|
Chủ
quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - Thử phân tích lập
luận của Việt Nam và Trung Quốc (*)
Từ
Đặng Minh Thu (1)
1.2.2.
Hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên tạp lục của
Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn là quan dưới thời
nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam. Ông đã viết Phủ biên
tạp lục vào năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rất nhiều
tài liệu của chính quyền các Chúa Nguyễn để lại.[8] Đoạn sau đây
nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
“… Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài
cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng
hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn
canh thì đến; phía ngoài nữa, lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia
có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy,
đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải”.[9]
Một đoạn rất dài khác cũng
trong Phủ biên tạp lục nhưng cần phải trích dẫn vì nó cung cấp nhiều
chi tiết quan trọng liên quan đến cách Chúa Nguyễn tổ chức khai
thác hai quần đảo một cách hệ thống:
… Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình
Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều
cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ
hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên
núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước
hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có
vô số yến sào; các thứ chim có hàng ngàn, hàng vạn, thấy người thì
đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì
có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay,
sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được,
lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có
ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì
rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi nhưng
nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái,
muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi,
lấy về dùng vôi sát quan, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước
cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.
Các thuyền ngoại phiên bị
bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất,
lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận
giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền
câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim
bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc,
tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải
ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào
cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho
đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở
về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không.
Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: Năm Nhâm
Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm
Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy
mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc
khôi, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.
Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc
Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình
Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy
sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu
nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm
lượm vật của tầu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng
sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật,
còn vàng bạc của quý ít khi lấy được”.[10]
Đoạn này cho thấy việc khai
thác hai quần đảo của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải kéo dài từ thế
kỷ XVII sang đến cuối thế kỷ XVIII. Hoạt động của hai đội này được
tổ chức có hệ thống, đều đều mỗi năm ra đảo công tác 8 tháng. Các
thuỷ thủ do nhà nước tuyển dụng, hưởng bổng lộc của nhà nước, giấy
phép và lệnh ra công tác do nhà nước cấp.
Các bộ sử như Lịch triều hiến
chương loại chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống
chí, Hoàng Việt địa dư chí, đều có đoạn ghi các Chúa Nguyễn tổ chức
khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và cả các đảo khác
nữa: Đội Thanh Châu phụ trách các đảo ngoài khơi Quy Nhơn lấy tổ
chim yến, Đội Hải Môn hoạt động ở các đảo Phú Quý, Đội Hoàng Sa
chuyên ra quần đảo Hoàng Sa, sau đó lại tổ chức Đội Bắc Hải thuộc
đội Hoàng Sa nhưng phụ trách các đảo xa ở phía Nam trong đó có quần
đảo Trường Sa, đảo Côn Lôn và các đảo nằm trong vùng vịnh Thái Lan
thuộc chủ quyền của Việt Nam.[11]
Đặc biệt là bộ Lịch triều
hiến chương loại chí: Dư địa chí của Phan Huy Chú (1782 – 1840).
Phan Huy Chú và các tác phẩm của ông được Gaspardone nghiên cứu.
Bộ sử này viết vào đầu thế kỷ XIX và gồm 49 quyển nằm ở École Fransaise
d’Extrême Orient.[12]
1.2.3. Chính thức chiếm
hữu và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XIX
Chủ quyền được tiếp tục hành
xử qua thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn (là thời đại kế vị chính
quyền các Chúa Nguyễn).
Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn,
Vua Gia Long, đã củng cố thêm quyền lịch sử của Việt Nam bằng cách
chính thức chiếm hữu hai quần đảo. Năm 1816, Vua đã ra lệnh cho
Đội Hoàng Sa và hải quân của triều đình ra thăm dò, đo thuỷ lộ,
và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để biểu tượng cho chủ quyền của
Việt Nam. Đoạn sau đây của bộ Việt Nam thực lục chính biên chứng
minh điều này:
“Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời
Vua Gia Long (1816)
Ra lệnh cho lực lượng hải
quân và đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và
khám xét thuỷ trình.”
Sự chiếm hữu hai quần đảo
theo lệnh của Vua Gia Long cũng được chứng nhận bởi các tài liệu
của phương Tây.
Bài của M.A. Dubois de Jancigny
viết như sau:
“… Từ hơn 34 năm, Quần đảo
Paracel, mang tên là Cát Vàng hay Hoàng Sa, là một giải đảo quanh
co của nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng
hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ. Chúng tôi không biết rằng
họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rằng vua
Gia Long đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính
ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm lấy và năm 1816
nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Nam Kỳ”.[13]
Một bài khác của Jean Baptiste
Chaigneau cũng ghi nhận điều trên:
“Nam Kỳ, mà nhà vua hiện nay
là hoàng đế bao gồm bản thân xứ Nam Kỳ, xứ Bắc Kỳ, một phần của
Vương quốc Campuchia, một số đảo có người ở không xa bờ biển và
quần đảo Paracel gồm những bá đá ngầm, đá nổi không có người ở.
