Đi
tìm mộ Hồ Quý Ly
Quốc Việt
TTCN - Cách nay gần nửa
thế kỷ, một thanh niên VN đã qua Trung Quốc, lặn lội lần tìm dấu
vết Hồ Quý Ly và hậu duệ.
Cuộc tìm kiếm bất thành, đành
làm bài thơ trên khóc tế nhân vật lịch sử này của nước Việt rồi
thề rằng: “Người ôm mối hận vong quốc, gửi nắm xương tàn xa đất
nước gần 600 năm. Tôi nguyện đời này sẽ cố gắng tìm kiếm được nơi
an nghỉ của Người, và dù chỉ còn là nắm đất cũng đưa về quê hương...”.
Rồi nay khi tóc râu đã bạc trắng, người đó mới thực hiện được một
phần lời thề của mình.
Người
đó là nhà khảo cổ và chuyên gia mộ táng Đỗ Đình Truật.
Thành
Tây Gia của nhà Hồ ở Thanh
Hóa
Ngay từ thuở nhỏ, ông đã say
mê nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly trong những buổi ê a Việt sử dưới
mái trường Lê Khiết, Quảng Ngãi. Mặc dù các nhà sử học có nhiều
cách nhìn khác nhau về Hồ, thậm chí
kết tội phản thần, giết vua, nhưng cậu học sinh Truật khi ấy vẫn
cho rằng đó là nhân vật anh hùng.
“Một kẻ khác người, có tầm
vóc thời cuộc, có công vực dậy, canh tân và bảo vệ đất nước, nhưng
tiếc thay vận mệnh ngắn ngủi, để lại mối nghi hoài cho lịch sử...”.
Để tìm hiểu sự thật về Hồ Quý Ly, ông suốt ngày chìm đắm trong lịch
sử và dần dần mê sử học lúc nào không biết. Năm 1954 ông ra Bắc,
rồi được gửi sang Trung Quốc du học ở thành phố Nam Ninh, Quảng
Tây. Cơ hội nghiên cứu lịch sử lại càng đến với ông khi được thọ
giáo chính thầy Trần Văn Giáp, trợ lý của Viện Viễn Đông Bác cổ
và là người mà chính nhiều trí thức Trung Quốc cũng phải tôn phong
là Quách Mạt Nhược thứ hai.
Những ngày nghỉ cuối tuần,
thầy Giáp và ông thườn g
lang thang khắp nơi, tìm kiếm dấu vết sinh sống, lưu đày và nơi
gửi nắm xương tàn của các nhân vật lịch sử VN.
Mộ
Hồ Văn Hải ở núi Lão Hổ Sơn,
nơi ông Truật cho rằng đó là hậu duệ
của
Hồ Quý Ly và được chôn trong
khu mộ của
dòng họ nhà Hồ.
Lúc ấy ở Trung Quốc việc đi
lại của các du học sinh VN cực kỳ khó khăn. Nhiều lần ông và thầy
phải đi bộ, phải ghé nhà dân bên đường, xin nước uống và chén cơm
cầm hơi.
Ở Quảng Tây ông
đã phát hiện được di mộ của nhà yêu
nước Nguyễn
Thiện Thuật và
làm thơ khóc tế người:
“Đá bia u uẩn
tình đất nước.
Ái quốc yêu dân
buổi đoạn trường.
Rừng lau bãi sậy
quân một nhóm.
Chính nghĩa không
mờ với nước non ...”.
Nhưng dấu vết
nhân vật lịch sử mà ông say mê nhất là Hồ Quý Ly
thì vẫn mịt mờ.
Sau khi thật sự
tin rằng thông tin về Hồ Quý Ly bị bắt cùng bộ tướng ở cửa Kỳ La
(Hà Tĩnh), rồi phải chịu lưu đày và chết bệnh ở Quảng Tây là không
chính xác, ông lại tiếp tục đi tìm dấu vết ở các địa phương khác.
Bước chân ông đã đặt đến rất nhiều nơi, thậm chí cả dinh Lưỡng Quảng
tổng đốc Tôn Sĩ Nghị, tư gia tướng giặc Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, tàng
thư cổ của nước Việt ở Côn Minh, Vân Nam nhưng vẫn hoài công. Đến
khi lần mò trong Minh sử và Mộc Thạnh cố truyện, Trương Phụ cố truyện
(những vị tướng Tàu từng đánh nhau với nhà Hồ)..., le lói được chút
dấu vết Hồ Quý Ly thì ông phải về nước. Tâm nguyện không thành,
trước khi ra về ông đã thắp nén nhang, làm bài thơ “Anh hùng thất
thế trơ thành quách ...” khóc tế Hồ Quý Ly và thề sẽ có ngày trở
lại...
