tôi phải đi tìm núi Tam-sơn
ở hồ Ðộng-đình. Liệu trên núi này có di tích gì về cuộc tình năm
nghìn năm trước chăng?
Vấn đề thứ ba,
Truyền sử nói: Sau khi Quốc-tổ Lạc-Long, Quốc-mẫu Âu-Cơ cho các
hoàng tử đi bốn phương qui dân lập ấp, dặn rằng: Mỗi năm về Tương-đài
chầu Quốc-tổ, Quốc-mẫu một lần.
Cổ sử nói: Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm
mươi con lên núi, hẹn mỗi năm một lần gặp nhau ở cánh đồng Tương.
Cánh đồng Tương ở đâu? Nếu có cánh đồng Tương thì cũng có thể kết
luận rằng biên giới nước Văn-lang tới hồ Ðộng-đình. Tôi phải đi
tìm.
Vấn đề thứ tư,
Chứng tích thứ nhất xác định:
Bộ Sử-ký của Tư-mã, Nam-Việt liệt truyện có thuật việc vua nước
Nam-Việt là Triệu-Ðà thường đem quân quấy nhiễu biên giới Việt-Hán
là Nam-quận, Trường-sa (Mậu-Ngọ 183 trước Tây-lịch).
Như vậy biên giới Nam-Việt (tức Việt-Nam) với Hán (tức Trung-quốc)
ở vùng này. Ngày nay Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam, nằm ngay
Nam ngạn sông Trường-giang.
Vấn đề thứ năm,
Huyền sử nói rằng: trong cuộc khởi nghĩa của vua Trưng, khi Trưng
Nhị, Trần Năng, Phật Nguyệt, Lại Thế-Cường, Trần Thiếu-Lan đem quân
đánh Trường-sa (39 sauTây-lịch), thì nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử
trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm-giang (sự thật đó là Tương-giang thông
với hồ Ðộng-đình).
Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh-Nam
và Hán (42 sau Tây-lịch). Tướng Lĩnh-Nam tổng trấn hồ Ðộng-đình
là Phật Nguyệt, tướng Hán là Mã Viện, Lưu Long (40 sau Tây-lịch).
Có thực thế không? Có hai trận Trường-sa, hồ Ðộng-đình không? Nếu
có thì ranh giới thời Lĩnh-Nam (40-43 sau Tây-lịch) quả tới hồ Ðộng-đình.
Vấn đề thứ sáu,
Năm 42, sau Tây-lịch, ba tướng thống lĩnh Kỵ-binh thời vua Trưng
là Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang, đánh nhau với quân
Hán tại Bồ-lăng thuộc Tượng-quận, vì quân ít, thế cô, ba ông tự
tử. Vậy Bồ-lăng ở đâủ Có trận này không? Nếu có trận này thì ranh
giới Lĩnh-Nam phía Tây quả tới Ba-thục (Tứ-xuyên.)
Thưa Quý-vị,
Nhưng các sử gia gần đây (1900-1975) đều đặt nghi vấn rằng làm gì
biên giới thời Văn-Lang rộng như vậy? Nếu có chỉ ở vào phía Bắc
biên giới Hoa-Việt hiện nay trăm cây số là cùng. Lại cũng có những
người dốt nát (1975-1991), không đủ sách đọc, không theo kịp sự
tiến triển của y học, họ chỉ đọc những tài liệu sai lầm, rồi họ
như con ngựa kéo xe, chỉ biết có vậy, chúng tôi thấy họ ngu dốt
quá, nên không trả lời, cũng như giải thích.
Tôi căn cứ vào những chứng trạng trên mà đi tìm nguồn gốc.
V. ÐI
TÌM BIÊN GIỚI NƯỚC VĂN- LANG
1. Núi Ngũ-lĩnh
Cuối năm Canh-Thân (1980) tôi lấy máy bay đi Bắc-kinh, rồi đổi máy
bay ở Bắc-kinh đi Trường-sa. Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam.
Tất cả di tích của tộc Việt như hồ Động-đình, núi Tam-sơn, núi Ngũ-lĩnh,
sông Tương, Thiên-đài, Tương-đài, cánh đồng Tương đều nằm ở tỉnh
này.

Hình: Biên giới cổ của tộc Việt
Tôi đi nghiên cứu với một thư giới
thiệu của giới chức cao cấp y học Pháp-Hoa (CMFC). Có một sự hiểu
lầm lớn, vì trong thư giới thiệu các giới chức y-khoa chỉ xin được
giúp đỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xúc với sở du-lịch, ty văn
hóa địa phương, họ đều tưởng tôi tới Trường-sa để nghiên cứu sự
cấu tạo hình thể cùng bệnh tật dân chúng tại đây. Thành ra tôi bị
mất khá nhiều thì giờ nghe thuyết trình của các đồng nghiệp về vấn
đề này. Tôi cư ngụ trong khách sạn Trường-sa tân điếm nằm trên đại
lộ Nhân dân.
Tôi mua cuốn địa phương chí mới nhất
của tỉnh, rồi mò vào thư viện ty văn hóa, sở bảo vệ cổ-tích, đại-học
văn-khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên văn
khoa cũng ít ai ghé mắt tới.
Đầu tiên tôi đêi tìm núi Ngũ-lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay
đó là năm dãy núi gần như ngăn đôi Nam, Bắc Trung-quốc
Một là Ðại dữu lĩnh.
Hai là Quế dương, Kỳ-điền lĩnh.
Ba là Cửu-chân, Ðô-lung lĩnh.
Bốn là Lâm gia, Minh-chữ lĩnh.
Năm là Thủy-an, Việt-thành lĩnh.
Về vị trí:
- Ngọn Thủy-an, Việt-thành chạy từ tỉnh Phúc-kiến, đến huyện Tuần-mai
tỉnh Quảng-đông.
- Ngọn Ðại dữu chạy từ huyện Ðại dữu (Nam-an), tỉnh Giang-Tây đến
huyện Nam-hùng tỉnh Quảng-đông.
