Thử
tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam:
bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN
Bác-sĩ Trần
Ðại-Sỹ
Giám đốc Trung-quốc sự vụ, viện Pháp-á
Chúng tôi xin giới thiệu với độc
giả Việt-Nam bài diễn văn của Giáo-sư Trần Đại-Sỹ đọc trong dịp
khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp-Á (Institut Franco-Asiatique
viết tắt là IFA). Nguyên văn bằng tiếng Pháp, đây là bản dịch tiếng
Việt của Tăng Hồng Minh. Trong dịp khai giảng niên học này, IFA
đã mời một số đông các học giả, trí thức và ký giả tham dự. Sau
bài diễn văn, có cuộc trao đổi rất thú vị.
Xin nhắc lại, trong khoảng thời
gian 1977-1992, tác giả làm việc cho Liên-hiệp các viện bào chế
châu Âu (Coopérative Européenne Pharmaçeutique, viết tắt là CEP)
và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (Commité Médical Franco-Chinois
viết tắt là CMFC), nên đã được các đồng nghiệp giúp đỡ, dùng hệ
thống ADN để tìm lại nguồn gốc dân tộc Việt-Nam.
Chính với công trình nghiên cứu
của tác giả trong thời gian 1977-1991, dùng hệ thống ADN phân biệt
dân-tộc Trung-hoa, dân tộc Việt-Nam...đã kết thúc cuộc tranh cãi
90 năm qua biên giới cổ của Việt–Nam. Kết luận về nguồn gốc dân
tộc Việt-Nam bằng khoa ADN đi ngược lại với tất cả các thuyết từ
trước đến giờ. Các thuyết này khẳng định người Việt do người Hoa
di cư xuống để trốn lạnh, để tỵ nạn v.v. Nhưng ADN cho biết chính
người ở vùng Đông Nam Á đã đi lên phương Bắc thành người Hoa.
Sau khi bài diễn văn này phổ biến
(1991), có một số "học giả" vì không theo kịp đà tiến
hóa của khoa học, đã lên tiếng chỉ trích chúng tôị Biết rằng họ
dốt nát quá, muốn giải thích cho họ, họ phải có một trình độ nào
đó... vì vậy chúng tôi không trả lờị Phần nghiên cứu của chúng tôi
quá dài, quá chuyên môn. Độc giả muốn tìm hiểu thêm có thể đọc công
trình nghiên cứu dưới đây:
J.Y.CHU, cùng 13 nhà bác học Trung-quốc
cũng nghiên cứu Di-truyền học ADN (DNA), công bố năm 1998: The Nation
Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 tháng 7 năm 1998.
Tài liệu khẳng định rằng nguồn gốc người Trung-hoa, Đông Á, do người
Đông-Nam-á đi lên, chứ không phải do người Trung-hoa di cư xuống.
Về bài diễn văn này, từ năm 1991,
có rất nhiều bản dịch sang nhiều thứ tiếng, đăng trên nhiều báo
khác nhaụ Mỗi dịch giả lại tự ý lược đi, đôi khi cắt mất nhiều đoạn.
Nay chúng tôi xin dịch nguyên bản, đầy đủ. Vì vậy độc giả thấy có
nhiều đoạn quá chuyên môn, xin lướt qua.
Trong khi diễn giả trình bầy, ông có ngắt ra nhiều đoạn, để thính
giả thảo luận. Các bài trích đăng trước không ghi phần này. Để độc
giả dễ theo dõi, cô Tăng Hồng Minh (THM) ghi chép, chú giải đặt
ngay dưới đoạn liên hệ, thay vì ghi ở cuối bài.
Khi xuất bản lần thứ nhất², bộ
Anh-hùng Bắc-cương của giáo-sư Trần, chúng tôi có cho trích một
phần bài này in vào cuối quyển 4. Nay chúng tôi công bố toàn bộ
tài liệu, lấy làm tài liệu chính thức và phủ nhận tất cả những bản
do nhiều nơi phổ biến trước đây.