Năm
1961 ông về VN, tham gia nhóm khảo cổ đầu tiên của miền Bắc,
Ông
Truật (thứ hai từ phải sang) cùng hậu duệ họ Hồ dưới chân núi Lão
Hổ Sơn
nhưng hễ có thời gian rảnh
rỗi là lại mày mò nghiên cứu, tìm kiếm dấu vết nhà Hồ. Không biết
bao nhiêu lần ông đã về thành Tây Gia,
Thanh Hóa, đứng trước phế tích của thành nhà Hồ mà bồi hồi suy ngẫm
thế sự bi hùng của một nhân vật chịu quá nhiều oan khiên trong miệng
tiếng
người đời.
Chính tại đây ông đã không
cầm được nước mắt khi phủi bụi mờ, đọc văn bia của thái tử Trịnh
Cán và vua Bảo Đại còn lưu lại trong những chuyến viếng thành. Hai
con người này mặc dù vẫn theo chính sử phong kiến cho rằng Hồ Quý
Ly là phản thần, nhưng phải thốt lên lời ca ngợi trước những gì
nhà Hồ đã làm được. Cũng chính tại đây, ông đã từng bị công an địa
phương bắt giải về trụ sở vì “hành vi cứ suốt ngày mò mẫm ở thành
cổ”. Đến khi nhận ra danh tính và ý nguyện của nhà khảo cổ, họ đã
hết lời xin lỗi và bố trí cả cơm nước cho ông.
Trong các dấu vết còn lưu lại,
ông đặc biệt quan tâm đến di chỉ và gia phả của hậu duệ cũng như
bộ tướng của Hồ Quý Ly còn lại ở VN. Trong đó có người cháu Hồ Quý
Ly là Hồ Quý Công chạy được vào đất Tư Nghĩa, mà bây giờ còn miếu
thờ ở huyện Duy Xuyên, Quảng Nam. Riêng ở huyện Sơn Tịnh, Quảng
Ngãi cũng còn di mộ Đỗ Đình Hầu, một võ tướng nổi tiếng đã từng
nhiều lần cùng nhà Hồ chinh phạt quân Lâm Ấp... Ông đã lần mò chắp
nối hàng trăm bản đồ cổ từ những chuyến đi sứ hay bị lưu đày của
các bậc quan tướng Việt trên đất Trung Quốc và trao đổi thêm thông
tin với nhiều nhà sử học uy tín. Dấu vết người xưa dần dần sáng
tỏ ở một địa danh núi Lão Hổ Sơn, thôn Kim Lăng, thành phố Nam Kinh,
tỉnh Giang Tô.
Năm 2004, ông Truật đã sang
tuổi 74 và hiểu rằng mình không còn nhiều thời gian để thực hiện
tâm nguyện. Trong lúc đang loay hoay thì ông nhận được sự tài trợ
của một cơ quan cho chuyến đi Trung Quốc tìm mộ Hồ Quý Ly của mình.
Đêm trước ngày đi ông mừng vui lẫn nôn nao khó tả. Mặc dù đã cả
đời nghiên cứu Hồ Quý Ly, nhưng ông vẫn chong đèn lần giở sách cũ,
lặng lẽ đọc lại từng lời khen, chê đối với nhân vật lịch sử này.
Gió lạnh đêm khuya lùa qua khe cửa thổi tung trang sách.
Trên chuyến bay từ TP.HCM qua
Bắc Kinh, ông có cảm giác như mình đang đi ngược lại lịch sử. Cô
sinh viên VN tên Thu Vân du học ở Trung Quốc đã tự nguyện làm người
hướng dẫn đợi ông ở ngay cổng sân bay. Ngay đêm đó, hai người tiếp
tục đi xe lửa từ Bắc Kinh sang Nam Kinh. Chuyến đi mệt mỏi nhưng
ông vẫn không thể chợp mắt. Cô gái Việt luôn miệng cứ hỏi chuyện
sử Hồ. Tình cờ một hành khách người Trung Quốc ngồi cùng toa xe
nghe chuyện, tình nguyện giúp đỡ. Anh nói: “Tôi cũng họ Hồ, nhưng
không biết có phải là con cháu nhà Hồ nước Việt mà ông tìm kiếm
hay không...”.
