Ði Tìm Con Cháu Thuyền
Nhân 849 Năm Trước:
Nguyên tổ hai giòng họ Lý tại Ðại Hàn
Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại
Sỹ
Dòng thứ nhất: Hậu
duệ Kiến Hải vương, hay họ Lý Tinh-thiện
Thế
nhưng, tại Nam-hàn tôi gặp ông Lý Gia Trung. Ông cho biết, tổ tiên
ông là người Việt, nhưng không thuộc giòng dõi Kiến Bình vương.
Tổ tiên ông là Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đã đến Cao-ly hồi đầu
thế kỷ thứ mười một.
Quý độc giả có biết tâm trạng tôi bấy giờ ra sao
không? Kinh ngạc, bàng hoàng, đờ đẫn cả người ra, trong khi chân
tay run run. Vì trong khi nghiên cứu về triều Lý, tôi biết một huyền
sử vắn tắt như sau:
« Vua Lý Nhân-tông không có hoàng nam, người nhận
con của các thân vương trong hoàng tộc làm con nuôi. Năm Đinh Dậu
(1117 nhận con của hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành
Chiêu, Thành Hưng làm con nuôi. Sau truyền ngôi cho con của Sùng
Hiền hầu là Lý Dương Hoán, tức vua Lý Thần-tông. Khi Lý Thần-tông
băng, Thái-tử Thiên-tộ còn bế ngửa, triều thần muốn tôn con của
Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn lên nối ngôi. Cuộc tranh quyền trong
giòng họ Lý diễn ra, sau vợ của vua Lý Thần-tông nhờ có tình nhân
là Đỗ Anh Vũ giúp đỡ, mà loại hết các địch thủ. Năm Canh Ngọ (1150)
nhân vụ chính biến, Cảm Thánh thái hậu mưu với tình nhân Đỗ Anh
Vũ giết hết tông tộc của các hầu Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành
Hưng. Bấy giờ con Thành Quảng hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn
đang là đô đốc Thủy-quân, bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền lưu
vong. Song không biết đi đâu (1150) ».
Bây giờ, sau 831 năm, tôi gặp lại hậu duệ của Kiến
Hải vương. Tâm tư rúng động ! Hỡi ơi ! Tại Hàn-quốc có tới hai giòng
họ Lý, gốc là thuyền nhân Đại-Việt.
Tôi ghi chú tất cả những gì mà giòng họ Lý của Kiến
Hải vương cung cấp để khi viết về thời đại Tiêu-sơn còn có thêm
tài liệu.
Cuối
năm 1996, một nhà nghiên cứu tộc phả nổi tiếng của Nam-hàn là giáo
sư Phiến Hoằng Cơ (Pyon Hong Ke) công bố kết quả cuộc nghiên cứu
của ông rằng ông đã phát hiện một giòng họ Lý thứ nhì, tại Đại-hàn,
được gọi là Lý Tinh-thiện. Giòng họ này, chính là giòng họ Lý, con
cháu Kiến Hải vương mà tôi đã có cơ duyên gặp hậu duệ là ông Lý
Gia Trung.
Giáo sư Phiến Hoằng Cơ cho biết, căn cứ vào gia phả
của giòng họ này mang tên Tinh-thiện Lý thị tộc phả, được lưu trữ
tại thư viện Quốc-gia Hán-thành, thì ông tổ của giòng họ Lý Tinh-thiện
là Lý Dương Côn (Lee Yang Kon) tới Đại-hàn vào đầu thế kỷ thứ 12:
"Lý Dương Côn hiệu là Nguyên Minh, hoàng
tử thứ ba con vua Càn Đức, được Tống triều phong tước Nam-bình vương".
Tra trong sử Việt, thì vua Càn Đức chính là tên của
vua Lý Nhân-tông. Vua Lý Nhân-tông là con của vua Lý Thánh-tông
với Ỷ-Lan phu nhân, sau được tôn là Linh-Nhân hoàng thái hậu. Người
chỉ đạo cuộc đánh Tống, kháng Tống lừng danh lịch sự Việt-Nam. Theo
ĐVSKTT, Lý kỷ, Nhân-tông kỷ thì:
"Niên hiệu Hội-tường Đại-khánh
thứ 8 (DL.1117, Đinh Dậu)...Tìm con trai trong tôn thất để
nuôi trong cung. Xuống chiếu rằng: Trẫm cai trị muôn dân mà lâu
không có hoàng nam, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Nên
trẫm nuôi con của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành
Chiêu, Thành Hưng, chọn người giỏi lập làm thái tử. Bấy giờ con
Sùng Hiền hầu là Dương Hoán, lanh lợi, vua rất yêu, bèn lập làm
Thái-tử".

