Chặn
quân Tống tại sông Như Nguyệt
Do tiền đồn ở Ung châu là căn cứ tập trung quân để
nam tiến bị phá tan, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương
thảo để thực hiện chiến tranh với Đại Việt.
Nhà Tống gặp nhiều khó khăn để chuẩn bị nhân lực
vật lực cho cuộc viễn chinh. Trong khi mộ quân, vua Tống sợ quân
Nam lẩn vào làm gián điệp. Ngày 10 tháng 3 năm 1076, có chiếu dặn
các lộ ven bể, như Quảng Tây, Quảng Đông, Giang Tây, Phúc Kiến,
phải coi chừng việc ấy. Ung Châu, như đã đề cập, là một cứ điểm
quân sự quan trọng, đồng thời cũng là nơi dự trữ nhiều kho khí giới,
lương thực của Tống. Sau khi thành bị phá hủy, viên chuyển vận sứ
Quảng Tây là Lý Bình Nhật muốn tu bổ thành gấp, đã phải dùng đến
năm vạn quân để sửa chữa và bắt dân Quảng Đông tới đắp lại thành.
Nhưng đến tháng 4 năm 1076, thành Ung Châu cũng chưa đắp xong, và
đường vận lương thực cũng chưa thông, vì sông Ung Châu trước kia
bị quân Nam đổ đá lấp[cần chú thích].
Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng
Nam là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân
9 tướng, hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt,
nhưng quân Chiêm Thành và Chân Lạp không đến[cần chú thích]. Quân
Tống viễn chinh lên đến 10 vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn
dân phu, khí thế rất mạnh mẽ, nhất là kỵ binh Tống, nhưng quân Tống
muốn phát huy kî binh thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới
chỗ bằng, thì ngựa mới tung hoành được.
Thế thủ của quân Nam thì dựa vào sông núi, các đèo
hiểm trở, các sông rộng và sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng,
phải qua dãy núi rậm, có đèo Quyết Lý, ở trên đường từ tỉnh Lạng
Sơn đến Đông Mô ngày nay, vào khoảng làng Nhân Lý, ở phía bắc châu
Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi lèn (đá không phá đất), đá đứng như
tường, ở giữa có đường đi rất hiểm: đó là ải Giáp Khẩu, tức là ải
Chi Lăng, ở phía bắc huyện Hữu Lũng thuộc Bắc Giang ngày nay[11].
Đèo ải tuy hiểm, nhưng có thể dùng kị binh hoặc vượt qua, hoặc len
lỏi qua rừng để tránh. Còn sông sâu rộng, thì ngựa khó lòng qua
nổi. Phòng thủ sông khá dễ, đóng cọc và dùng rào giậu ở bờ Nam,
cũng đủ ngăn quân địch.
Vả lại thủy quân Nam, từ đời nhà Ngô, đã lập nhiều
chiến công lừng lẫy. Thế sông ở miền Bắc Việt lại rất tiện cho thủy
chiến. Sáu ngành sông chầu về Vạn Xuyên (Vạn Kiếp), là căn cứ tự
nhiên của thuỷ quân Nam. Hoặc phải ra cửa Bạch Đằng chắn quân thuỷ
địch, hoặc phải vào sông Đào Hoa (sông Thương), hoặc phải vào sông
Nam Định (sông Cầu) hoặc phải đi vào sông Thiên Đức (sông Đuống),
để chặn địch qua sông, quân Nam chỉ cần đóng thuyền ở bến Lục Đầu
thì đi đường nào cũng rất tiện và chóng.
Các tướng lĩnh thuộc Man Động như: Nùng Quang Lãm,
Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội, Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân giữ
châu Môn, Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu, Lưu Kỷ coi Quảng Nguyên khi
quân Tống sang đã đầu hàng. Duy có phò mã Thân Cảnh Phúc giữ châu
Quang Lang (Lạng Sơn) không những không chịu hàng mà còn rút vào
rừng đánh du kích, giết rất nhiều quân Tống. Những tướng lĩnh này
trước kéo quân qua đất Tống, đánh rất giỏi. Nhưng sau quân Tống
tràn sang đánh báo thù, lúc đầu họ cự chiến, sau vì thất trận và
vì sự dụ dỗ, nên đã đầu hàng, thậm chí như Hoàng Kim Mẫn còn chỉ
đường bày mưu cho Tống. Sách Quế Hải Chí kể: "Viên tri châu
Quang Lang là phò mã, bị thua, bèn trốn vào trong rừng Động Giáp,
rồi du kích hậu phương quân Tống. Rình lúc bất ngờ đánh úp quân
địch làm chúng rất sợ hãi".
