NAM QUỐC SƠN HÀ

Thái Úy Thái Bảo Lý Thường Kiệt

(1019-1105)

 

南國山河南帝居

 

截然定分在天書


如何逆虜來侵犯


汝等行看取敗虛

 

Nghĩa:

 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

 

 

Dưới đây là một trong các bản dịch bài Nam Quốc Sơn Hà (xem thêm Wiki.):

 

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

 

 

Bản dịch của một thành viên NTHF:

 

Sông núi phương Nam của vua Nam,
Sách trời đã vạch rõ giang san,
Cớ sao nghịch tặc ngươi xâm phạm?
Đại Việt sẽ đánh lấy Trường Giang.*

 

* Câu cuối được dịch thoát ý chính. Trường Giang (sông Dương Tử) là ranh giới lãnh thổ của Việt tộc ngày xưa, gồm Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay. Thời nhà Lý tên nước ta là Đại Việt - Đọc thêm.

 

 

Triều vua Lý Nhân Tông (1066-1127)

 

Ngày 30 tháng 12 năm 1075, Lý Thường Kiệt chỉ huy quân Đại Việt tiến chiếm thành Khâm Châu (Quảng Tây), bắt toàn bộ quan quân Tống. Ba ngày sau tức ngày 2 tháng 1 năm 1076, thêm Liêm Châu (Quảng Tây) thất thủ. Nhà Tống buộc phải giảng hòa.

 

Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Lý Thường Kiệt chỉ huy quân Đại Việt chặn đứng giặc tại sông Như Nguyệt. Quân Tống buộc phải tháo lui.

 

Đáp Lời Sông Núi - Nhạc sĩ Trúc Hồ

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam

 

 

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà xuất hiện năm 1077 giữa cuộc chiến đấu oanh liệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (khúc sông Cầu thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc ngày nay) giữa quân Đại Việt và mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy.

 

Tương truyền giữa lúc khó khăn, quân sĩ hai bên một đêm bỗng nghe tiếng ngâm vang vọng của bài thơ trên từ đền thờ Trương Hống Trương Hát (hai tướng tài của Việt Vương Triệu Quang Phục). Bài thơ góp phần khích lệ tinh thần chiến đấu của quân ta và khiến quân Tống hoang mang, rúng động, dẫn đến thất bại thảm hại của chúng chẳng bấy lâu sau đó.