- Ngọn Cửu-chân, Ðô-lung chạy từ Ðạo-huyện tỉnh Hồ-nam tới Gia-
huyện tỉnh Quảng-tây.
- Ngọn Lâm-gia, Minh-chữ chạy từ Lâm-huyện tỉnh Hồ-Nam đến Liên-huyện
tỉnh Quảng-Ðông.
- Ngọn Quế dương từ Toàn-huyện tỉnh Hồ-nam tới huyện Quế-lâm tỉnh
Quảng-tây.
Lập tức tôi thuê xe đi một vòng thăm các núi này. Tôi đi mất mười
ngày, trải gần 15.000 cây số.
Như vậy là Ngũ-lĩnh có thật, nay có
núi đã đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra: Tại sao
khi vua Minh phân chia từ Ngũ-lĩnh về Nam thuộc Lộc-Tục mà lĩnh
địa Việt tới hồ Động-đình, mà hồ ở phía Bắc núi đến mấy trăm cây
số. Tôi giải đoán như thế này:
Một là vua Minh tế trời ở trên núi
Ngũ-lĩnh là nơi người gặp tiên rồi chia địa giớị Nhưng bấy giờ dân
chưa đông, mà sông Trường-giang rộng mênh mông, sóng lớn quanh năm
nên vua Nghi chỉ giữ từ Bắc ngạn mà thôi. Còn vua Kinh Dương thì
sinh trưởng ở vùng này, lại nữa lấy con vua Ðộng-đình (một tiểu
quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc gia.
Hai là dân chúng Nam-ngạn Trường-giang
với vùng Nam Ngũ-lĩnh vốn cùng một khí hậu, phong tục, nên họ theo
về Nam không theo về Bắc, thành thử hồ Ðộng-đình mới thuộc lãnh
địa Việt.
Kết
luận:
"Quả có núi Ngũ-lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung-quốc hiện thời,
vậy có thể núi này đúng là nơi phân chia lãnh thổ Văn-Lang và Trung-Quốc
khi xưa."
Ánh sáng đã soi vào nghi vấn huyền thoại.
2. Thiên-đài
nơi tế cáo của vua Minh
Tương truyền vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quế dương,
phân chia lãnh thổ Lĩnh-Bắc tức Trung-Quốc, Lĩnh-Nam tức Đại-Việt.
Đàn tế đó gọi là Thiên-đàị Nhưng dãy núi Quế dương có mấy chục ngọn
núi nhỏ không biết ngọn Thiên-đài là ngọn nào? Trên bản đồ không
ghi. Sau tôi hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho tôi thấy núi Thiên-đài
nằm gần bên bờ Tương-giang. Điều này dễ hiểu, tỷ như ngày nay, du
khách nhìn bản đồ sẽ không thấy địa điểm Sài-gòn. Nhưng trong dân
chúng, họ vẫn nhớ tên cũ.
Tôi đi thăm Thiên-đài.
Thiên-đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải
đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được
cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì. Chùa xây bằng gạch
nung, mái lợp ngói. Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói
bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như
lún sâu. Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá
bị bong ra. Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều. Những
câu đối, chữ còn, chữ mất.
Tại thư viện Hồ-nam tôi tìm được một
tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng
bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi:
Thiên-đài di sự lục
Trinh-quán tiến sĩ Chu Minh-Văn soạn.
Trinh-quán là niên hiệu của vua Đường Thái-Tông, từ năm Đinh-Hợi
(627) đến Đinh-Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến-sĩ năm nào?
Tuy sách do Chu Minh-Văn soạn, nhưng
dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép
lại vào đời Thanh Khang-Hỵ Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu
Minh-Văn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh-Văn, của một sư ni tên
Đàm-Chi, không rõ chép vào bao giờ.
Phần thứ ba chép pháp danh các vị
trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang-Hy (1662-1772). Chu Minh-Văn
là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loaị văn cổ rất súc
tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ-thư, Ngũ-kinh
cùng kinh Phật.
Nhân viên quản thủ thư viện thấy
tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm
phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ được học loại
văn đó vào hồi sáu, bảy tuổi thì ông sẽ hết phục.
Tài liệu Chu Minh-Văn cũng nhắc lại
việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh
ra Lộc-Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài
cũng mang tên Thiên-đài núi cũng mang tên Thiên-đài sơn, Minh-Văn
còn kể thêm:
"Cổ thời trên đỉnh núi chỉ
có Thiên-đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Dương. Đến thời Đông-Hán,
một tướng của vua Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rút khỏi Trường-sa.
Khi rút tới Quế dương ông cùng nghìn quân lên Thiên-đài lễ, nghe
người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến,
khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm đươc núi. Về đời Đường
để xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô
hộ Lĩnh-Nam mới cho xây chùa tại đây."
Tôi biết vua Bà là vua Trưng, còn
tướng Ðào Hiển-Hiệu là em con chú của Bắc-bình vương Ðào Kỳ. Ngài
Ðào Kỳ lĩnh chức Ðại Tư-mã thời vua Trưng. Còn tướng Ðào Hiển-Hiệu
tước phong quốc công, giữ chức Hổ-nha đại tướng quân. Nữ tướng Hoàng
Thiều-Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi Trường-sa, hồ Ðộng-đình, đã
sai Hiển-Hiệu đi cản hậu, đóng nút chặn ở Thiên-đài, đợi quân Lĩnh-Nam
rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Hiển-Hiệu cùng chư quân lên núi thấy
di tích thời Quốc-tổ, Quốc-mẫu, đã không chịu lui quân, tử chiến,
khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây.
Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối:
Thoát thân Nam thành xưng sư tổ,
Thọ pháp Tây-thiên diễn Phật- kinh.
Hai câu này ngụ ý ca tụng Thái-tử Tất-Ðạt-Ða đang đêm ra khỏi thành
đi tìm lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây-thiên, đi giảng kinh.
Tam bảo linh ứng, phong điều vũ thuận,
Phật công hiển hách quốc thái an dân.