Quân Tống tiếp tục tràn xuống, theo đường tắt qua
dãy núi Đâu Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú Lương; trong khi đó,
một cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân Nam
ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới sông Cầu.
Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến
lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống. Sông Cầu từ địa phận Cao
Bằng chảy đến Lục Đầu, hợp với sông Bạch Đằng. Từ Lục Đầu ra đến
bể, là một cái hào tự nhiên sâu và rộng, che chở cho đồng bằng nước
Việt để chống lại tất cả mọi cuộc ngoại xâm đường bộ từ Lưỡng Quảng
kéo vào. Đối với đường sá từ châu Ung tới Thăng Long, thì sông Bạch
Đằng không can hệ, vì đã có sông Lục Đầu, là cái hào ngăn trước
rồi. Trái lại, sông Cầu rất quan trọng.
Thượng lưu sông Cầu qua vùng rừng núi rất hiểm. Chỉ
có khoảng từ Thái Nguyên trở xuống là có thể qua dễ dàng, và qua
rồi thì có đường xuôi. Nhưng sau sông, ở về phía tây có dãy núi
Tam Đảo, là một cái thành không thể vượt. Chỉ có khoảng từ huyện
Đa Phúc đến Lục Đầu là phải phòng ngự bờ nam mà thôi. Trong khoảng
ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền,
là có bến, có đường qua sông để tiến xuống miền nam một cách dễ
dàng thẳng và gần.
Lý Thường Kiệt đem chủ lực chặn con đường từ trại
Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông Cầu) bằng cách đặt những doanh
đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý ở phía bắc châu
Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía nam châu ấy. Nếu hai
phòng tuyến ấy bị tan, thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức
là nam ngạn sông Nam Định. Để cản quân Tống qua sông, Lý Thường
Kiệt sai đắp đê nam ngạc cao như bức thành. Trên thành, đóng tre
làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam
Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào,
che chở cả vùng đồng bằng Giao Chỉ. Thành hào ấy dài gần trăm cây
số, khó vượt qua và nhưng lại dễ phòng thủ hơn là một thành lẻ như
thành Thăng Long.
Cùng lúc đó thuỷ binh Tống do Hòa Mân và Dương Tùng
Tiểu chỉ huy đã bị thủy quân Nam do Lý Kế Nguyên điều động, chặn
đánh ngoài khơi lối vào Vĩnh An. Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến
công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Nam tràn
qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy
lùi quân Tống. Lý Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích
lệ tinh thần quân Nam chiến đấu. "Đang đêm, nghe tiếng vang
trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ, táng
đảm, không đánh đã tan.
Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao
mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp viện. Quân
Nam lại tập kích, doanh trại của phó tướng Triệu Tiết bị phá, dù
quân Tống cũng giết được hoàng tử quân Nam là Hoàng Chân và Chiêu
Văn. Quân Tống 10 phần chết đến 6, 7 phần.
Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào
thế bí, mà người Nam bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất,
nên sai sứ sang xin "nghị hoà" để quân Tống rút về. Quách
Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân.
Sách Việt Sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử
nói về nội tình của nhà Tống về sự kiện này: Triều thần nhà Tống
cho rằng "Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không
thì chưa biết làm thế nào".
Hoàng Xuân Hãn, tác giả sách Lý Thường Kiệt đã bình
phẩm: "Giả như các mặt trận đầu có quân trung châu, thì thế
thủ xếp theo trận đồ của Lý Thường Kiệt đã dàn ra, có lẽ đánh bại
Tống từ đầu. Nhưng thổ quân các châu vội hàng trước đại quân Tống.
Quân tiên phong không giữ nổi các ải. Cuối cùng là nhờ phòng tuyến
sông Cầu khéo đặt, và thủy quân ta mạnh cho nên Lý Thường Kiệt đã
ngăn cản được sức tiến công quyết liệt của Tống".
|