Paris ngày 10-10-2001
Sở tu thư, viện Pháp-Á
SƠ TẦM
VỀ TỘC VIỆT
Năm lên năm, tôi học chữ Nho, một loại chữ của Trung-quốc, nhưng
dùng chung cho hầu hết các nước vùng Á-châu Thái-bình dương (ACTBD).
Thầy khai tâm của tôi là ông ngoại tôi. Ông tôi là một đại thần
của triều đình Ðại-Nam (tức Việt-Nam).
Chế độ phong kiến của nước tôi đã
chấm dứt từ năm 1945, hiện (1991) vị Hoàng-đế cuối cùng của Ðại-Nam
là Bảo Ðạị Ngài vẫn còn sống ở quận 16 Paris.
Năm lên sáu tuổi, tôi được học tại
trường tiểu học do chính phủ Pháp mở tại Việt-Nam. Thời gian 1943-1944
rất ít gia đình Việt-Nam còn cho con học chữ Nho. Bởi đạo Nho cũng
như nền cổ học không còn chỗ đứng trong đời sống kinh tế, chính
trị nữa. Thú thực tôi cũng không thích học chữ Nho bằng chơi bi,
đánh đáo. Nhưng vì muốn làm vui lòng ông tôi mà tôi học. Hơn nữa
học chữ Nho, tôi có một kho tàng văn hóa vĩ đại để đọc, để thỏa
mãn trí thức của tuổi thơ. Thành ra tôi học rất chuyên cần. Các
bạn hiện diện nơi đây không ít thì nhiều cũng đã học chữ Nho đều
biết rằng chữ này học khó như thế nào. Nhưng tôi chỉ mất có ba tháng
đã thuộc làu bộ Tam tự kinh, sáu tháng để thuộc bộ Ấu-học ngũ ngôn
thị Năm bẩy tuổi tôi được học sử, và năm chín tuổi bị nhét vào đầu
bộ Ðại-học.
Chương trình giáo dục cổ bắt học sinh
học hai loại sử. Bắc-sử tức sử Trung-quốc. Nam sử tức sử của Việt-Nam.
Tôi được học Nam sử bằng chữ Nho, đồng thời với những bài sử khai
tâm bằng chữ Quốc ngữ vào năm bảy tuổi. Thời điểm bấy giờ bắt đầu
có những bộ sử viết bằng chữ Quốc ngữ, rất giản lược, để dạy học
sinh; không bằng một phần trăm những gì tôi học ở nhà. Thầy giáo
ở trường Pháp biết tôi là cái kho vô tận về sử Hoa-Việt, nên thường
bảo tôi kể cho các bạn đồng lớp về anh hùng nước tôi. Chính vì vậy
tôi phải lần mò đọc những bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như:
- Ðại-Việt sử ký toàn thư (ÐVSKTT),
- An-Nam chí lược (ANCL),
- Ðại-Việt thông-sử (ÐVTS),
- Khâm-định Việt sử thông giám cương mục (KÐVSTGCM),
- Ðại-Nam nhất thống chí (ÐNNTC).
Ðại cương mỗi bộ sử đều chép rất giản lược về nguồn gốc dân tộc
Việt-Nam sau:
Vua Minh cháu bốn đời vua Thần-Nông,
nhân đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ-lĩnh, kết hôn với một nàng
tiên hạ sinh một con trai tên Lộc-Tục. Vua lập đài, tế cáo trời
đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong
con thứ là Lộc-Tục làm vua phương Nam. Ngài dạy hai thái tử rằng:
"Nghi làm vua phương Bắc,
Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới. Hai người
làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu hoà
mà ở với nhaụ Tuyệt đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam.
Kẻ nào trái lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn."
Xét triều đại Thần-Nông, khởi từ năm
3118 trước Tây lịch, đến đây thì chia làm hai:
1. Thần-Nông
Bắc.
- Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)
- Vua Lai (2843-2794 trước Tây lịch)
- Vua Ly (2795-2751 trưước Tây-lịch)
- Vua Du-Võng (2752-2696 trước Tây-lịch).
Ðến đây triều đại Thần-Nông Bắc chấm
dứt, đổi sang triều đại Hoàng-đế từ năm giáp Tý (2697 trước Tây-lịch).
Các nhà chép sử Trung-quốc lấy thời đại Hoàng-đế làm kỷ nguyên.
Trong bộ Sử-ký, Tư-mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ-đế bản kỷ,
coi Hoàng-đế là Quốc-tổ Trung-quốc, không chép về thời đại Thần-Nông.
2. Triều
đại Thần-Nông Nam
Thái-tử Lộc-Tục lên làm vua năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch)
hiệu là Kinh Dương, lúc mười tuổi. Sau người Việt lấy năm này làm
kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho đến nay (1991) là 4870 năm,
vì vậy người Việt tự hào rằng đã có năm nghìn năm văn hiến. (1)

NTHF: Lãnh thổ
của dân Bách Việt xưa bắt đầu từ phía nam Trường Giang.
Người Việt ngày
nay là hậu duệ của hai tộc Âu Việt và Lạc Việt.
Vua Kinh Dương
lấy con gái vua Động-đình là Long-nữ đẻ ra Thái-tử Sùng-Lãm. Thái-tử
Sùng-Lãm (Lạc Long Quân) kết hôn với công chúa Âu-Cơ con vua Đế-Lai.
(Nội dung bài diễn văn hôm nay, tôi
chỉ bàn đến diễn biến chính trị, lịch sử, văn hóa, địa lý của dân
tộc -Trung-hoa, và dân tộc Việt-Nam trong khoảng thời gian 4870
năm từ năm 2879 trước Tây-lịch cho đến năm nay 1991. Còn như đi
xa hơn về những thời tiền cổ, thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, quá phức
tạp, quá dài, tôi không luận đến ở đây.)
Xét về cương giới cổ sử chép:
"Thái-tử Lộc-Tục lên ngôi
lấy hiệu là Kinh Dương (2), đặt tên nước là Xích-quỷ, đóng đô ở
Phong-châu nay thuộc Sơn-Tâỵ Vua Kinh Dương lấy con gái vua Động-đình
là Long-nữ đẻ ra Thái-tử Sùng-Lãm. Thái-tử Sùng-Lãm lại kết hôn
với công chúa Âu-Cơ con vua Đế-Lai (3). Khi vua Kinh Dương băng
hà thái-tử Sùng-Lãm lên nối ngôi vua, tức vua Lạc-Long, đổi tên
nước là Văn-Lang. Nước Văn-Lang Bắc tới hồ Động-đình, Nam giáp nước
Hồ-tôn, tây giáp Ba-thục, đông giáp biển Đông-hải."
Cổ sử đến đây, không có gì nghi ngờ,
nhưng tiếp theo lại chép:
"Vua Lạc-Long lấy công chúa
Âu-Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con. Ngài truyền cho
các hoàng tử đi bốn phương lập ấp, tổ chức cai trị giáo hóa dân
chúng. Mỗi vị lập một ấp theo lối cha truyền con nối.
- Hoàng-tử thứ nhất tới thứ mười
lập ra vùng hồ Ðộng-đình. (Nay là Hồ-Nam, Quý-châu, Trung-quốc.)
- Hoàng-tử thứ mười một tới thứ
hai mươi lập ra vùng Tượng-quận. (Nay là Vân-Nam và một phần Quảng-Tây,
Tứ-xuyên thuộc Trung-quốc.)
- Hoàng-tử thứ ba mươi mốt tới
bốn mươi lập ra vùng Chiêm-thành. (Nay thuộc Việt-Nam, từ Thanh-hóa
đến Ðồng-nai)
- Hoàng-tử thứ bốn mươi mốt tới
năm mươi lập ra vùng Lão-qua (Nay là nước Lào và một phần Bắc Thái-lan.)
