|
Chủ
quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - Thử phân tích lập
luận của Việt Nam và Trung Quốc (*)
Từ
Đặng Minh Thu (1)
1.2.4.
Trung Quốc nói rằng những đảo trong bản đồ của Việt Nam (Đại Nam
nhất thống toàn đồ), không phải là Xisha (đảo Cồn cát Tây) và Nansha
(đảo Cồn cát Nam) của Trung Quốc vì bản đồ cho thấy những đảo gần
bờ biển quá.[21]
Phải nói rằng kỹ thuật đo
lường, kỹ thuật vẽ bản đồ, ý niệm về khoảng cách và thời gian ngày
xưa không phải như ngày nay. Chính những tác giả Trung Quốc đã khẳng
định điều đó.[22] Vấn đề xác định những đảo tranh chấp không phải
là mới mẻ, vì nó đã được đặt ra trong nhiều bản án.[23] Vấn đề này
cũng được đặt ra đối với lập luận của Trung Quốc ở mục 1.3. của
bài này. Dù sao, trong trường hợp Việt Nam, chỉ cần nhìn bản đồ
cũng thấy rằng không có sự nhầm lẫn giữa Hoàng Sa, Trường Sa và
các đảo ở ven biển, khi bản đồ được vẽ, vì những đảo ven bở biển
như đảo Ré cũng đều được vẽ trên bản đồ, những đảo này đã được vẽ
sát dọc theo bờ biển. Mà trên thực tế, giữa những đảo ven bờ biển
và Hoàng Sa, Trường Sa, không có đảo hoặc quần đảo nào khác.
Từ đó, chúng ta có thể kết
luận rằng những quần đảo mà bản đồ Việt Nam ghi là Hoàng Sa và Vạn
Lý Trường Sa chính là Hoàng Sa và Trường Sa. Phương pháp suy diễn
này đã được áp dụng trong bản án Palmas. Người vẽ bản đồ chỉ không
có ý niệm xác thực về khoảng cách không gian và tỷ lệ phải áp dụng
khi chuyển nó lên mặt giấy để vẽ bản đồ, nên vẽ khoảng cách ngắn
hơn thực tế.
Ngay cả khoảng cách giữa hai
quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa cũng bị rút ngắn lại, khiến
cho thoạt nhìn, người ta có thể tưởng rằng đây chỉ là một quần đảo.
Tuy nhiên, nhiều điều rút từ những ghi chép trong sách sử Việt Nam,
và từ những bản đồ thời đó, đã chứng minh đó không phải chỉ là một
quần đảo Hoàng Sa:
(1) Trên bản đồ Đại Nam nhất
thống toàn đồ có ghi tên hai đảo rõ rệt vẽ bằng chữ nho: Hoàng Sa
và Vạn Lý Trường Sa.
(2) Các sách sử địa của Việt
Nam có nói đến 130 đảo. Con số này không phù hợp với số đảo thuộc
quần đảo Hoàng Sa, hoặc quần đảo Trường Sa tính riêng. Nhưng nếu
cộng số đảo của hai quần đảo lại thì con số vừa đúng là 130.[24]
Bản đồ 4
Hoàng Sa
Bản đồ 6
Atlas of the world
Bản đồ 7
(3) Nếu so sánh bản Đại Nam
nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1), bản đồ phóng đại của quần đảo này
trích từ Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 2), bản đồ The Times
Atlas of the World (ghi tắt là Atlas, Bản đồ 3 và 6), bản đồ phóng
to hiện thời của dãy Hoàng Sa (Bản đồ 4), và bản đồ của dãy Trường
Sa (Bản đồ 7), thì sẽ thấy như sau:
· Hình dạng của dãy quần đảo
trên Bản đồ 1 không phù hợp với hình dạng của quần đảo Hoàng Sa
nói riêng. Hình dạng của quần đảo của Hoàng Sa là theo hình vòng
tròn, nó gồm hai cụm đảo chính là cụm Crescent hình dạng đúng như
cái tên của nó, tức là các đảo nằm cụm vào nhau theo hình lưỡi liềm.
Phía sau cụm Crescent (Lưỡi Liềm) là cụm Amphitrite (An Vĩnh), xếp
theo hình vòng cung. Ngoài ra có vài đảo rải rác quanh đó, nằm theo
hình vòng tròn vây quanh hai cụm đảo chính, chứ không phải hình
dài (xem Bản đồ 3 và 4).