Hai câu này là ngụ ý nói: Tam bảo
linh thiêng, khiến cho mưa thuận, gió hòa đó là công lao của nhà
Phật khiến quốc thái dân an.
Nơi có dấu vết Thiên-đài, còn đôi
câu đối khắc vào đá:
Thiên-đài đại đại phân Nam, Bắc.
Lĩnh địa niên niên dữ Việt-thường.
Nghĩa là: Từ sau vụ vua Minh tế cáo
ở đây, đài thành Thiên-đài, biết bao đời phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ-lĩnh
năm này qua năm khác với giòng giống Việt-thường.
Chỗ miếu thờ của Ðào Hiển-Hiệu có đôi câu đối:
Nhất kiếm Nam-hồ kinh Vũ-đế,
Thiên đao Bắc-lĩnh trấn Lưu Long.
Nghĩa là: Một kiếm đánh trận ở phía
Nam hồ Ðộng-đình làm kinh tâm vua Quang-Vũ nhà Hán. Ý chỉ nữ tướng
Phật-Nguyệt đánh bại Mã Viện ở phía Nam hồ Ðộng-đình. Một nghìn
tay đao do Hiển-Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ-lĩnh trấn Lưu Long.
Kết
luận:
"Như vậy việc vua Minh tế cáo trời đất là có thật. Vì có Thiên-đài
nên thời Lĩnh-Nam mới có trận hồ Động-đình. Hai sự kiện đó chứng
tỏ lãnh địa thời vua Trưng cũng như Văn-Lang xưa qủa tới Ngũ-lĩnh,
hồ Động-đình."
3. Cánh
đồng Tương
Nhắc lại: Có hai huyền sử nói về cánh đồng Tương.
- Một là Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm mươi
con lên núi, mỗi năm tái hội nhau trên cánh đồng Tương một lần.
- Hai là Quốc-tổ, Quốc-mẫu truyền các hoàng tử đi khắp bốn phương
quy dân lập ấp, mỗi năm hội tại cánh đồng Tương một lần.
Tôi đoán:
Cả hai vị Quốc-tổ Kinh Dương, Lạc-Long sau khi kết hôn đều đem Quốc-mẫu
lên núi Tam-sơn trên hồ Ðộng-đình hưởng thanh phúc ba năm. Vậy thì
cánh đồng Tương sẽ gần đâu đó trên hồ Ðộng-đình.
Phía Nam hồ Ðộng-đình là sông Tương-giang, chảy theo hướng Nam-Bắc
dài 811 km, lưu vực tới 92500km2, chẻ đôi tỉnh Hồ-nam với Quảng-tây.
Vậy cánh đồng Tương sẽ nằm trong lưu vực Tương giang.
Tôi thuê thuyền đi từ cảng Dương-lâm
nơi xuất phát ra Tương-giang là hồ Động-đình, xuống Nam, qua Tương-âm,
tôi dừng lại, nghiên cứu địa thế cùng thăm chùa Bạch-mã.
Đây là địa phận quận Ích dương.Vô
tình tôi tìm ra một nhánh sông Âu-giang và một cái hồ rất lớn, vào
mùa nước lớn rộng tới 4-5 mẫu, vào mùa nước cạn chỉ còn 2-3 mẫu
mà thôi. Suốt lộ trình từ hồ Động-đình trở xuống, trên cửa sông
Tương cũng như hai bên bờ chim Âu bay lượn khắp nơi. Đặc biệt trên
Âu-giang, Âu-hồ, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu-giang, tôi
trở lại sông Tương, xuôi tới Trường-sa thủ phủ của Hồ-nam rồi tới
các quận lỵ Tương-đàm, Chu-châu, Hành dương, Quế dương.
Không khó nhọc tôi tìm ra:
"Cánh đồng Tương, tức là vùng
trũng phía Tây-ngạn, giới hạn phía Bắc là hồ Động-đình, Nguyên-giang.
Phía Nam là Linh-lăng, Hành-giang. Phía Tây là vùng Chiêu dương,
Lãnh-thủy. Nhưng nay cánh đồng Tương chỉ còn khu vực tứ giác: Tương-giang,
Nguyên-giang, Liên-thủy, Thạch-khê-thủy"
Sau khi tìm ra cánh đồng Tương, Thiên-đài,
cùng những đàn chim âu, tôi giải đoán như thế này:
"Quốc-tổ Lạc Long kết hôn với
công chúa con Đế-Lai, hẳn công chúa cũng có tên. Nhưng vì lâu ngày
người ta không nhớ được tên ngài, nên đã lấy con chim Âu, rất hiền
hòa, xinh đẹp ở vùng hồ Động-đình, Tương-giang mà gọi là Âu-Cơ (Cơ
là vợ vua). Vì người ta gọi Quốc-mẫu là Âu-Cơ, thì họ nghĩ ngay
đến Quốc-mẫu sinh đẻ. Khi chim Âu đẻ thì phải đẻ ra trứng. Còn con
số một trăm, là con số triết học Việt-Hoa dùng để chỉ tất cả. Như
trăm bệnh là tất cả các bệnh, trăm họ là toàn dân. Trăm con có nghĩa
là tất cả dân ttrong nước đều là con Quốc-mẫu."
Kết
luận:
"Đã có cánh đồng Tương, thì chuyện Quốc-tổ, Quốc-mẫu hẹn mỗi
năm hội tại đây một lần là có. Khi sự kiện có núi Ngũ-lĩnh, có Thiên-đài.
Nay chứng cớ được kiểm điểm, thì lãnh địa của tộc Việt xưa quả tới
hồ Động-đình."
4. Hồ
Ðộng-đình và Tam-sơn
Hồ Động-đình nằm ở phía Nam sông Trường-giang. Hồ được coi như nơi
phát tích ra tộc Việt. Địa khu Bắc sông Trường-giang được gọi là
tỉnh Hồ-bắc, tức đất Kinh-châu thuở xưa. Địa khu phía Nam sông Trường-giang
được gọi là tỉnh Hồ-nam. Hồ Động-đình nằm trong tỉnh Hồ-nam. Hồ
thông với sông Trường-giang bằng hai con sông. Cho nên người ta
coi hồ như nơi chứa nước sông Trường-giang, rồi đổ vào Tương-giang.