- Hoàng-tử thứ năm mươi mốt tới
sáu mươi lập ra vùng Nam-hải (Nay là Quảng-đông, và một phần Phúc-kiến,
Trung-quốc.)
- Hoàng-tử thứ sáu mươi mốt tới
bảy mươi lập ra vùng Quế-lâm. (Nay thuộc Quảng-tây, Trung-quốc.)
- Hoàng-tử thứ bảy mươi mốt tới
tám mươi lập ra vùng Nhật-nam. (Nay thuộc Việt-Nam từ Nghệ-an tới
Quảng-bình.)
- Hoàng-tử thứ tám mươi mốt tới
chín mươi lập ra vùng Cửu-chân. (Nay thuộc Việt-Nam từ Ninh-bình
tới Thanh-hóa, Nghệ-an, Hà-tĩnh.)
- Hoàng tử thứ chín mươi mốt tới
một trăm lập ra vùng Giao-chỉ. (Nay là Bắc Việt-Nam và một phần
tỉnh Quảng-tây, Vân-Nam thuộc Trung-quốc.)
Ngài hẹn rằng: Mỗi năm các hoàng-tử
phải về cánh đồng Tương vào ngày Tết, để chầu hầu phụ mẫu."
Một huyền sử khác lại thuật:
Vua Lạc-Long nói với Âu-Cơ rằng: "Ta
là Rồng, nàng là loài Tiên ở với nhau lâu không được. Nay ta đem
năm mươi con xuống nước, nàng đem năm mươi con lên rừng. Mỗi năm
gặp nhau tại cánh đồng Tương một lần."
Các sử gia người Việt lấy năm vua
Kinh Dương lên làm vua là năm Nhâm-tuất (2879 trước Tây-lịch), nhưng
không tôn vua Kinh Dương với Công-chúa con vua Ðộng-đình làm Quốc-tổ,
Quốc-mẫu, mà lại tôn vua Lạc-Long làm Quốc-tổ và Công-chúa Âu-Cơ
làm Quốc-mẫu. Cho đến nay Quý-vị hỏi trăm người Việt ở hải ngoại
rằng tổ là ai, họ đều tự hào:
"Chúng tôi là con Rồng, cháu
Tiên.
Quốc-tổ tên Lạc-Long, Quốc-mẫu tên Âu-Cơ."
Chủ đạo của tộc Việt bắt nguồn từ niềm tin này.
3. Triều
đình, dân tộc
Tôi đã trình bầy với Quý-vị về hai triều đại đầu tiên cai trị vùng
Á-châu Thái-bình dương: Phía Bắc sông Trường-giang sau thành Trung-quốc.
Phía Nam sông Trường-giang tới vịnh Thái-lan, sau thành Ðại-Việt.
Hai triều đại Thần-Nông Nam-Bắc cai trị dân chúng:
- Không có nghĩa là dân chúng cùng một chủng tộc;
- Không có nghĩa là tộc Hoa, tộc Việt là một;
- Cũng không có nghĩa tất cả dân chúng tộc Hoa, tộc Việt đều là
huyết tộc của vua Thần-Nông.
Trung-quốc, Ðại-Việt là anh em về
phương diện chính trị. Giòng Thần-Nông cai trị vùng đất Trung-quốc,
Ðại-Việt là anh em, nhưng dân chúng không hoàn toàn là anh em. Dân
chúng hai nước bao gồm nhiều tộc khác nhau như Mongoloid, Malanésien,
Indonésien, Australoid, và cả Négro-Australoid...v.v.
Người Hoa, người Việt nhân triều đại
Nam-Bắc Thần-Nông tổ chức cai trị, lập thành nước, mà tôn làm tổ
mà thôị Chứ hai vùng hồi đó có hàng nghìn, hàng vạn bộ tộc khác
nhau, ngôn ngữ khác nhau, văn hóa khác nhau.
