Ði Tìm Con Cháu Thuyền
Nhân 849 Năm Trước:
Nguyên tổ hai giòng họ Lý tại Ðại Hàn
Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại
Sỹ
Ngày
17 tháng 9 năm 1957, Tổng-thống miền Nam là Ngô-đình Diệm công du
Đại-hàn (1). Năm sau, ngày 6 tháng 11 năm 1958, Tổng thống Đại-hàn
dân quốc là Lý Thừa Vãn, viếng thăm Việt-Nam. Trong dịp này ông
đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Báo hồi ấy có tường
thuật sơ sài. Còn chính quyền thì gần như không để ý đến chi tiết
lịch sử này.
Bấy giờ, đệ nhất Cộng-hòa thành lập chưa quá hai
năm, mới chỉ có viện Khảo-cổ, không có cơ quan nghiên cứu lịch sử.
Cho nên không ai nghĩ đến việc sang Đại-hàn tìm hiểu xem họ Lý từ
Việt Nam, đã di sang đây từ bao giờ? Ai là nguyên tổ của họ?
Thời gian này tôi mới 18 tuổi, vừa bước chân vào
đại học. Nhưng nhờ thấm nhuần Nho-giáo, nên đã chững chạc lắm rồi.
Tôi viết thư cho sứ quán Đại-hàn tại Việt-Nam để hỏi về chi tiết
này. Dĩ nhiên tôi viết bằng chữ Nho. Hơn tháng sau tôi được thư
trả lời của tộc Lý tại Nam-hàn. Trong thư, họ cho tôi biết rằng:
"Tổng-thống Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25
của Kiến-bình vương Lý Long Tường. Kiến Bình vương là con thứ 6
của vua Lý Anh-tông. Người cùng tông tộc sang Cao-ly vào đầu thế
kỷ thứ 13 vì quốc nạn".
Ánh sáng đã mở ra trước mắt tôi. Nhưng tôi tra trong
Đại-Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), trong Việt-sử lược (VSL), trong
Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), không bộ nào
nói đến Kiến Bình vương Lý Long Tường cả.
Tò mò chưa được thỏa mãn, nhưng tôi đành bỏ qua,
vì bấy giờ tôi phải dồn hết tâm tư vào việc học.
Năm 1959, trong khi lục lọi tại thư viện Paris, vô
tình tôi đọc được Tập-san sử địa của Nhật-bản, số 2 năm 1941, trong
đó nói vắn tắt rằng:
"Năm Bính Tuất, 1226, bấy giờ là niên
hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tôn nhà Trần. Biết mình là
con thứ sáu vua Lý Anh-tông, lại đang giữ chức đô đốc, tư lệnh hải
quân, trước sau gì cũng bị Trần Thủ Độ hãm hại, nên ông đã đem tướng
sĩ dưới quyền, tông tộc, cùng hạm đội ra đi, sau đó trôi dạt vào
Cao-ly".
Tôi tự hẹn, sau này có tiền sẽ sang Đại-hàn tìm hiểu
chi tiết này.
Thế nhưng, sau khi ra trường, 1964, tuy đã có chỗ
đứng vững chắc về phương diện tài chánh. Ngặt vì nghề sinh nhai
lối dọc đường ngang, tôi vẫn không thực hiện được cái ước vọng sang
Hàn quốc, tìm hiểu về nguồn gốc họ Lý tại đây.
Mãi tới năm 1980, tháng 8, tôi đi trong phái đoàn
Pháp, sang dự đại hội y khoa tại Hàng-châu Trung-quốc. Ở đại hội,
tôi được tiếp xúc với phái đoàn Bắc-hàn. Phái đoàn này cóù bác sĩ
Lý Chiếu Minh ở Hùng-xuyên (Hunchon) và bác sĩ Lý Diệp Oanh ở Thuận-xuyên
(Sunchon). Bấy giờ tôi đã 41 tuổi, còn Diệp Oanh mới 30 tuổi. Tuy
là bác sĩ, thế nhưng cô tươi như hoa lan, phơi phới như hoa thủy
tiên ban mai. Thấy mỗi bữa ăn cô lẩm nhẩm đọc kinh mà không làm
dấu thánh giá, tôi cho là cô đọc kinh Phật. Trêu cô tôi cũng đọc
kinh Bát-nhã bằng tiếng Việt. Cô hỏi tôi:

- Ủa! Anh đọc kinh cảm ơn Tổng-thống Valéry Giscard
đấy à?
- Không! Tôi đọc kinh Phật. Thế cô đọc kinh gì vậy?
- Phật đâu có cho anh cơm ăn, áo mặc?
- Vậy cô đọc kinh gì?