Trên Bắc-ngạn hồ có núi Tam-sơn. Tôi đã lên đây ba lần.
Tương truyền các các nữ tướng thời
vua Trưng như Trưng-Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan
đánh chiếm Trường-sa vào ngày đầu năm, vì vậy tôi cũng tới đây vào
dịp này để thấy rõ phong cảnh, rồi tả trận đánh trong bộ Cẩm-khê-di-hận
(6). Hồ rộng 3915 cây số vuông, độ sâu về mùa cạn là 38,5 mét, về
mùa nước lớn là 39,20 mét.
Tra trong chính sử thì quả hồ Động-đình
thuộc lãnh địa Văn-Lang.
Như trên đã nói, triều đại Thần-Nông
Bắc đến đời vua Du-Võng thì mất vào năm 2696 trước Tây-lịch, chuyển
sang thời đại Hoàng-Đế. Sử gia Trung-Quốc cho rằng Hoàng-Đế là tổ
lập quốc.
Nói theo triết học Tây phương thì
vua Du-Võng gốc từ Thần-Nông thuộc nông nghiệp cư trú trong vùng
đồng bằng ở phương Nam lấy hỏa làm biểu hiệu nên còn gọi là Viêm-đế.
Còn vua Hoàng-đế gốc ở dân du mục, săn bắn, từ phương Bắc xuống.
Dân du mục nghèo, nhưng giỏi chinh chiến. Dân nông nhiệp giàu nhưng
không giỏi võ bị nên bị thuạ Bộ Sử-ký của Tư-mã-Thiên, quyển 1,
Ngũ-đế bản kỷ chép rằng:
"...Thời vua Hoàng-đế, họ
Thần-Nông (Bắc) đã suy, chư hầu chém giết lẫn nhau, khiến trăm họ
khốn khổ vô cùng. Triều Thần-Nông không đủ khả năng chinh phục.
Vua Hiên-Viên Hoàng-Đế thao luyện can qua, chinh phục những chư
hầu hung ác. Vì vậy các nơi theo về rất đông. Trong các chư hầu
thì Suy-Vưu mạnh nhất.
Vua Du-Võng triều Thần-Nông định
đem quân xâm lăng chư hầu, nhưng chư hầu chỉ tuân lệnh Hoàng-Đế.
Vua Hoàng-Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh mã, vỗ về trăm họ, giúp
đỡ bốn phương, luyện tập thú dữ rồi đại chiến với vua Du-Võng ở
Bản-tuyền, thành công.
Suy-Vưu làm lọan, không tuân đế
hiệu. Hoàng-Đế triệu tập chư hầu cùng Suy-Vưu đại chiến ở Trác-lộc,
bắt sống Suy Vưu. Chư hầu tôn ngài làm Thiên-tử thay họ Thần-Nông.
Trong thiên hạ nơi nào không thuận vua Hoàng-Đế đem quân chinh phục.
Lãnh thổ của Hoàng-Đế, Đông tới
biển, vùng núi Hoàn-sơn, Đại-tông. Phía Tây tới núi Không-động,
Kê-đầụ Nam tới Giang, Hùng, Tương... "(7)
Sông Giang đây tức là sông Trường-giang, Hùng đây tức là Hùng-nhĩ-sơn,
Tương là Tương-sơn. Bùi Nhân đời Tống lập giải Sử-ký nói rằng Tương-sơn
thuộc Trường-sa.
Kết
luận:
"Từ chính sử, huyền-sử đều cho biết lĩnh địa Văn-lang tới hồ
Động-đình. Khi vua Hoàng-Đế dứt triều Thần-Nông Bắc, thì triều Thần-Nông
Nam tức họ Hồng-bàng còn kéo dài đến 2439 năm nữa. Lãnh thổ Trung-quốc
thời Hoàng-Đế cũng chỉ tới sông Trường-giang. Phía Nam bao gồm Trường-sa,
hồ Động-đình vẫn thuộc Văn-lang."
Khi chính sử ghi chép như vậy thì
việc Quốc-tổ, Quốc-mẫu với hồ Ðộng-đình, núi Tam-sơn không còn là
huyền thoại nữa. Vậy chuyện các ngài lên núi hưởng thanh phúc nên
ghi vào chính sử.
5. Biên
giới lĩnh địa tộc Việt thế kỷ 2 trước Tây lịch
Sử Hán là bộ Sử-ký của Tư-mã Thiên. Sử Việt như bộ Ðại-Việt sử ký
toàn thư, Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục, đều ghi rằng vào
thế kỷ thứ nhì trước Tây-lịch, thời Triệu Ðà cai trị lĩnh địa tộc
Việt, biên giới vẫn còn ở vùng Trường-sa, hồ Ðộng-đình.
Sử Hán, sử Việt đều chép chi tiết
giống nhau về vụ Triệu Ðà lập quốc ở lãnh thổ Lĩnh-Nam. Tần Thủy-
Hoàng sai Ðồ Thư mang quân sang đánh Âu-lạc, chiếm được vùng đất
phía Bắc, lập làm ba quận:
- Nam-hải (Quảng-đông và một phần
Phúc-kiến),
- Quế-lâm (Quảng-tây, Hồ-nam và một phần Quí châu),
- Tượng-quận (Vân-nam và một phần Quý-châu).
Vua An Dương sai Trung-tín hầu Vũ
Bảo-Trung và Cao-cảnh hầu Cao Nỗ đem quân chống, giết được Ðồ Thư
và tiêu diệt nữa triệu quân Tần. Tuy vậy vua An Dương cũng không
chiếm lại vùng đất đã mất.
Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên
quan Tần là Triệu Đà trấn vùng Nam-hải, đem quân chiếm vùng Tượng-quận,
Quế-lâm, rồi dùng gián điệp trong vụ án Mỵ-Châu, Trọng-Thủy mà chiếm
được Âu-lạc lập ra nước Nam-Việt. Lãnh thổ nước Nam-Việt bao gồm
những vùng nào ?
Không một sử gia nào chép rõ ràng.
Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng lãnh địa
Nam-Việt là lãnh địa thời Văn-lang.
Trong khi Triệu Đà lập nghiệp ở phương
Nam, thì cuộc nội chiến ở phương Bắc chấm dứt. Hạng Vũ, Lưu Bang
diệt Tần, rồi Lưu Bang thắng Hạng Vũ lập ra nhà Hán. Lưu Bang lên
ngôi vua sai Lục Giả sang phong chức tước cho Triệu Đà. Đúng ra
Triệu Đà cũng không chịu thần phục nhà Hán, nhưng họ hàng thân thuộc,
mồ mả của Triệu Đà đều ở vùng Chân-định. Đà sợ nhà Hán tru diệt
họ hàng, cùng đào mồ cuốc mả tổ tiên lên mà phải lùi bước.
Năm 183 trước Tây-lịch, Cao-tổ nhà hán là Lưu Bang chết, Lã-hậu
chuyên quyền cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam-Việt.
Triệu Đà không thần phục nhà Hán, rồi đem quân đánh Trường-sa, Nam-quận.
Kết
luận:
"Trường-sa là quận biên cương của Hán. Vậy ít nhất lãnh thổ
Nam-Việt, Bắc tới Trường-sa. Nam quận là quận ở phía Bắc sông Trường-giang.
Mà Nam-quận là quận biên cương Hán, thì biên giới Nam-Việt ít nhất
tới Nam-ngạn sông Trường-giang"
6. Lĩnh
địa thời vua Trưng
6.1. Vua Bà của Trung-quốc là vua Trưng
Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn Ủy-ban y học Pháp-Hoa
(CMFC) đi trao đổi tại các tỉnh cực Nam Trung-Quốc như Quảng-đông,
Quảng-tây, Vân-nam, Quý-châu và Tứ-xuyên... tôi thấy khắp các tỉnh
này, không ít thì nhiều đều có đạo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm
được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những cán bộ Trung-quốc ở địa phương,
họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người
nổi lên chống tham quan. Khắp năm tỉnh, tôi ghi chú được hơn trăm
đền, miếu thờ những tướng lĩnh thời vua Bà.
Bấy giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ-nam,
nhiều di tích về đạo thờ vua Bà hơn. Tại thư viện bảo tồn di tích
cổ , tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ tám chép
sự tích nữ vương Phật Nguyệt như sau:
"Ngày xưa, Ngọc-hoàng Thượng-đế
ngự trên điện Linh-tiêu, có hai công chúa đứng hầu. Vì sơ ý hai
công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc-hoàng Thượng-đế nổi giận đầy hai
công chúa xuống hạ giới. Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày
thì Tiên-lại giữ sổ tiên-giới tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống
theo hai công chúa. Ngọc-hoàng Thượng-đế sợ công chúa làm loạn ở
hạ giới, ngài mới truyền Thanh-y đồng tử đầu thai để theo dẹp loạn.
Thanh-y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không
dám đi. Ngọc-hoàng Thượng-đế truyền Nhị thập bát tú đầu thai theo.
Thanh-y đồng tử sau là vua Quang
Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần
võ tướng đời Ðông-Hán."
Còn hai công chúa đầu thai xuống quận
Giao-chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc
sinh ra có hương thơm đầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh
bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi-Sách.
Thi-Sách làm phản, bị Thái-thú Tô
Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa,
được 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng
chiếm hết sáu quận của Trung-quốc ở phía Nam sông Trường-giang:
Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận, Nam-hảị Chư tướng
tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà.
Quang-Vũ nhà Hán sai Phục-ba tướng
quân Tân-tức hầu Mã Viện. Long-nhượng tướng quân Thận-hầu Lưu Long
đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ
Ðộng-đình. Mã Viện, Lưu Long bị bại. Vua Quang Vũ truyền Nhị thập
bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc
vô cùng, một tay nhổ núi Nga-mi, một tay nhổ núi Thái-sơn, đánh
quân Hán chết, xác lấp sông Trường-giang, hồ Ðộng-đình, oán khí
bốc lên tới trời.
Ngọc-hoàng Thượng-đế sai thiên-binh,
thiên-tướng trợ chiến cũng bị bại. Ngài phải sai thần Du Liệt sang
Tây phương cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tám vị Kim-cương,
ba ngàn La-hán trợ chiến cũng bị bại. Cuối cùng ngài truyền Quán
Thế Âm bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật-Nguyệt với Quan-Âm đấu phép
ba ngày ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp
nữ vương Phật Nguyệt giác ngộ, bỏ đi tu.
Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:
Tích trù Ðộng-đình uy trấn Hán,
Phương lưu thanh sử lực phù Trưng
(Một trận Ðộng-đình uy trấn Hán
Tên còn trong sử sức phù Trưng).
Bỏ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ-vương
Phật-Nguyệt, tài liệu chứng minh: Đạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam
Trung-quốc là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của
tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lại. Vua Bà mà
người Trung-hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng.
Kết
luận:
"Khi đã có nữ tướng Phật Nguyệt đánh trận Trường-sa, hồ Động-đình.
Mà có trận hồ Động-đình thì lãnh thổ thời Lĩnh-Nam, phía Bắc quả
tới phía Nam sông Trường-giang."
6.2. Quả có trận Trường-sa,
hồ Ðộng-đình năm 39 sau Tây-lịch
Huyền sử (những cuốn phổ) nói rằng khi bà Trưng Nhị cùng các tướng
Trần Năng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh Trường-sa
vào đầu năm Kỷ-Hợi (39 sau Tây-lịch). Trong trận đánh này, nữ tướng
Trần Thiếu-Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh sông Thẩm-giang (8).
Thẩm-giang chính là đọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Động-đình.
Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn
nói rằng: Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm
lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu-Lan. Năm 1980 tôi đến đây
tìm hiểu. Không khó nhọc tôi tìm ra trong cuốn địa phương chí, do
sở du lịch Trường-sa cấp, một đoạn chép:
"Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu-Lan
ở đầu sông Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Tượng đồng bị
nấu ra. Vệ binh đỏ phá luôn cả bia đá."
Tôi tìm tới nơi, thì miếu chỉ còn lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn
còn. (9)
Kết
luận:
"Thời Lĩnh-Nam quả có việc Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Trần
Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh trận Trường-sa. Trong trận, nữ tướng
Trần Thiếu-Lan tuẫn quốc. Khi có trận đánh này, thì lãnh địa thời
Lĩnh-Nam quả gồm có hồ Trường-sa, hồ Động-đình."
6.3. Quả có trận Bồ-lăng,
năm 42 sau Tây-lịch
Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu-Hiển, Đô Thống và Tam-Lang
được vua Trưng trao cho trấn tại Tượng-quận (Vân-nam). Nhưng vì
quân ít, thế cô, ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá
chỉ huy. Ba ông đã tự tận. Hiện tại đền thờ của ba ông có đôi câu
đối:
Tượng-quận dương uy nhiêu tướng
lược,
Bồ-lăng tuẫn tiết tận thần trung.
Nghĩa là:
Trận Tượng-quận dương oai, rõ tài tướng giỏị
Bến Bồ-lăng tuẫn tiết, tỏ ra thần trung.
Hầu hết các sử gia đều cho rằng: Bồ-lăng tức là bến Bồ-đề, ngoại
ô Thăng-long. Vả lãnh thổ Việt-Nam hồi đó đâu có rộng vậy?
Tôi không tin lý luận này. Tôi quyết
có trận Tượng-quận. Vì sao? Vì ba ngài chiến đấu tại Tượng-quận,
khi Tượng-quận thất thủ, tuẫn tiết thì tuẫn tiết tại chỗ, có đâu
rút từ Tượng-quận về tới Long-biên (Hà-nội) trải mấy nghìn cây số,
rồi mới tự tử? Vả cái tên bến Bồ-đề mới xuất hiện vào năm 1427-1428
khi vua Lê Thái-tổ vây Đông-đô (Thăng-long).
Vì vậy, trong dịp hè năm 1982, tôi
cầm đầu phái đoàn CMFC sang Vân-Nam, Trung-quốc, để nghiên cứu về
một giống trà có khả năng trị tuyệt chứng Cholestérol, Triglycéride...
Lợi dụng dịp nhầy, tôi quyết tìm cho ra sự thực.
Thế là phái đoàn dùng tầu đi từ Độ-khẩu theo Kim-sa-giang (Trường-giang)
qua Nam-khê, Giang-tân, Trùng-khánh, tới ngã ba sông Ô-giang, Trường-giang
thì gặp bến Bồ-lăng.
Tại đây tôi được sở du-lịch chỉ cho
xem miếu thờ ba vị thần, tướng của vua Bà. Nhưng họ không biết tên
vua Bà cùng ba vị tướng. Cả vùng này có đạo thờ vua Bà (lên đồng).
Hồi trước 1949 rất thịnh. Sau cách mạng Văn-hóa (1965-1967) miếu
được cấp cho dân chúng ở. Hỏi hướng dẫn viên du lịch về vua Bà,
họ chỉ cho biết vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hán.
Tôi đến thăm miếu. Miếu khá lớn, chủ hộ ở trong miếu trước đây là
cán bộ Văn-hóa Bồ-lăng.
Trước miếu có nhiều câu đối, nay chỉ
còn lại có ba. Ông chủ hộ khoe rằng để bảo tồn di tích văn hóa,
hằng năm ông phải mua sơn tô chữ cho khỏi mất:
Khẳng khái, phù Trưng, thời bất
lợi,
Ðoạn trường, trục Ðịnh, tiết... can vân.
Nghĩa là:
Khẳng khái phù vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâụ
Ðuổi được Tô Ðịnh, nhưng đau lòng thay, phải tự tận, khí tiết ngút
từng mây.
Tôi xin vào trong miếu xem, thì bệ
thờ nay là nơi vợ chồng ông nằm ngủ. Hai bên bệ cũng có đôi câu
đối
Giang-thượng tam anh phù nữ chúa,
Bồ-lăng bách tộc khốc thần trung.
Nghĩa là:
Trên sông Trường-giang, ba vị anh hùng phò tá nữ chúạ
Tại bến Bồ-lăng, trăm họ khóc cho các vị thần trung thành.
Ông chủ hộ thì cho rằng bách tộc là
toàn dân Trung-quốc. Tôi giảng cho ông nghe về sự tích trăm con
của Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Vì vậy chữ bách tộc đây để chỉ người Việt.
Ông thích lắm. Ông chỉ vào khoảng trống của hai cái cột thuật rằng
trước kia cũng có đôi câu đối, nhưng bị vạc mất. Ông đề nghị tôi
làm một đôi khác thay thế. Tôi nhờ hướng dẫn viên du lịch mua giùm
hai hộp sơn. Một hộp sơn đỏ loại láng và một hộp loại thiếp vàng.
Ông với tôi sơn cột mầu đỏ. Chiều hôm đó sơn đỏ khô, tôi trở lại
viết bằng sơn thiếp vàng đôi câu đối có sẵn tại đền thờ ba ngài
ở thôn Ngọc-động, huyện Gia-lâm, Hà-nội:
Tái Bắc tức chinh trần, công cao
trục Định,
Bồ-lăng dương nộ lãng, nghĩa trọng phù Trưng.
Nghĩa là:
Ải Bắc yêu gió bụi can qua, công cao đuổi Tô Định.
Bồ-lăng nổi bao đào, nghĩa nặng phù vua Trưng.
Kết
luận:
Như vậy thì quả có trận Tượng-quận. Mà có trận Tượng-quận thì biên
giới Lĩnh-Nam hồi ấy giáp Ba-Thục, tức Tứ-xuyên ngày nay.