Sau này các văn nhân người Hoa ở vùng lưu vực Hoàng-hà, lưu vực
sông Hán, nhân có chữ viết, lại không đi ra ngoài, rồi tưởng tượng
mà viết thành sách, tự cho mình là con trời, tự trời mà xuống; sau
đó đem văn minh, truyền bá ra khắp thế giới (Thiên-hạ), người sau
lấy làm chủ đạo của họ. Tôi sẽ bàn đến ở dưới.
Tôi xin cử một tỷ dụ, để Quý-vị nhìn
rõ hơn. Ông Washington là vị Tổng-thống đầu tiên lập ra nước Hoa-kỳ,
chứ ông không phải là tổ của các sắc dân đến từ châu Phi, châu Âu,
cũng như dân bản xứ. Hai vị vua Nghi, vua Kinh Dương không phải
là tổ huyết tộc của người Hoa, người Việt. Hai ngài chỉ là tổ về
chính trị mà thôi.
II.
CHỦ ÐẠO TRUNG QUỐC, VIỆT-NAM
Như Quý-vị đã thấy, mỗi dân tộc đều có một chủ đạo, cùng một biểu
hiệu. Người Pháp cho rằng tổ tiên là người Gaulois, con vật tượng
trưng là con gà trống. Người Anh lấy biểu hiệu là con sư-tử. Người
Hoa-kỳ lấy biểu hiệu là con chim ưng. Người Trung-hoa lấy biểu hiệu
là con Rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con Rồng và con chim Âu.
Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử vua Lạc-Long là loài rồng, công-chúa
Âu-Cơ là loài chim.
Người Do-thái họ tự tin rằng họ là
giống dân linh, được Chúa chọn. Vì vậy, sau hai nghìn năm mất nước,
họ vẫn không bị đồng hóa. Khi tái lập quốc, với dân số bằng một
phần trăm khối Ả-rập, nhưng họ vẫn đủ khả năng chống với bao cuộc
tấn công để tồn tại. Ðó là nhờ niềm tin họ thuộc sắc dân được Chúa
chọn.
Tôi xin nói rõ về chủ đạo của Trung-quốc
và Việt-Nam. Như Quý-vị đều biết, hiện Trung-quốc, Việt-Nam đều
là những nước theo chủ nghĩa Cộng-sản, đặt căn bản trên thuyết của
Karl Marx, Friedrich Engels.
Chủ thuyết này đến Trung-quốc, Chủ-tịch
Mao Trạch Đông biến thể đi thành Maoismẹ Tại Việt-Nam, người mang
chủ thuyết Marx, Engels vào là Chủ-tịch HCM; ông được đào tạo tại
Liên-sô, vì vậy chủ thuyết của ông phảng phất Léninisme, pha thêm
Việt-tính do ông tạo ra. Dường như hiện nay trên khắp thế giới,
kể cả Liên-bang Sô-viết chỉ Việt-Nam là quốc gia duy nhất còn duy
trì tượng Lénine tại một công viên lớn của Thủ-đô (Hà-nội).
Theo như dự đoán của chúng tôi thì
Trung-quốc, cũng như Việt-Nam cùng nhận thấy thuyết của Karl Marx,
Friedrich Engels không còn hợp thời, không còn ích lợi nữa. Cả hai
đang từng bước, từng bước trở lại với chủ đạo của mình. Xin các
vị cứ chờ, không lâu đâu cả hai sẽ hoàn toàn trở về với kho tàng
quý báu của nước mình!
Tôi thấy Trung-quốc trở lại quá mau,
quá mạnh. Con rồng Trung-quốc mà Hoàng-đế Napoléon bảo rằng hãy
để nguyên cho nó ngủ. Bằng như nó thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển
thế giớị Thưa Quý-vị, con rồng Trung-quốc đã thức dậy rồi, nhưng
nó chưa làm rung động thế giới!