Chỉ đến năm 1816 hoàng đế hiện nay mới chiếm lĩnh những đảo ấy.”[14]
Năm 1833, vua Minh Mệnh cho
đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và xây chùa. Vua cũng ra lệnh
trồng cây và cột trên đảo. Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyển
thứ 104, viết như sau:
“Tháng tám mùa thu năm Quý
Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)… Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận
Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không
phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn)
bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới
đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to
lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc
cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.[15]
Năm sau, Vua Minh Mệnh ra
lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích thước để vẽ bản đồ. Quyển
Đại Nam thực lục chính biên (1834), quyển thứ 122 ghi nhận điều
này:
“Năm Giáp Ngọ, thứ 15, đời
Minh Mệnh:
… Vua truyền lệnh cho Đội
trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên 20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng
Sa để vẽ bản đồ…”.[16]
Đến năm 1835 thì lệnh xây
miếu, dựng bia đá được hoàn tất và được ghi nhận trong quyển Đại
Nam thực lục chính biên, quyển thứ 154:
“Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi,
Minh Mệnh thứ 16 (1835)… Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc
Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát
trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu
cổ, có tấm bài khắc 4 chữ: “Vạn Lý Ba Bình” (1). Còn Bạch Sa chu
vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá
san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn
toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng
3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái vua
toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được.
Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám
thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở
vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu
dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong,
rồi về”.[17]
Đoạn sau đây của cùng bộ sách,
cho thấy vua nhà Nguyễn không những quan tâm đến việc khai thác
đảo mà còn nhận thức được vị trí chiến lược của hai quần đảo, xem
chúng như là lãnh thổ biên phòng của Việt Nam và tổ chức cả một
chương trình dài hạn để củng cố biên cương đó – theo Đại Nam thực
lục chính biên, quyển thứ 165:
“Năm Bính Thân, niên hiệu
Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1…
Bộ Công tâu: Cương giới mặt
biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia, đã phái
vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa
rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường
biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, xin
phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng
tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình
Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa,
không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng
xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu
vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay
không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc,
vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi,
nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước
được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng vào
là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào,
phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói
rõ, đem về dâng trình”.
“Vua y lời tâu, phái suất
đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo
10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước,
rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ “Minh Mệnh thứ 17,
năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật,
vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.[18]
Sau đó, hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa được vẽ trên bản đồ của triều đình Vua Minh Mệnh.
Những đoạn trên đây cho thấy chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã tiếp
tục được hành xử bởi các vua nhà Nguyễn. Đội Hoàng Sa và Bắc Hải
được trao thêm nhiều nhiệm vụ: tuần tiễu, đi lấy kích thước đảo
để vẽ bản đồ, thăm dò địa hải, vẽ thuỷ trình,… Những Đội này cũng
có nhiệm vụ thu thuế những người tạm sống trên đảo[19].
Hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải
hoạt động cho đến khi Pháp xâm lược Việt Nam. Ít nhất từ thế kỷ
XVII (và có thể từ thế kỷ XV hoặc trước nữa), từ thời Chúa Nguyễn,
trải qua các triều đại vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ, hai đội này
đã có nhiều hoạt động khai thác, quản trị và biên phòng đối với
hai quần đảo. Đây là những hoạt động của nhà nước, do nhà nước tổ
chức. Những hoạt động này kéo dài suốt 300 năm không có một lời
phản đối của Trung Hoa thời đó. Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách
nhiệm quốc tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên đảo để các
thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn. Rõ ràng đây là những sự hành xử
chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình.
Như vậy, chủ quyền của Việt
Nam được thụ đắc qua hai phương pháp phối hợp nhau: (1) quyền lịch
sử bắt nguồn từ sự sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô
chủ dưới thời các Chúa Nguyễn, thế kỷ XVII và XVIII (consolidation
par titre historique), và (2) chủ quyền bắt nguồn từ sự chính thức
chiếm hữu và hành xử chủ quyền một cách liên tục dưới thời các vua
nhà Nguyễn, thế kỷ XIX (prise de possession, occupation et effectivité).
Thực ra việc thụ đắc bằng phương pháp (1) cũng đã đủ để tạo chủ
quyền cho Việt Nam, và như vậy, Việt Nam đã có chủ quyền lịch sử
từ thế kỷ XVII. Quyền này lại được củng cố thêm khi các vua nhà
Nguyễn chính thức chiếm hữu đảo.
Đội Hoàng Sa và Bắc Hải không
hiện diện thường xuyên trên đảo vì điều kiện sinh sống ở các đảo
không cho phép. Tuy nhiên, lệ án quốc tế đã mềm dẻo đối với những
nơi này luật không bắt buộc phải có một sự hiện diện thường xuyên
của quốc gia chiếm hữu. Trong vụ án Clipperton, Pháp chỉ cho tàu
chiến thanh tra đảo, mà không đặt một cơ quan công quyền nào hiện
diện thường xuyên tại đảo. Trọng tài Quốc tế đã cho rằng như vậy
cũng đủ để hành xử chủ quyền, vì điều kiện ở đảo không cho phép
sống thường xuyên trên đó.[20] Trong trường hợp Việt Nam, mặc dù
không ở lại đảo thường xuyên, hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải cũng sống
ở đó 8 tháng mỗi năm đến khi gió nồm bắt đầu thổi, tức là mùa bão
biển tới, họ mới trở về đất liền 4 tháng, và đến tháng giêng lại
trở ra các đảo đóng ỏ đó 8 tháng và hàng năm đều như vậy. Với hoàn
cảnh thời đó, thuyền của các quốc gia khác, kể cả thuyển của Trung
Hoa đều sợ không dám đến đảo, trong khi Việt Nam cho quân đến đóng
ở các đảo 8 tháng mỗi năm.
Như vậy, đã vượt tiêu chuẩn
ấn định bởi vụ án Clipperton, và quá đủ để xem như Việt Nam đã chiếm
hữu hai quần đảo từ thời các Chúa Nguyễn (thế kỷ XVII).
<<
>>
|