- Tôi đọc kinh cảm ơn cha già Kim Nhật-Thành đã cho chúng tôi đươc
tự do, có cơm ăn, áo mặc! (2)
Nghe cô nói, tôi hơi ngạc nhiên, nhưng tôi biết đó
là niềm tin của cô, tôi không dám đùa, không thắc mắc. Song thấy
cô xinh đẹp, tôi tỏ một cái gì cho có vẻ nịnh đầm, theo thói thông
thường của y giới Pháp:
"Ở nước tôi, vào thế kỷ thứ 12, dưới triều vua
Lý Anh-tông, tổ tiên tôi là Trần Thủ Huy được gả công chúa Đoan
Nghi...". (3)
Diệp Oanh cắt lời:
"Sang đầu thế kỷ thứ 13, cũng tổ tiên anh là
Trần Liễu được gả công chúa Thuận Thiên, Trần Cảnh được vua Chiêu
Hoàng tuyển làm chồng. Rồi tổ tiên anh xua đuổi, nên tổ tiên tôi
thành thuyền nhân, ngày nay Hàn quốc mới có họ Lý".
À! Vạn lý tha hương ngộ tri kỷ đây. Biết rất rõ Diệp
Oanh là con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, tôi đùa thêm:
"Biết đâu cô không là công chúa Đoan Nghi, tôi
không là Trần Thủ Huy tái đầu thai? Có lẽ chúng mình nên đi tiếp
con đường tổ tiên mình đã đi".
Diệp Oanh vã tôi một cái vào má trái, tỏ cử chỉ thân
thiện. Song chúng tôi bắt con tim ngừng phiêu lưu ở đây, vì bấy
giờ bà vợ tôi còn sống, còn quá trẻ; vợ chồng lại rất tương đắc
ngoài đời, nồng thắm trong phòng the.
Thế rồi chúng tôi nhận họ. Đặc biệt là trong lúc
đối thoại, Chiếu Minh với Diệp Oanh cứ tự hào cái gốc Việt của mình.
Suốt đại hội, tôi với Chiếu Minh, Diệp Oanh gần nhau như bóng với
hình. Tôi kể cho hai người nghe về những trang sử rực hào quang
dưới thời Lý, nhất là huyền sử về Linh Nhân hoàng thái hậu (Ỷ Lan).
Sau đại hội, Chiếu Minh, Diệp Oanh rủ tôi du lịch Bắc-Hàn. Bấy giờ
là thịnh thời của chủ tịch Kim Nhật Thành, Bắc-Hàn khép kín cánh
cửa với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên nhờ mang thông hành Pháp,
nên tòa đại sứ Bắc-Hàn ở Bắc-kinh cho tôi cái chiếu khán được du
lịch nghiên cứu về nhân sâm trong 8 ngày.
Tới Bắc-Hàn, ông đại sứ Pháp tưởng tôi đi nghiên
cứu nhân sâm thực. Ông lệnh cho văn phòng tùy viên văn hóa giúp
đỡ tôi. Tôi tự biết mình có địa vị, có danh dự, không muốn nói dối
ông đại sứ. Tôi thú thật là đi tìm một số tài liệu lịch sử của tổ
tiên tôi về thế kỷ thứ 12. Dù biết tôi mượn danh đi nghiên cứu y
khoa, mà Uûy-ban y học Pháp-Hoa (Commité Médical Franco-Chinois
viết tắt là CMFC) dư thừa tài chánh đài thọ tất cả phí tổn cho tôi.
Thế nhưng sứ quán Pháp vẫn giúp đỡ tôi tận tình. Nào cung cấp xe,
cung cấp tài xế, gửi thư giới thiệu.v.v. Kể ra làm công việc nghiên
cứu của Pháp cũng sướng thực. Xin cảm ơn tinh thần yêu văn hóa của
nước Pháp.
Tại Hùng-xuyên, cũng như Thuận-xuyên, các chi họ
Lý tiếp đón tôi rất niềm nở. Buồn là các cuộc đàm thoại bị giới
hạn khá nhiều, tôi phải uốn cong lưỡi dùng tiếng Quan-thoại nói
với Chiếu Minh và Diệp Oanh. Hai vị này dịch sang tiếng Đại-hàn.
Các chi họ Lý xin phép chính quyền, rồi tổ chức những
buổi hội, để nghe tôi nói chuyện về thời đại Tiêu-sơn tức thời Lý.
Khi nghe kể đến đoạn công chúa Bảo Hòa tu tiên, cho đến tuổi 90
vẫn trẻ như hồi 17 tuổi, cử toạ suýt xoa sung sướng.

Lại khi nghe tôi thuật giai thoại vua Lý Thánh-tông,
đang đêm trốn khỏi hoàng cung, gặp cô thôn nữ Yến Loan, rồi sau
đưa về cung phong làm Ỷ Lan phu nhân; cử tọa vỗ tay hết tràng này
đến tràng khác.
Khi nghe tôi kể đến các công chúa Bình Dương, Kim
Thành, Trường Ninh trấn ngự biên cương khiến các quan Tống ở Nam-biên
nghe đến tên đều kinh hồn vỡ mật. Các cô ngửa mặt lên nhìn trần
nhà cười đầy vẻ hãnh diện.
Lúc mà tôi thuật đến đoạn Quách Quỳ, Triệu Tiết đem
đại quân phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt (1076), tiến đến rừng tre,
cách Thăng-long có 25 cây số... Trong phòng có đến hơn 700 người,
mà không một tiếng động.