1.- Chủ đạo
của Trung-quốc
Người Hoa thì tin rằng mình là con trời. Cho nên trong các sách
cổ của họ, vua được gọi là Thiên-tử, còn các quan thì luôn là người
nhà trời xuống thế phò tá cho vua. Chính niềm tin đó cùng với văn
minh Hoa-hạ, văn minh Nho-giáo đã kết thành chủ-đạo của họ.
Cho nên người Hoa dù ở đâu, họ cũng
có một tổ chức xã hội riêng, sống với nhau trong niềm kiêu hãnh
con trời. Cho dù họ lưu vong đến nghìn năm họ cũng không bị đồng
hóa, không quên nguồn gốc.
Cũng chính vì vậy, mà từ một tộc Hoa
nhỏ bé ở lưu vực sông Hoàng-hà, họ đánh chiếm, đồng hóa hàng nghìn
nước xung quanh, và nước của họ rộng lớn như ngày naỵ Hầu hết những
nước khác đến cai trị họ, đều bị họ đồng hóa. Mông-cổ, Mãn-thanh
bị đồng hóa, bị mất hầu hết lãnh thổ. Nhưng chủ-đạo và sức mạnh
của người Trung-quốc phải ngừng lại ở biên giới Hoa-Việt.
Chủ đạo của Trung-quốc bắt nguồn từ thời nào? Từ sách nào? Do ai
khởi xướng?
Ðầu tiên là Kinh-thư, không rõ tác
giả là ai, xuất hiện trước Khổng-tử, thiên Vũ-cống gọi thế giới
chúng ta ở là Thiên-hạ (Dưới trời). Thời cổ, các văn nhân Trung-quốc
không đi xa hơn vùng sông Hán, sông Hoàng-hà, họ tưởng đâu thế giới
chỉ có Trung-quốc, nên gọi Trung-quốc là Thiên-hạ. Thiên-hạ là Trung-quốc,
tức là nước ở giữa. Bốn phía Trung-quốc là biển, nên gọi Trung-quốc
là hải-nội, các nước khác là hải-ngoại.
Kinh-thư thiên Vũ-cống chia Thiên-hạ
thành 9 châu: Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương, Ung.
Lại dùng khoảng cách, chia làm năm cõi, gọi là Ngũ-phục, mỗi cõi
cách nhau năm trăm dặm (250 km). Ngũ-phục là Ðiện-phục, Hầu-phục,
Tuy-phục, Yêu-phục, Hoang-phục.
Trung-ương là kinh đô của nhà vua.
Ðiện-phục ở ngoài kinh đô năm trăm dặm.
Hầu-phục ở ngoài cõi Ðiện-phục năm
trăm dặm: trong năm trăm dặm cõi Hầu thì khoảng cách một trăm dặm
để phong thái ấp cho các quan khanh, đại phụ Hai trăm dặm nữa phong
cho các tước Nam. Hai trăm dặm nữa phong cho các chư Hầu.
Kế tiếp Hầu-phục là Tuy-phục. Trong
năm trăm dặm cõi Tuy thì ba trăm dặm là nơi truyền bá văn chương,
giáo hóa quần chúng; còn hai trăm dặm để hưng thịnh võ bị, bảo vệ
quốc gia.
Sau cõi Tuy là cõi Yêu. Trong ba trăm
dặm cõi Yêu là nơi cho rợ phương Ðông ở. Hai trăm dặm còn lại là
nơi để đầy tội nhân.
Cõi cuối cùng là cõi Hoang, năm trăm
dặm. Trong ba trăm dặm gần dành cho mọi phương Nam ở, hai trăm dặm
cuối cùng để đầy người có tội nặng.
Ra khỏi cõi Hoang là... biển.
Với lối phân chia lẫm cẩm, hài hước
ấy, năm nghìn năm qua, dân Trung-quốc coi là Kinh, tức những gì
không thể thay đổi, rồi trở thành chủ đạo của tộc Hoa.