Đến Nam Kinh, người này đã
đưa ông và Thu Vân đến núi Lão Hổ Sơn. Núi Lão Hổ Sơn là một cụm
gồm ba ngọn núi nhỏ cao khoảng 100m với diện
tích hơn 80ha nằm bên bờ Nam
sông Dương Tử.
Trên núi, cây cối rậm rạp bao
quanh một bãi nghĩa trang cổ vẫn còn được người nay chôn cất.
Đường lên núi gập ghềnh khó
đi. Ông phải nhặt một cây gậy bên đường để leo núi. Suốt cả ngày
hôm đó ông vạch cây cỏ, tìm kiếm từng ngôi mộ. Có mộ còn bia ghi
tên tuổi, nhiều mộ đã hoang phế vô danh. Đặc biệt, trên núi còn
các lô cốt được Nhật xây dựng trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật.
Những người già địa phương kể rằng nhiều mộ cổ, kể cả lăng mộ và
cái miếu rất lớn thờ một “người họ Hồ” đã bị quân Nhật san bằng
làm lô cốt.
Ngày hôm sau ông trở lại núi, cặm cụi ngồi đọc từng bia mộ còn lại
và bất ngờ phát hiện nấm mộ của một người tên Hồ Văn Hải mất cách
đây hơn 100 năm nằm dưới tán cây rừng, mà ông tin rằng có thể là
hậu duệ của Hồ Quý Ly ...

Hai
nắm đất ông Truật mang về từ nơi lưu đày Hồ Quý Ly
Ông mở chiếc túi lúc nào cũng
ôm khư khư bên người lấy ra một chai rượu trắng, bánh kẹo, đèn cầy
và bó nhang được mang từ VN sang. Lặng lẽ sắp đồ cúng ngay trên
đỉnh núi, ông thắp nén nhang khấn vái: “Thuở giang sơn suy vi, giặc
cường bạo xâm chiếm, Ngài phát tiết chí khí anh hùng mưu đồ chuyện
lớn cho dân tộc. Tiếc thay thời thế chưa thuận, vận hùng ngắn ngủi,
Ngài phải chịu cảnh lưu đày, rồi vong thân ở xứ người. Hôm nay,
tôi cũng là con cháu tổ tiên Lạc Hồng sang đây thắp cho Ngài nén
nhang với vài món quê nhà, khấn báo Tổ quốc đã hoàn toàn độc lập...”.
Cúng xong, ông lặng lẽ tưới rượu lên đỉnh núi và cắm hết những nén
nhang còn lại ở các nấm mồ vô danh...
Dưới chân núi có cả một làng
họ Hồ. Ngay trong đêm đó, ông tìm thẳng đến ngôi làng này. Những
người già ở đây đã bật khóc khi nghe ông kể chuyện lưu đày của Hồ
Quý Ly gần 600 năm trước. Một số người cho biết ngày xưa ông bà
của họ hay lên cúng tế ở ngôi miếu trên đỉnh núi.
Vượt qua hàng ngàn kilômet
đến nơi lưu đày Hồ Quý Ly, nhưng không tìm ra được chính xác mộ
phần của người, ông Truật đành bồi hồi đào nắm đất trên đỉnh Lão
Hổ Sơn, bỏ vào túi nâng niu mang về. Từ đây ông trở nên ít nói,
trầm lắng khác thường. Cả đời say mê nghiên cứu nhà Hồ, ông thuộc
nằm lòng đến từng chi tiết về nhân vật này. Năm 1407, Hồ Quý Ly
cùng gia quyến, các bộ tướng... bị quân Minh bắt và đưa về Nam Kinh.
Tuy nhiên, tại đây hoàng đế
nhà Minh đã nhận ra khả năng của họ nên đã trọng dụng. Theo tài
liệu của ông Truật, Hồ Quý Ly sau khi trải qua đường lưu đày gian
khổ đã chết ở Nam Kinh và được xây lăng mộ trên núi Lão Hổ Sơn.
Còn Nguyễn An, Hồ Nguyên Trừng được mời tham gia Bộ công, có công
rất lớn trong việc thiết kế, xây dựng thành Bắc Kinh và đúc súng
thần công cho nhà Minh. Còn Hồ Hán Thương thì được đế triều vời
ra dạy Kinh dịch cho hoàng gia. Một số người trong họ về sau lấy
vợ người Trung Quốc và hậu duệ nhà Hồ nước Việt tiếp tục nối dài.
Thắp nén nhang cuối cùng bái
lạy Hồ Quý Ly trước khi lên đường về nước, ông nguyện rằng sẽ có
ngày trở lại, “tìm chính xác nơi Ngài yên nghỉ và đưa Ngài về cố
quốc”.
|