Lý Thường
Kiệt và trận đại thắng ở Như Nguyệt năm Đinh Tỵ (1077) trong tình
cảm của Đại thiền sư Pháp Bảo
Nguyễn Khắc Thuần
Lý Thường Kiệt vốn có họ và
tên thật là Ngô Tuấn, người làng Bắc Biên,xã Phúc Xá (nay thuộc
xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, Hà Nội), sau ông dời nhà về định cư
phường Thái Hòa (nay thuộc nội thành Hà Nội). Ngô Tuấn tự là Thường
Kiệt, sau vì có công, được triều đình ban thưởng rất trọng hậu,
lại còn cho lấy theo họ của Hoàng Đế nhà Lý, đương thời liền nhân
đó ghép họ được ban với tên tự mà gọi là Lý Thường Kiệt, mãi rồi
thành quen, khiến cho không ít hậu sinh quên mất cả họ lẫn tên thật
của ông. Ông sinh năm Kỷ Mùi (1019), mất năm Ất Dậu (1105), hưởng
thọ 86 tuổi.
Trong quân sự, Lý Thường Kiệt
là bậc đại danh tướng, là linh hồn của những chiến công lớn nhất
lịch sử nươc nhà trong thế kỷ thứ XI. Trong chính trị, Lý Thường
Kiệt là đấng đại danh thần, là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của
nhà Lý, nhất là dưới thời trị vì của Hoàng Đế Lý Nhân Tông (1072-1127)
; trong lịch sử văn học, Lý Thường Kiệt là cây đại bút, tác giả
của Nam quốc sơn hà - áng hùng thi có giá trị thiêng liêng như bản
tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước nhà.
Trong bộ bách khoa toàn thư
đồ sộ của mình là Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí),
nhà bác học Phan Huy Chú viết về Lý Thường Kiệt như sau:
"Ông là người giàu
mưu lược lại rất có biệt tài làm tướng súy,từng làm quan trải thờ
đến ba đời Hoàng Đế (gồm Lý Thái Tông : 1028-1254 ,Lý Thánh Tông
: 1054-1072 và Lý Nhân Tông : 1072-1127 - NKT), phá Tống,bình Chiêm,công
lao đức vọng ngày một lớn,được sủng ái,thật xứng là người đứng đầu
các bậc công hầu vậy ".
Năm 1069, Lý Thường Kiệt được
cùng với Hoàng Đế Lý Thánh Tông cầm quân đánh thẳng vào Nam, trừng
trị đích đáng hành vi quấy phá của Chiêm Thành và bẻ gãy mưu đồ
lợi dụng Chiêm Thành mà nhà Tồng đã công phu chuẩn bị từ nhiều năm
trước.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt là
người trực tiếp vạch kế hoạch, đồng thời cũng là tướng tổng chỉ
huy quân đội Đại Việt, bất ngờ tiến như vũ bão sang Trung Quốc,
san bằng ba căn cứ lớn ở Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu, tiêu
diệt một phần tiềm năng quân sự rất quan trọng của nhà Tống.
Năm 1077, một lần nữa, Lý Thường
Kiệt vừa là người trực tiếp vạch kế hoạch, lại cũng vừa là tướng
tổng chỉ huy quân dân Đại Việt trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại chống quân Tống xâm lăng. Với trận đại thắng lẫy lừng ở trận
quyết chiến chiến lược Như Nguyệt (tháng 3 năm Đinh Tỵ - 1077),
tên tuổi của Lý Thường Kiệt đã trở nên bất diệt với lịch sử nước
nhà. Dư âm của trận Như Nguyệt vang khắp bốn phương, khiến cho các
nhà tu hành Phật Giáo lúc bấy giờ cũng không ngớt lời tán thưởng.
Sau trận đại thắng ở Như Nguyệt,
Lý Thường Kiệt được bổ làm Tổng Trấn Thanh Hoa (đất này từ thời
Thiệu Trị mới vì lệ kỵ húy mà đổi gọi là Thanh Hóa).
Bấy giờ có thầy học của Linh
Nhân Hoàng Thái Hậu (tức bà Ỷ Lan - thân mẫu của Hoàng Đế Lý Nhân
Tông) là Sùng Tín Đại Trưởng Lão từ Thăng Long vào chơi, Lý Thường
Kiệt liền nhờ Sùng Tín Đại Trưởng Lão tìm đất để dựng chùa và Sùng
Tín Đại Trưởng Lão đã chọn khu đất nằm ở phía Nam núi Ngưỡng Sơn.