Rồi tôi kể tiếp: Công chúa Thiên Ninh đánh bật quân
Tống trở về Như-nguyệt, thì phòng hội hoan hô đến muốn rung động
thành phố. Tôi thuật tiếp đến đoạn công chúa tuẫn quốc, thì cả phòng
hội đều khóc nức nở. Những người khóc nhiều nhất lại là những thiếu
niên.
Hầu hết những chi họ Lý đều đem gia phả ra hỏi tôi
những chi tiết mà họ không hiểu. Tất cả gia phả đều viết bằng chữ
Nho. Như gia phả của chi Thuận-xuyên, có đôi câu đối:
Thập-bát anh hùng giai Phù Ðổng,
Tam thiên nữ kiệt tỷ Mê-linh.
(Mười tám anh hùng đều như Phù Ðổng thiên vương.
Ba nghìn nữ kiệt đều có thể sánh với Trưng-vương).
Tôi phải moi trí nhớ, để đọc cho họ chép lại tiểu
sử 18 danh tướng vào thời vua Lý Nhân-tông, kháng Tống tuẫn quốc.
Tôi lại phải thuật cho họ nghe về công chúa Thiên Ninh (Bà chúa
kho) có 3 nghìn nữ binh. Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang
Đại-Việt, phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt tiến về Thăng-long. Quân
Tống nhập vào phòng đai phòng thủ chỉ cách Thăng-long có 25 cây
số, bị công chúa đánh bật trở về Bắc sông Như-nguyệt. Sau đó công
chúa cùng 3 nghìn nữ kiệt đều tuẫn quốc. (4)

Hầu hết các chi, khi nghe tôi nói rằng: Triều Trần
kế tục triều Lý. Nhưng các vua triều Trần đều dành ra một số ruộng
đất lớn, cho tá điền cầy cấy, thu tô để làm phương tiện hương khói,
thờ cúng, tu bổ lăng tẩm 9 đời vua triều Lý (Ghi chú: Triều Lý có
8 vị vua, nhưng tôi vẫn coi Lý Chiêu-Hoàng là vị vua thứ 9, chứ
không dám coi thường Ngài.)... đều hài lòng.
Các triều đại kế tiếp như Lê, Nguyễn vẫn giữ nguyên
truyền thống này. Mãi đến năm 1956, trong cuộc cải cách ruộng đất,
những ruộng đất này mới bị lấy lại lập hợp tác xã. Tuy nhiên đây
là những di tích lịch sử, nên kể từ năm 1962, bộ Văn-hóa của nước
Việt-Nam dân chủ cộng hòa (Bắc Việt-Nam) đã ban nghị định công nhận
là di tích văn hóa, lịch sử, và cử cán bộ bảo quản rất kỹ.
Bác-sĩ Diệp Oanh dẫn tôi thăm những vùng đất linh
của giòng họ Lý. Thực là kỳ điệu, dưới chế độ Bắc-Hàn chủ trương
hủy diệt tất cả những gì là văn minh của tổ tiên, để chỉ còn biết
đến cha già dân tộc Kim Nhật Thành. Thế nhưng giòng họ Lý vẫn giữ
gìn được những di tích của tổ tiên. Nào cửa biển Phú-lương giang
nơi hạm đội của Kiến-bình vương cập bến Cao-ly, nào Ung-tân, nơi
đầu tiên họ Lý làm nhà ở, nào ngọn đồi Julhang thuộc xã Đỗ-môn (Tô-mơ-ki)
nơi có lăng của Kiến Bình vương Lý Long Tường. Tôi cũng được lên
Quảng-đại sơn thăm Vọng-quốc đài, là nơi vương lên nhìn về quê hương.
Sau đó, với quyết tâm tìm lại dấu vết người xưa,
năm 1983, tôi lên đường đi Nam-hàn để tìm hiểu thêm về giòng họ
Lý. Tiếc rằng hạm đội của Lý Long Tường tới Hàn-quốc táp vào miền
Bắc, vì vậy dường như tại Nam-hàn không có một chút di tích nào
của ông. Giòng họ Lý sống tại Nam-hàn rất ít, tổng số chưa quá nghìn
hộ, nhưng họ đều là những người kiệt hiệt trong lĩnh vực khoa học,
kỹ thuật, thương mại, kỹ nghệ. Về tình cảm, họ cũng giống như người
Bắc hồi 1954 di cư vào Nam, mang theo rất ít di vật, gia phả về
tổ tiên mình. Không nhà nào mang được gia phả cổ. Gia phả mà họ
cho tôi xem, hầu hết là mới chép gần đây. Nội dung lại quá nhiều
sai lạc. Như chép về việc ra đi của Kiến Bình vương, gia phả nói
rằng họ Lý bị Trần Thủ Độ cướp ngôi, Lý Long Tường cầm quân chống
lại, bị thua. Về Lý Chiêu Hoàng, họ chép là hoàng hậu của vua Lý
Huệ-tông! (5)
xem
tiếp
|