Tiếp theo Kinh Thư, sách Tả-truyện, Tả Khâu Minh cũng viết:
Trời làm chủ Thiên-hạ,
Vua nối trời mà cai trị.
Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị là Thiên-tử.
Ðến Mạnh-tử, thiên Ly-lâu viết:
Thiên hạ là quốc gia,
Gốc của thiên hạ là quốc,
Gốc ở quốc là gia.
Vì ảnh hưởng của sách cổ nên người
Hoa mới nảy sinh ra tư tưởng "Nội Hoa hạ, ngoại Di, Ðịch".
Nghĩa là trong Ngũ-phục thì là chốn văn minh, còn ngoài ra thì là
mọi rợ.
Kinh-lễ, thiên Vương-chế nói:
Ðông phương viết Di,
Tây phương viết Nhung,
Nam phương viết Man,
Bắc phương viết Ðịch.
Nghĩa là:
Người ở Ðông phương gọi là Di,
Tây-phương là Nhung,
Nam phương là Man,
Bắc phương là Ðịch.
Di, Nhung, Man, Ðịch là những từ để
chỉ mọi rợ. Bốn chữ đó khi viết thì có bộ trùng, bộ thú, bộ khuyển
ở cạnh. Có nghĩa các sắc dân đó là cầm thú, côn trùng, chó mèo!
Ngay đối với người Âu, Mỹ hồi thế
kỷ thứ 20 về trước, người Hoa gọi là Bạch-quỷ! (Thính giả cười ồ
lên!). Họ còn phân ra người Âu là Tây dương Quỷ. Người Mỹ là Mỹ-lan-tây
Quỷ. Người Anh là Hồng-mao Quỷ. Người Nga là La-sát Quỷ.
Từ nguồn gốc kinh điển cổ, người Hoa
tự cho mình là con trời (Thiên-tử), cho nên hầu hết các tiểu thuyết
của họ thì vua luôn có tướng tinh là con rồng vàng, là Thanh-y đồng
tử trên thượng giơí giáng sinh. Các quan võ thì luôn là Vũ-khúc
tinh quân, các quan văn là Văn-khúc tinh quân. Quần thần thì là
Nhị-thập bát tú giáng hạ. Với chủ đạo này, họ đã đánh chiếm mấy
trăm nước tạo thành một Trung-quốc vĩ đại.
2.-
Chủ đạo của Việt-Nam
Như trên đã trình bầy, với nguồn gốc lập quốc, người Việt có niềm
tin mình là con của Rồng, cháu của Tiên, cho nên người Việt có một
sức bảo vệ quốc gia cực mạnh.
Truyền thống sang thế kỷ thứ 2 trước
Tây-lịch lại thêm vào tinh thần của vua An Dương. Sang đầu thế kỷ
thứ nhất, nổ ra cuộc khởi nghĩa của một phụ nữ, và 162 anh hùng,
trong đó có hơn trăm là nữ.
Cuộc khởi nghĩa đuổi ngoại xâm Trung-hoa,
lập lên triều đại Lĩnh-Nam. Phụ nữ đó làm vua Trưng. Nối tiếp mỗi
thời đại đều có tinh thần riêng, tạo thành niềm tin vững chắc.
Tộc Việt đã chiến đấu không ngừng
để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai nghìn năm của người
Hoa. Bất cứ thời nào, người Việt dù bị phân hóa đến đâu, nhưng khi
bị ngoại xâm, họ lập tức ngồi lại với nhau để bảo vệ quốc gia. Trong
những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chủ đạo tộc
Việt, đều thành công trong việc giữ được quyền cai trị dân.
Gần đây nhất, người Việt bị các thế
lực Quốc-tế, gây ra cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp (1945-1975).