Đất này xưa thuộc xã Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, nay thuộc xã Hà Ngọc,huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Chính Lý Thường Kiệt là người
đã trực tiếp trông coi việc xây cất ngôi chùa này. Sau bốn năm (1085-1089)
thì khánh thành, Lý Thường Kiệt đặt cho tên gọi là chùa là Linh
Xứng.
Từ khi có thêm chùa Linh Xứng,
Phật Tử vốn dĩ đã rất nể trọng Lý Thường Kiệt lại càng có phần nể
trọng hơn. Thiền Sư Thích Pháp Bảo (tức Giác Tính Hải Chiếu Đại
Sư) là người có cơ may được chứng kiến sự kiện khá đặc biệt này.
Theo ghi chép của các thư tịch cổ như : Vĩnh Lộc huyện phong thổ
chí lược, Ái Châu bi ký, Thanh Hóa tịnh chí, v.v..., thì sau khi
Lý Thường Kiệt qua đời, chính Thích Pháp Bảo là người đã có vinh
dự được giao việc soạn bài văn bia cho chùa Linh Xứng. Và Thích
Pháp Bảo đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khó khăn này.
Khoảng đầu thế kỷ XX, chùa
Linh Xứng bị đổ nát hoàn toàn, tuy nhiên, tấm bia trên đó có khắc
bài Ngưỡng sơn Linh Xứng tự bi minh (bài minh khắc trên bia để tại
chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn) do Thích Pháp Bảo soạn thì vẫn còn.
Đó thực sự là một trong những tác phẩm văn học sáng giá của thế
kỷ thứ XI. Bài này khá dài, vì thế,chúng tôi chỉ xin trích dịch
và giới thiệu với bạn đọc vài ba trích đoạn ngắn mà thôi.
Thứ nhất là trích đoạn kể về
việc xây dựng dựng chùa Linh Xứng :
" Thế là cùng nhau phát
hết những bụi cỏ rậm,bạt hết những tảng đá to ; Thầy phong thủy
thì xét hướng, thợ lành nghề thì vẽ kiểu, các quan thì góp tiền,sĩ
dân khắp nơi cũng cùng nhau kéo tới; Bấy giờ, ai kém sức thì bào
hoặc gọt, ai giỏi nghề thì dựng hoặc xây; Chùa Phật rộng thênh thang
nằm ở giữa còn phòng chay rộng rãi thì ở hai bên; Phía sau chùa
có tháp Chiêu An cao chót vót những chín tầng. Chùa mở cửa bốn bên
và cửa nào cũng có song tiện,phía trong lại có rèm the. Tiếng gió
rung chuông bạc quyện với tiếng chim rừng; Nắng soi tháp báu, sắc
vàng điệp lung linh ; Quanh lan can trồng đầy hoa cỏ à đúng là cảnh
thức tỉnh hồn mê,xua tan mọi nỗi niềm tục lụy ".
Đoạn thứ hai là những lời ca
ngợi công đức của Lý Thường Kiệt,chân thành, thắm thiết và cũng
thật là cảm động :"Lúc còn trẻ,Thái Úy (chức của Lý Thường
Kiệt - NKT) được chọn vào cấm đình, hầu Thái Tông Hoàng Đế chưa
đầu một kỷ (một kỷ là mười năm - NKT) mà tiếng thơm đã nức nở khắp
hoàng cung.
Đến khi Thánh Tông Hoàng Đế
nối ngôi trị nước,Thái Úy lại hết lòng phò tá, là người luôn ra
sức siêng năng, thật là nổi bật trong hàng tả hữu, cho nên mới được
gia phong hàm Kiểm Hiệu Thái Bảo. Khi nước Phật Thệ (tức Chiêm Thành
- NKT) khinh nhờn phép tắc, chẳng chịu vào chầu, vương sư liền rầm
rộ tiến đánh.
Thái Úy thao lược hơn đời,
được vào cấm cung để nhận mưu chước, ước chế quân luật thật nghiêm
để đánh quân thù. Hoàn Vương (chỉ vua Chiêm Thành -NKT) hết đường
chạy trốn, đành phải tự bó tay mà chịu cắt tai ".