7. Nghiên
cứu những khai quật
Vào những năm 1964-1965, giáo sư luật khoa Vũ Văn Mẫu đang sọan
thảo tài liệu về cổ luật Việt-Nam. Người giúp giáo sư Mẫu đọc sách
cổ là Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác. Cụ Giác tuy thông kinh
điển, thư tịch cổ, nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng phương pháp
phân tích, tổng hợp Tây-phương. Cụ giới thiệu tôi với giáo sư Mẫu.
Tôi đã giúp giáo sư Mẫu đọc, soạn các thư tịch liên quan đến cổ
luật.
Chính vì vậy tập tài liệu "Cổ-luật
Việt Nam và tư pháp sử" có chương mở đầu "Liên hệ giữa
nguồn gốc dân tộc và Cổ luật Việt-Nam" (10). Bấy giờ tôi còn
trẻ, không đủ tài liệu khai quật của Trung-Quốc, của Bắc Việt-Nam,
và bấy giờ những lý thuyết về ADN chưa có hệ thống, nên có nhiều
chi tiết sai lầm. Hôm nay đây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng-triều
tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác, anh linh giáo sư Vũ Văn-Mẫu. Tôi xin lỗi
các vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các sinh-viên về những sai
lầm đó.
Triều đại Hồng-Bàng thành lập từ năm
2879 năm trước Tây-lịch, tương đương với thời đại đồ đá mài (le
néolithique), tức cuối thời đại văn-hóa Bắc-sơn (11). Trong những
khai quật về thời đại này tại Bắc-Việt, Đông Vân-Nam, Quảng-Đông,
Hồ-Nam, người ta đều tìm được những chiếc rìu thiết diện hình trái
soan, trong khi tại Nhật, Bắc Trường-giang chỉ tìm được lọai rìu
thiết diện hình chữ nhật, chứng tỏ vào thời đó có một thứ văn hóa
tộc Việt giống nhau.
Sang thời đại văn-hóa Đông-sơn (12)
hay đồ đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đã tìm được trống
đồng Đông-sơn trên bờ sông Mã (Thanh hóa). Sự thật trống đồng đã
tìm thấy ở toàn bộ các tỉnh Nam Trường-giang như Hồ-nam, Quý-châu,Vân-nam,
Quảng-đông, Quảng-tây, Nam dương, Lào (13), Bắc và Trung-Việt. Nhưng
ở Nam dương, Lào rất ít. Nhiều nhất ở Bắc-Việt, rồi tới Vân-nam,
Lưỡng-quảng. Phân tích thành phần gần như giống nhau
Ðồng 53%,
Thíếc 15-16%,
Chì 17-19%,
Sắt 4%.
Một ít vàng bạc.
Khảo về y-phục, mồ mả, răng xương
trong các ngôi mộ, qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất
sau Tây-lịch, tôi thấy trong các vùng Nam Trường giang cho đến Trung
Bắc-Việt, cùng Lào, Thái đều giống nhau. Bây giờ dùng hệ thống ADN
kiểm những bộ xương, kiểm máu người sống, chúng tôi đã biện biệt
được sự khác biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc.
Kết
luận:
"Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Ðộng-đình, Tây tới Tứ-xuyên
như cổ sử nói"
8. Tổng
kết
Sáu vấn đề tôi nêu ra ở trên, rồi đi tìm, tất cả đều còn đầy đủ
di tích.
Như vậy: Biên giới cổ của nước Việt-Nam,
với các triều đại Hồng-bàng, Âu-lạc, Lĩnh-Nam phía Bắc quả tới hồ
Ðộng-đình, phía Tây giáp Tứ-xuyên.
V. KẾT
LUẬN
Thưa Quý-vị
Quý-vị đã cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền sử,
cổ sử, cùng triết học, cho tới tin học, y học để tìm về nguồn gốc
dân tộc Việt-Nam, về biên giới cổ của tộc Việt.
Trong chính sử Trung-quốc, Việt-Nam
đều ghi rõ ràng nguồn gốc tộc Việt, nhưng cái nguồn gốc đó căn cứ
vào cổ thư của người Trung-hoa, nên hoàn toàn sai lạc. Bởi cổ thư
cho rằng người Trung-hoa tự sinh ra, rằng người Việt chẳng qua do
những người Trung-hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống
ADN, chúng ta biết rằng chính những người ở châu Phi đến Đông Nam-á
trước, rồi di chuyển lên Hoa-Nam. Tại Hoa-Nam giống người này lại
hợp với giống người từ châu Phi sang châu Âu, rồi từ châu Âu vào
Trung-á, hợp với người ở Hoa-Nam mà thành tộc Hán.
Nhưng ngược lại, do cổ thư Trung,
Việt, hay do ADN, chúng ta cũng biết rất rõ biên cương nước Việt
thời mới lập quốc.
Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những
nhà Nho, chỉ đọc sách chữ Hán của người Hoa, người Việt viết. Mà
những sách này đều chép rằng tộc Việt gồm có trăm họ khác nhau,
mang tên Bách-Việt. Những tên Âu-Việt, Lạc-Việt, Đông-Việt, Nam-Việt,
Việt-Thường đều thuộc Bách-Việt cả. Cái tên trăm họ hay trăm Việt
(Bách-Việt) phát xuất từ huyền thọai vua Lạc-Long sinh ra trăm con.
Trăm có nghĩa là toàn thể, tất cả, chứ không hoàn toàn là con số
như ta tưởng ngày nay (14).
Các vị cổ học, học cổ sử, rồi coi
lĩnh địa tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường-giang lấy mốc là
hồ Động-đình với sông Tương, núi Ngũ-lĩnh là đương nhiên. Chính
hồi nhỏ, khi học tại trường Pháp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ
được học vài trang ngắn ngủi về nguồn gốc tộc Việt, trong khi đó
gia đình cho tôi đọc mấy bộ sử dài hàng mấy chục nghìn trang của
Hoa, của Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp,
Anh văn số trang gấp năm sáu). Chính tôi cũng nhìn nguồn gốc tộc
Việt, lĩnh thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ học.