Nhưng nay, Việt-Nam đang trên đà phục hưng chủ đạo. Ý tôi muốn nói
sự cố gắng phi thường của hơn hai triệu người Việt ở ngoài lãnh
thổ Việt-Nam, đã là bó đuốc sáng chuyển chủ đạo trở về nước mình.
Trong thời gian 1954-1975, miền Bắc
theo chế độ Cộng-sản, theo chủ thuyết Quốc-tế. Nhưng họ biết khai
thác cái chủ đạo của Việt-Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước
của dân tộc, nên cuối cùng họ chiến thắng.
Cũng tiếc thay, những người cầm quyền
miền Nam từ 1963-1975, không biết khai thác lòng yêu nước của dân
tộc, lại chấp nhận cho quân đội Hoa-kỳ và đồng minh nhảy vào vòng
chiến, việc này có khác gì quỳ gối, trao ngọn cờ chính nghĩa cho
miền Bắc?
Tôi nghĩ những người lãnh đạo miền
Nam như ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần
Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết gì về kho tàng
lòng yêu nước của người Việt, lại cũng chưa từng nghe, từng nói
đến chữ chủ đạo tộc Việt bao giờ.
Trước họ, cố Tổng-thống Ngô Đình Diệm
(1954-1963), vì biết rõ chủ đạo tộc Việt. Ngài từ chối không cho
Hoa-kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một đồng minh của Hoa-kỳ,
Ngài đã trở thành kẻ thù của Hoa-kỳ, bị Hoa-kỳ giết hết sức thảm
khốc.
III.
ÐI TÌM LẠI NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT
Năm trước đồng nghiệp của tôi đã giảng cho các bạn sinh viên hiện
diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, bao gồm:
- Thuyết của giáo sư Léonard Aurousseau
về cuộc di cư của người Ư-Việt hay Ngô-Việt sang Âu-Lạc.
- Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân-Việt sang
Âu-Lạc.
- Thuyết của học giả Ðào Duy-Anh,
Hồ Hữu-Tường về cuộc di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuống
Nam.
Tất cả các thuyết này đều căn cứ vào những thư tịch cổ Trung-quốc,
Việt-Nam. Mà những thư tịch này không có một biện chứng khoa học
nào cả.
Cuối cùng các giáo sư đồng nghiệp
đã nhận định rằng: Nhờ vào khoa khảo cổ, nhờ vào hệ thống khoa học
DNA, từ nay không còn những giả thuyết về nguồn gốc tộc Việt nữa,
mà chỉ còn lại công cuộc nghiên cứu của tôi, rồi kết luận:
"Thoạt kỳ thủy, trên vùng đất
thuộc lãnh thổ Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại: Giống người đã từ
châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam-á, đến Đông Nam-á,
ngược lên vùng Hoa Nam. Hai là từ châu Phi, tới châu Âu, rồi sang
Bắc Trung-quốc. Cuối cùng cả hai giống người hòa lẫn với nhau trên
lãnh thổ Trung-quốc.
Còn trong vòng 5000 năm trước Tây
lịch cho đến nay, thì tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải
rác từ phía nam sông Trường-giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ-xuyên,
Nam tới vịnh Thái-lan. Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương
Nam. Người Mân-Việt đi xuống Giao-chỉ.
Người Việt di cư từ nam sông Trường-giang
tránh lạnh xuống Bắc-Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc
Việt trong lãnh thổ của họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam năm 1954;
chứ không phải họ là người Trung-quốc di cư xuống Nam, lập ra nước
Việt."
Chính vì lý do dùng hệ
thống ADN biện biệt tộc Hoa, tộc Việt, nên tôi được mời đến đây
đọc bài diễn văn khai mạc niên khóa này. Sau đây tôi trình bầy sơ
lược về công trình nghiên cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một
bác sĩ y-khoa, cho nên những nghiên cứu của tôi đặt trên lý luận
thực nghiệm, cùng lý luận y-khoa, nó hơi khác với những gì mà các
bạn đã học.
Xem
tiếp
|