"Đầu niên hiệu Thái Ninh
(niên hiệu của Hoàng Đế Lý Nhân Tông, dùng từ năm 1072 đến năm 1076
- NKT) đức kim thượng Minh Hiếu Hoàng Đế (chỉ Lý Nhân Tông - NKT)
lên ngôi, Thái Úy với tư cách là Y Doãn, Hoắc Quang (hai danh thần
của Trung Quốc đời nhà Thương và đời nhà Hán đã có công phò tá Hoàng
Đế Trung Quốc lúc còn tuổi ấu thơ, đây chỉ việc Lý Thường Kiệt là
Phụ Chính Đại Thần của Lý Nhân Tông - NKT) được Hoàng Thượng giao
quyền nhiếp chính và gửi gắm công việc xã tắc.
Bỗng chốc, quân biên ải của
nhà Tống dòm ngó nước ta, Thái Úy sẵn mưu chước của triều đình,thống
lĩnh quân sĩ, tràn sang diệt hết cả ba châu (chỉ Ung Châu,Khâm Châu
và Liêm Châu - NKT) và bốn trại (chỉ bốn trại lính lớn của nhà Tống
ở Ung Châu là Hoành Sơn,Thái Bình, Vĩnh Bình và Cổ Vạn - NKT) dễ
dàng như bẻ cành gỗ mục. Chẳng bao lâu sau, giặc lại ồ ạt kéo đến
sông Như Nguyệt, sục sôi quyết chí trả thù cho ba châu, Thái Úy
liền cầm quân ra chống trả".
"Thái Úy vào trong thì
sáng suốt khoan hòa, ra ngòi thì nhân từ giản dị, đổi dời phong
tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì ôn
hòa, cho nên, đời được cậy nhò chẳng phải ít".
"Thái Úy tuy thân vướng
việc đời mà lòng vẫn luôn hướng về Tam Thừa (chỉ Tiểu Thừa, Trung
thừa và Đại Thừa, tức là Phật Giáo nói chung - NKT) có lẽ vì Hoàng
Thượng và Thái Hậu thực tâm tôn sùng giáo lý nhà Phật chăng? Cho
nên, vâng theo ý chỉ của Hoàng Thượng và Thái Hậu, Thái Úy không
ngừng nâng đỡ Phật Giáo.
Nhân lúc rảnh việc triều đình,
"thầy của Thái Hậu là Sùng Tín Đại Trưởng Lão mới từ kinh sư
đi vào, mở mang giáo hóa, khơi thông tập tục mới lạ, răn điều ác,
trọng việc thiện, khác nào cây cỏ được nhuần thấm trận mưa rào,
cho nên, không ai là không vui tươi hớn hở."
Kết thúc Ngưỡng Sơn Linh Xứng
tự bi minh là phần văn vần khá dài, lời lẽ giản dị mà hùng tráng,
vùa tỏ được cái tâm khả kính của người tu hành, lại cùng vừa ngời
sáng niềm kiêu hãnh của một thần dân trước sự nghiệp phi thường
của bậc vĩ nhân Lý Thường Kiệt.Xin được giới thiệu một trích đoạn
ngắn như sau:
Việt hữu Lý công,
Cổ nhân chuẩn thức.
Mục quận ký ninh,
Chưởng sư tất khắc.
Danh dương hàm hạ,
Thanh chấn hà vực.
Tông giáo quy sùng,
Cảnh phúc thị thực.
Nghĩa là :
Nước Việt có tướng công người
họ Lý,
Noi theo đúng thể thức của
người xưa.
Trị dân thì dân được yên,
Xuất quân thì tất thắng.
Tên tuổi vang lùng khắp cõi,
Tiếng thơm nức bốn phương.
Thuận theo và tôn sùng Phật
Giáo,
Giữ gìn phúc đức quả là đây.
Trong thư tịch cổ,hình như
viết về danh nhân Lý Thường Kiệt,hiếm thấy tác phẩm nào có lời lẽ
cảm động như Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh. Văn bia còn,cái tâm
mhời sáng của Thích Pháp Bảo cũng mãi còn với "vạn cổ thử giang
sơn" (muôn đời non nước này).
Tuần Báo Giác Ngộ, số Xuân
Tân Tỵ - 2001
|