Trong khi đó, nếu nhìn vào
Bản đồ 2, ta sẽ thấy một quần đảo theo hình chuỗi trải dài xuống
và bị thóp lại ở giữa, hoàn toàn không phải là hình cụm như quần
đảo Hoàng Sa. Phần trên của chuỗi này, được xếp theo cụm giống như
Hoàng Sa (xem đoạn từ A tới B trên bản đồ, do tác giả kẻ cho dễ
thấy). Nhưng nửa dưới của chuỗi đảo mang một hình dạng xuôi dài
xuống (đoạn kẻ từ B tới C), không giống một phần nào của quần đảo
Hoàng Sa như ta thấy trên Bản đồ 3 hoặc Bản đồ 4. Phần này chắc
chắn không phải là Hoàng Sa. Theo Bản đồ 6 thì giữa quần đảo Hoàng
Sa và quần đảo Trường Sa không có một quần đảo nào khác cả, mà quần
đảo hình chuỗi dài xuống thì lại càng không có. Như vậy phần dưới
của chuỗi đảo được vẽ trên Bản đồ 2 không thể là quần đảo nào khác
hơn là Trường Sa.
Mỗi phần lại có một tên riêng
viết bằng chữ nho: “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa”. Điều này chứng
minh Đại Nam nhất thống toàn đồ phân biệt rõ ràng hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
· Bản Đại Nam nhất thống toàn
đồ (Bản đồ 1) cho thấy chuỗi đảo kéo dài suốt từ Quảng Nam đến tận
Cam Ranh, đảo thấp nhất trên bản đồ nằm ngoài khơi Cam Ranh và Khánh
Hoà. Trong khi đó quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ Atlas nằm ngoài
khơi tỉnh Quảng Nam, đảo thấp nhất của nó theo hướng tây nam là
đảo Triton (đảo Tri Tôn) nằm song song với tỉnh Quảng Nam. Trên
Bản đồ 2, đảo thấp nhất phía tây của cụm đảo A-B nằm ngang với cửa
Đại Cát (trong sách của Đỗ Bá gọi là Đại Chiêm), mà Đại Cát vị trí
ngang với Quảng Nam. Như vậy, đảo nói trên là đảo Triton (gạch chữ
X trên Bản đồ 2, do tác giả ghi). Và như thế thì làm sao cắt nghĩa
được đoạn dưới của chuỗi đảo trên Đại Nam nhất thống toàn đồ, là
đoạn bắt đầu từ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi trên bản đồ Atlas) đến vịnh
Cam Ranh?
Đảo Hoàng Sa không kéo dài
xuống tới Khánh Hoà hoặc vịnh Cam Ranh. Nếu nhìn vảo bản đồ Atlas,
ta sẽ thấy song song với tỉnh Phan Rang, gần vịnh Cam Ranh (xem
Bản đồ 6), là đảo Thitu (đảo Thị Tứ) của dãy Trường Sa: Northeast
Cay (đảo Song Tử Đông), Southeast Cay (đảo Song Tử Tây), South Reef
(đá Nam), và West York Island (đảo Dừa), đều nằm ngoài khơi, ngang
với khoảng cách từ Khánh Hoà tới Cam Ranh (xem Bản đồ 7).
· Nhìn vào bản đồ của Đại
Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1), có thể có 4 giả thuyết:
a) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải
không biết đến Trường Sa và các tác giả chỉ vẽ Hoàng Sa mà thôi.
b) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải
đã hoạt động ở cả quần đảo Hoàng Sa và toàn thể quần đảo Trường
Sa, và tác giả của bản đồ muốn vẽ cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa, nhưng vì kỹ thuật kém, nên toàn khối Trường Sa gần với Hoàng
Sa hơn ngoài thực tế.
c) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải
chỉ hoạt động và thám thính các đảo phía bắc của dãy Trường Sa,
tức Northeast Cay, Southeast Cay, South Reef và Thitu; và người
vẽ bản đồ, vì kỹ thuật kém nên vẽ các đảo đó gần với quần đảo Hoàng
Sa.
d) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải
đã hoạt động ở những đảo nói trên của quần đảo Trường Sa và cả dãy
đảo phía dưới các đảo này tức Xubi Reef (đá Subi), Loaita Island
(đảo Loai Ta), Itu Aba Island (đảo Ba Bình), Great Discovery Reef
(đá Lớn), Spratly Island (đảo Trường Sa), … nhưng vì kỹ thuật kém,
nên vẽ dãy đảo này gần với quần đảo Hoàng Sa.