Vậy thì Lý Dương Côn là con nuôi của vua Lý Nhân-tông,
chứ không phải con đẻ. Con nuôi thứ ba, thì là con của Thành Quảng
hầu. Lý Dương Côn, được phong tước Kiến Hải vương.
Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ dựa theo Tinh-thiện Lý thị
tộc phả và bộ Cao-ly sử, ông công bố:
« Hậu đuệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn là Lý Nghĩa
Mẫn (Lee Unimin) trở thành nhân vật kiệt hiệt trong lịch sử. Bấy
giờ Cao-ly đang ở dưới triều đại vua Nghị-tông (Ui-jiong 1146-1170).
Nhà vua rất sủng ái Lý Nghĩa Mẫn, phong cho chức Biệt-trưởng. Nước
Cao-ly trong thời gian này, phải chống trả với cuộc xâm lăng của
Khiết-đan tức Đại-liêu, nên các võ tướng nắm hầu hết quyền hành.
Năm 1170 tướng Trịnh Trọng Phu (Jeong Jung-bu) chưởng môn một võ
phái, đảo chính vua Nghị-tông lập vua Minh-tông (Mycong 1170-1179).
Trọng Phu bị các võ phái, võ tướng nổi lên chống đối. Lý Nghĩa Mẫn
là người phụ tá đắc lực cho Trịnh Trọng Phu, đem quân dẹp các cuộc
nổi dậy. Ông được thăng chức Trung-lang tướng, rồi dần dần thăng
Tướng-quân, Đại-tướng quân (1173), Thượng-tướng quân (1174), cuối
cùng là Tây Bắc bộ binh mã sứ (1178) (Tức Tư-lệnh quân lực miền
Bắc Cao-ly). Năm 1179, một võ quan khác là Khánh Đại Thăng (Kyung
Dae-Seung) làm cuộc chính biến, giết chết Trịnh Trọng Phu, lên nắm
quyền. Bấy giờ Lý Nghĩa Mẫn giữ chức Hình-bộ thượng thư (1181) (Bộ
trưởng Tư-pháp). Vì ông thuộc phe Trịnh Trọng Phu, nên bị nghi ngờ,
chèn ép. Ông cáo quan về hưu.
Sau khi Khánh Đại Thăng chết, vua Minh-tông mời
Lý Nghĩa Mẫn vào bệ kiến, được trao chức Tư-không, Tả-bộc xạ, Đồng-trung
thư môn hạ bình chương sự tức Tể-tướng trong 14 năm (1183-1196).
Năm 1196, một phe võ tướng do Thôi Chung Hiếu (Cho
Chung Heon) cầm đầu làm cuộc đảo chính, giết Lý Nghĩa Mẫn. Ba con
ông là Lý Chính Thuần, Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang đều là tướng cầm
quân, cũng bị giết chết. Quân phiến loạn chỉ tha cho người con gái
ông là Lý Hiền Bật. Giòng họ Lý Tinh-thiện tưởng đâu tuyệt tự. Nhưng
may mắn thay, giòng họ này còn kế tục là nhờ người anh Lý Nghĩa
Mẫn và các con không bị hại.
Phối hợp chính sử với gia phả, giáo sư Phiến Hoằng
Cơ kết luận rằng: Giòng họ Lý tại Tinh-thiện thuộc đạo Giang-nguyên,
phía Đông Nam Đại-hàn ngày nay là con của hoàng tử Lý Dương Côn
thuộc triều Lý, Việt-Nam (1010-1225). Lý Dương Côn bỏ quê hương
ra đi vì sự đe dọa của nước Kim đối với Tống, năm 1115. Tới năm
1127 thì Bắc Tống bị diệt ».
Qua cuộc nghiên cứu của Phiến Hoằng Cơ, tôi thấy
có đôi chút nghi vấn:
Một là, vua Lý Nhân-tông nhận con nuôi năm 1117.
Vua Thần-tông sinh năm 1116, vậy thì Lý Dương Côn chỉ có thể sinh
năm 1116 hay 1117 mà thôi. Năm Lý Dương Côn rời Đại-Việt ra đi là
năm 1150. Bấy giờ ông mới 32-33 tuổi. Thế nhưng gia phả Lý Tinh-thiện
nói rằng năm 1170 Lý Nghĩa Mẫn, hậu duệ đời thứ sáu của Lý Dương
Côn, được vua Nghị-tông phong cho chức Biệt-trưởng. Đây là điều
vô lý. Bởi năm đó chính Lý Dương Côn có còn tại thế thì ông mới
có 54 tuổi, làm sao ông đã có cháu 6 đời? Tôi thì tôi cho rằng Lý
Nghĩa Mẫn là con Lý Dương Côn. Còn hậu duệ đời thứ sáu là kể từ
vua Lý Thái-tổ:
1. Lý Thái-tổ.
2. Lý Thái-tông.
3. Lý Thánh-tông.
4. Lý Nhân-tông.
5. Kiến Hải vương Lý Dương Côn.
6. Lý Nghĩa Mẫn.
Hai
là, trong gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng, Lý Dương Côn rời quê hương
ra đi vì quốc nạn. Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ cho rằng vì sự đe dọa
của Kim. Có lẽ khi giải đoán việc ra đi của Lý Dương Côn, ông đã
bị ảnh hưởng bởi sử Cao-ly. Vì hồi ấy, nước Kim đang từ một bộ lạc
Nữ-chân, nổi lên diệt nước Liêu, rồi đem quân đánh Tống. Sau đó,
họ bắt vua Tống mang về Bắc. Nhưng con cháu nhà Tống lại tái lập
triều Nam-Tống. Khoảng cách Kim với Đại-Việt còn một nước Tống quá
rộng, quá xa. Dù Kim hùng mạnh cũng không ảnh hưởng gì tơí Đại-Việt
khiến Lý Dương Côn phải bỏ nước trốn đi. Nhất là giai đoạn 1161
đến 1174, bấy giờ binh lực Đại-Việt đang mạnh, muốn hướng lên Bắc
tái chiếm lại Quảng Đông, Quảng Tây! (xin đọc Anh-hùng Đông-A dựng
cờ Bình-Mông của Trần Đại Sỹ, hồi 4 và hồi 16-17-18).
Lần lại trang sử Đại-Việt thời đó: Vua Thần-tông
được vua Nhân-tông đem vào cung nuôi cùng 4 người anh em họ. Nhưng
ngài được lập làm Thái-tử, rồi lên ngôi vua. Theo Hội-điển sự lệ
triều Lý thì những chức như:
- Thái-úy, tương đương với ngày nay là Tổng Tư-lệnh
quân đội.
- Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, tương đương với ngày
nay là Tư-lệnh lục quân.
- Đại Đô-đốc Thủy quân, tương đương với ngày nay
là Tư-lệnh thủy quân.
Các chức này luôn trao cho các hoàng đệ. Vì vậy trong
5 con nuôi của vua Lý Nhân-tông, thì Thái-tử Dương Hoán đươc truyền
ngôi, còn 4 con nuôi khác, là con của các hầu Thành Khánh, Thành
Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng ắt được phong vào các chức trên.
Con của Thành Quảng hầu là Lý Dương Côn được phong tước Kiến Hải
vương, lĩnh chức Đại Đô-đốc Thủy-quân. Khi vua Thần-tông băng (1138),
Thái-tử Thiên-tộ mới có 2 tuổi, triều thần muốn tôn hoàng đệ Lý
Dương Côn lên ngôi vua, vì ông là người thông minh, tài trí, đang
là Đại Đô-đốc, ở tuổi 22. Nhưng rồi mẹ của Thái-tử Thiên-tộ là Cảm
Thánh hoàng hậu đã dùng vàng bạc đút lót cho các quan, bà lại được
tình nhân Đỗ Anh Vũ là em của Chiêu Hiếu thái hậu, (mẹ vua Thần-tông)
hết sức ủng hộ. Thiên-tộ lên ngôi vua, sau là vua Anh-tông.
Dĩ nhiên vua Anh-tông lên ngôi, khi còn bế ngửa,
thì mẹ là Cảm Thánh thái hậu thính chính, nói khác đi là làm vua.
Bà phải diệt hết những mầm mống có thể nguy hiểm cho con bà. Bà
cùng Đỗ Anh Vũ vu cáo, giết hết các em nuôi của vua Thần-tông là
con của các hầu em vua Nhân-tông. Toàn gia các hầu, từ thê thiếp,
con, cháu, thân binh, nô bộc đều bị giết sạch. Riêng Lý Dương Côn
đóng quân ở Đồn-sơn, được mật báo. Ông đem hết gia thuộc, xuống
chiến thuyền, bỏ quê hương ra đi, rồi táp vào Cao-ly.
Tôi kết luận:
Dù Lý Nghĩa Mẫn là cháu 6 đời của Kiến Hải vương
Lý Dương Côn hay là cháu 6 đời vua Lý Thái-tổ, thì ta vẫn kết luận
rằng: Năm 1150, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, lĩnh chức Đại Đô-đốc
đã cùng tông tộc dùng thuyền tỵ nạn tại Cao-ly. Đời sau có nhân
vật kiệt hiệt là Lý Nghĩa Mẫn, đóng một vai trò trọng yếu trong
lịch sử Cao-ly. Giòng họ Lý này, nay vẫn còn truyền tử lưu tôn tại
Đại-hàn.
xem
tiếp
|