Nay tôi mới chứng minh được.
Phải chờ cho đến khi tôi ra trường
(1964). Bấy giờ giáo sư Vũ Văn-Mẫu thạc-sĩ luật khoa nhờ Hoàng triều
tiến-sỹ Nguyễn Sỹ-Giác sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giác học theo
lối cổ, không biết những phương pháp quy nạp, tổng hợp nên giới
thiệu giáo sư Mẫu với tôi. Ngay từ lần đầu gặp nhau, mà một già,
một trẻ đã có hai cái nhìn khác biệt.
Giáo sư Mẫu trên 50 tuổi mà lại có
một cái nhìn rất trẻ, tôi mới có 25 tuổi lại có cái nhìn rất già
về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sơ khởi, bấy giờ tôi mới
biết có rất nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc dân tộc Việt, mà
các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa ra. Vì vậy
tôi đã sưu tầm tất cả những gì trong thư tịch cổ, giúp giáo sư Mẫu
đem viết thành tài liệu giảng dạy. Nhưng sự sưu tầm đó không đầy
đủ, vì chỉ căn cứ trên thư tịch cổ.
Nay tôi mới biết có quá nhiều sai
lầm, tôi xin lỗi các đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quý-vị.
Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài-gòn, thuộc
Việt-Nam cộng-hòa đang là nước chống Cộng, nên tôi không thể sang
Trung-Quốc, cũng như về Bắc tìm kiếm thêm tài liệu. Phải chờ đến
năm 1976 làm việc cho CMFC, hàng năm dẫn các đồng nghiệp sang Trung-Quốc
nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới có dịp tìm kiếm lại di tích
xưa trong thư viện, trong bảo tàng viện, trên bia đá cùng miếu mạo,
đền chùa và nhất là đến tại chỗ nghiên cứu. Gần đây nhờ các đồng
nghiệp dùng hệ thống ADN, tôi mới biện biệt được nguồn gốc tộc Việt,
biên cương thời lập quốc của tộc Việt.
Hôm nay tôi xin kết luận với các bạn
rằng:
- Người Trung-hoa không phải là con trời như những văn gia cổ của
họ viết, dù ngày nay họ còn nghĩ như vậy.
- Họ cũng không tự sinh ra, rồi tản đi tứ phương.
- Không hề có việc người Trung-hoa trốn lạnh hay vì lý do chính
trị di cư xuống vùng đất hoang, tạo thành nước Việt.
- Trong lịch sử quả có một số người
Trung-hoa di cư sang Việt-Nam sau những biến cố chính trị. Như ngày
nay người Việt di cư đi sống khắp thế giới.
- Lại càng không có việc người Việt
gốc từ dòng giống Mã-lai như một vài người ngố ngếch đưa ra.
- Theo sự nghiên cứu bắng hệ thống
ADN, từ cổ, giống người Trung-hoa, do giống người từ Ðông Nam-á
di lên. Những người Ðông Nam-á lại đến từ châu Phi qua ngả Nam-á
vào thời gian hơn 20.000 năm trước.
- Người châu Phi đến Bắc Trung-hoa
do ngả Âu-châu rồi vào Trung-á, khoảng 15.000 năm. Rồi hai giống
người này tạo thành tộc Hoa.
- Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam
sông Trường-giang, xuống mãi vịnh Thái-lan.
- Biên giới nước Việt thủa lập quốc
gồm từ Nam sông Trường giang đến vịnh Thái-lan, Ðông tới biển. Tây
tới Tứ-xuyên của Trung-quốc ngày nay.
Ðến đây tôi xin phép các vị giáo sư,
quý khách, các sinh viên cho tôi ngừng lờị. Xin hẹn lại quý vị đến
tháng 11-92 tôi sẽ trình bày trước quý vị về nguồn gốc triết Việt.
Trân trọng kính chào quý vị.
Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ,
Giám đốc Trung-quốc sự vụ
Tài liệu nghiên cứu chính:
SÁCH CHỮ HÁN
Tư Mã-Thiên, Sử ký, Trung-hoa thư cục Thượng-hải xuất bản 1959
Ban-Cố, Tiền Hán thư, Trung-hoa thư cục xuất bản 1959
Phạm Việp, Hậu Hán thư, Trung hoa thư cục xuất bản 1959.
Hoài Nam Tử, quyển 18, Trùng Hoa thư cục Ðài Bắc xuất bản, 1959.
Cố Dã-Vương, Ðịađư chí, Cẩm-chương thư cục xuất bản 1920.
Trần Luân-Quýnh, Hải quốc kiến văn lục, cổ bản, thư viện Paris.
Lê Quý-Ðôn, Phu-biên tạp lục, cổ bản của thư viện Paris.
Lê Quý-Ðôn, Ðại-Việt thông sử, cổ bản của thư viện Paris.
Phan huy-Ích, Lịch triều biến chương loại chí, cổ bản của thư viện
Paris.
Quốc-sử quán, Hoàng-Việt địa dư chí, bản của thư viện Paris.
Quốc-sử quán, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản của thư
viện Paris.
Ðịa đồ xuất bản xã, Trung-hoa nhân dân cộng hòa quốc phân tỉnh địa
đồ tập, Bắc-kinh 1974.
Ðại học văn khoa Hồ-nam, Hồ-nam lịch đại khảo chứng 1980.
Cùng rất nhiều tài liệu không tác giả, lưu trữ tại thư viện, bảo
tàng viện Hồ-nam, Quý-châu, Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-Nam.
SÁCH CHỮ PHÁP
Léonard Aurouseau La première conquête chinoise des pays anamites,
BEFEO XXIII
Claude Madrolle, Le Tonkin Ancien, BEFEO, XXXVII
SÁCH CHỮ VIỆT
Ðào Duy-Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt-nam, Hà-nội 1946.
HẾT
Trở
về
|