Dựa vào những dữ kiện vừa
nêu, thì giả thuyết thứ nhất (a) đáng loại bỏ trước tiên, vì số
đảo, hình dạng của quần đảo Hoàng Sa, địa điểm của nó so với những
tỉnh trong đất liền, tất cả những chi tiết này như được vẽ trên
Bản đồ 1 và 2 không ăn khớp với thực tế trên Bản đồ 3 và 4.
Chúng ta cũng không nghĩ rằng
tác giả bản Đại Nam nhất thống toàn đồ có thể vì kỹ thuật kém nên
kéo dài Hoàng Sa xuống tận Cam Ranh. Vì Đại Nam thư lục chính biên,
quyển 165, có nói rõ một trong những mục đích của những chuyến công
tác của Đội Hoàng Sa và Bắc Hải là gạch lộ trình để ra mỗi đảo,
và ấn định rõ vị trí của mỗi đảo so với mỗi tỉnh ngang với nó trong
đất liền. “Phải ấn định rõ cửa khẩu nào đưa ra mỗi đảo.
Mỗi lộ trình phải được ước
lượng bằng “dặm”.[25] Như vậy, tác giả của bản đồ này không thể
nào nhầm lẫn mà ấn định đảo cuối của dãy Hoàng Sa nằm ngang với
Cam Ranh. Giả thuyết thứ ba (c) không giải thích được hình dạng
của chuỗi đảo trên bản đồ 1. Giả thuyết thứ hai (b) và thứ tư (d)
có lẽ sát sự thực vì nó giải thích được hình dạng của chuỗi đảo
trên Bản đồ 1, vị trí của đảo ngang với vùng Khánh Hoà, Cam Ranh.
Hình chuỗi nằm xuôi dài xuống của các đảo ở đoạn CD, khiến chúng
ta nghiêng về giả thuyết thứ tư (d) hơn.
Tuy nhiên, giả thuyết thứ ba
(c) cũng có thể áp dụng được nếu cho rằng Đội Hoàng Sa và Bắc Hải
đã biết toàn thể hoặc đa số các đảo trên dãy Trường Sa, nhưng khi
đưa lên bản đồ chỉ vẽ được một số đảo ở phía Tây mà thôi. Như vậy,
sẽ ăn khớp với số đảo là 130 đã được ghi trong những sách sử nói
trên. Vả lại, Đại Nam thực lục chính biên cũng có nói trong tờ trình
của Bộ Công, là quần đảo rất rộng nên chỉ vẽ được một số đảo giới
hạn. Tờ trình cũng công nhận là bản đồ vẽ không được chính xác.
“Quần đảo Hoàng Sa, biên giới
biển của nước ta, là một địa điểm chiến lược rất quan trọng… Những
đoàn công tác đã được phái đi để lấy kích thước vẽ bản đồ, nhưng
vì quần đảo quá rộng, nên chỉ mới vẽ được một đảo trên bản đồ, mà
cũng không được chính xác và chi tiết như mong muốn…”. Vì vậy, tờ
trình của Bộ Công đã đề nghị Vua cho công tác ra các đảo mỗi năm:
“Ta nên gửi đoàn công tác ra mỗi năm để thám sát toàn diện quần
đảo…”.[26]
Bản đồ vẽ quần đảo Trường
Sa gần với quần đảo Hoàng Sa hơn trong thực tế chỉ vì kỹ thuật thời
đó còn kém, không biết tỷ lệ đưa lên giấy. Bản đồ của Trung Hoa
và của phương Tây thời đó cũng mang khuyết điểm này. Hơn nữa, vị
trí của hai quần đảo nằm trên cùng một kinh tuyến 111°;[27] quần
đảo Trường Sa nằm hơi nhích sang phía đông nam, nên trên thực tế
cũng không xa nhau lắm, và vì thời đó người ta không có được ý niệm
chính xác về kích thước và tỷ lệ phải tuân theo khi vẽ bản đồ, thì
có khuynh hướng vẽ hai quần đảo gần nhau hơn thực tế, cũng dễ hiểu.
Dù sao, giả thuyết thứ hai (b), thứ ba (c) hoặc thứ tư (d) cũng
đều chứng minh được Việt Nam ít ra cũng có hành xử chủ quyền trên
quần đảo Trường Sa.
Những bản đồ của phương Tây
thời xưa cũng không phân biệt được quần đảo Hoàng Sa và quần đảo
Trường Sa nên đã vẽ cả hai thành một khối gọi là Hoàng Sa. Thí dụ,
bản đồ của anh em Van Langren, 1595, bản đồ Les établissement et
point de penetration européen en Extrême Orient au 18è siècle (Bản
đồ 8 và 9).
Bản đồ 8
Bản đồ 9
Bản đồ 10
Đại Việt đời Hồng Đức
(Bản vẽ lại cho dễ đọc các địa danh)
Bản đồ 11
Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ (Lê Trung Hưng)
Trước thời Minh Mạng, hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng được xem như một quần đảo, nên
gọi hai quần đảo là Hoàng Sa, có khi gọi là Vạn Lý Trường Sa. Nhưng
sau khi các đoàn công tác được Vua Minh Mạng ra lệnh lấy kích thước
và thám sát cả hai quần đảo, thì bản đồ được vẽ sau đó (tức bản
Đại Nam nhất thống toàn đồ), mới ghi rõ ràng hai tên khác nhau cho
hai quần đảo. Nếu trên Bản đồ 2, chúng ta lấy bút khoanh cụm đảo
ở đoạn A-B lại, và cũng khoanh chuỗi đảo ở đoạn B-C lại, thì ta
sẽ thấy hai quần đảo riêng rẽ, với hai cái tên riêng rẽ (xem Bản
đồ 5).
Do đó, ta có thể kết luận
rằng Việt Nam đã hành xử chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa. Vì vậy mới có sự hiện diện của Đội Bắc Hải được cử
đi khai thác và quản lý những đảo Trường Sa, Côn Lôn, vùng Hà Tiên,…
(thể theo quyển Phủ Biên tạp lục, quyển 2).
Người ta có thể thắc mắc tại
sao Đội Bắc Hải đảm trách Trường Sa, Côn Lôn, Hà Tiên, là những
vùng phía Nam, mà lại gọi là Bắc Hải. Sử gia Võ Long Tê có giải
thích rằng Bắc Hải theo nghĩa chữ nho cũng có thể là “xa xôi”. Như
vậy “Bắc Hải” có thể hiểu là vùng biển xa xăm.[28]
Nghĩa thứ hai mà ta có thể
giải thích là Đội Bắc Hải kiêm trách cả vùng biển miền Bắc lẫn những
đảo ở phía Nam. Vì quyển Phủ Biên tạp lục có ghi rằng Đội Bắc Hải
hoạt động ở “… vùng Biển Bắc, những đảo Côn Lôn, Cù Lao, vùng Hà
Tiên và Cồn Tự…”.[29] Nếu theo giả thuyết trên thì ta phải hiểu
là hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải bổ túc cho nhau chứ không có sự phân
chia vùng hoạt động giữa hai Đội.
Theo như ghi chép trong Phủ
Biên tạp lục thì sự phân chia giữa hai Đội là ở sản vật được khai
thác: Đội Bắc Hải gần như chỉ thu thập các hải sản, còn Đội Hoàng
Sa thu thập cả các hoá vật, vàng, bạc,… do tàu đắm để lại.
Thêm một nhận xét nữa là:
Trường Sa nằm ở gần đảo Côn Lôn nên không lẽ thời đó, Đội Bắc Hải
hoặc dân đánh cá Việt Nam từ trước nữa đã khám phá và khai thác
đảo Côn Lôn mà lại không hề biết đến đảo Trường Sa.
Nhất là tàu thuyền của Việt
Nam thời đó là một lực lượng hùng mạnh khiến nhiều nhà thám hiểm
phương Tây phải xác nhận điều đó. Thí dụ, ông Gentil de la Barbinais
đã viết trong quyển Nouveau voyage autour du monde (xuất bản vào
năm 1738) như sau: “Quoique jusqu’ici les Cochinchinois, aient attaqué
ou se soient défendus par terre, les emplois de I’armée navale sont
plus recherchés, comme étant les plus honorifiques.
Le Roi de Cochinchine entretient
150 galères. À la dernière revue des galères, qui se fit en 1678,
il y avait 131 galères…”[30] (Có thể dịch là: “Mặc dù dân Việt Nam
đến bây giờ vẫn tấn công hoặc phòng thủ trên đất liền, việc sử dụng
lực lượng hải quân của họ tinh vi hơn, và có thể nói là xuất sắc
nhất. Vua Việt Nam có 150 chiến thuyền. Nhân cuộc biểu trương chiến
thuyền gần nhất, được tổ chức vào năm 1678, có tới 131 chiến thuyền…”).
<<
>>
|