|
Chủ
quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - Thử phân tích lập
luận của Việt Nam và Trung Quốc (*)
Từ
Đặng Minh Thu (1)
II. PHÂN TÍCH LẬP LUẬN
CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Lý lẽ mà cả Việt Nam và Trung
Quốc đưa ra là chủ quyền lịch sử, cả hai quốc gia đều khẳng định
mình có chủ quyền từ lâu đời được củng cố và chứng minh bằng lịch
sử. Ngoài ra, Trung Hoa ngày xưa, cũng như Đài Loan ngày nay, và
nhiều tác giả thường viện dẫn Hiệp uớc Pháp – Thanh 1887 để khẳng
định hai quần đảo thuộc về Trung Quốc. Vì Trung Quốc và Đài Loan
đã đồng ý nói chung một tiếng nói trong vụ tranh chấp này, do đó,
đây cũng có thể là một lý lẽ của Trung Quốc. Thời kỳ gần đây, từ
khi tranh chấp với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung Quốc
đã viện dẫn thêm một lý lẽ, là những lời tuyên bố trước đây của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phần này sẽ phân tích ba lý lẽ nói
trên.
1. Chủ quyền lịch sử
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều
nại rằng mình đã khám phá, chiếm hữu và hành xử chủ quyền lâu đời.
Chúng ta thử phân tích lý lẽ chủ quyền lịch sử của mỗi bên có đạt
đủ tiêu chuẩn của luật quốc tế hay không. Trước tiên, chúng ta hãy
tìm hiểu luật quốc tế chi phối sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ như
thế nào.
1.1.
Sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ theo luật quốc tế.
Một sự chiếm hữu lãnh thổ,
muốn hợp pháp, phải hội đủ ba điều kiện:
Một
là, điều kiện liên quan đến đối tượng của sự chiếm hữu: lãnh thổ
được chiếm hữu phải là đất vô chủ (res nullius), hoặc là đã bị chủ
từ bỏ (res derelicta).
Hai
là, tác giả của sự chiếm hữu phải là một quốc gia. Chiếm hữu phải
được thực hiện bởi chính quyền của quốc gia muốn chiếm hữu hoặc
bởi đại diện của chính quyền chiếm hữu nhân danh quốc gia mình.
Tư nhân không có quyền chiếm hữu.
Ba
là, phương pháp chiếm hữu:
Phương pháp chiếm hữu đã trải
qua nhiều thay đổi theo thời gian. Trước năm 1884, quyền chiếm hữu
do Đức Giáo Hoàng ban cho. Từ thế kỷ VIII đến XV, Đức Giáo Hoàng
chia đất giữa hai quốc gia là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Đến thế
kỷ XVI, khi nhiều quốc gia khác cũng bắt đầu tham gia vào công cuộc
đi tìm đất mới, thì phương cách chia đất bởi Đức Giáo Hoàng bị chỉ
trích, và người ta đặt ra một phương thức mới cho sự chiếm hữu lãnh
thổ, đó là quyền khám phá.
Quốc gia nào khám phá ra mảnh
đất đó trước thì được chủ quyền trên đất đó. Khám phá đây có nghĩa
là chỉ nhìn thấy đất thôi, không cần đặt chân lên đất đó, cũng đủ
để tạo chủ quyền. Sau này, điều kiện đó được xem như không đủ, nên
người ta đưa thêm một điều kiện nữa, là sự chiếm hữu tượng trưng.
Quốc gia chiếm hữu phải lưu
lại trên lãnh thổ một vật gì tượng trưng cho ý chí muốn chiếm hữu
của mình: cờ, bia đá, đóng cọc, hoặc bất cứ một vật gì tượng trưng
cho chủ quyền của quốc gia chiếm hữu.
Đến thế kỷ XVIII, người ta
thấy chiếm hữu tượng trưng cũng không đủ để chứng tỏ chủ quyền của
một quốc gia. Vì vậy, đến năm 1885, Định ước Berlin nhằm giải quyết
vấn đề chia đất ở châu Phi, ấn định một tiêu chuẩn mới sát thực
hơn cho sự chiếm hữu lãnh thổ. Đó là sự chiếm hữu thực sự và hành
xử chủ quyền trên lãnh thổ được chiếm hữu.
Ngoài ra, Định ước Berlin cũng
ấn định rằng quốc gia chiếm hữu phải thông báo sự chiếm hữu của
mình cho các quốc gia khác biết. Nguyên tắc chiếm hữu thực sự và
hành xử chủ quyền sau này đã trở thành tập quán quốc tế và được
làm cơ sở cho sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ trong luật quốc tế hiện
đại. Tuy nhiên, yếu tố thông báo không phải là một tập quán quốc
tế, nó chỉ áp dụng riêng cho trường hợp chiếm hữu đặt trong phạm
vi của Định ước Berlin mà thôi.
Ngày nay theo luật quốc tế,
sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinh
thần. Yếu tố vật chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và
hành xử chủ quyền trên lãnh thổ đó. Điều này có nghĩa là quốc gia
chiếm hữu phải có sự hiện diện thường trực trên lãnh thổ được chiếm
hữu, và phải có những hoạt động hoặc những hành vi có tính quốc
gia đối với lãnh thổ đó. Sự hành xử chủ quyền phải có tính liên
tục. Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định thực
sự chiếm hữu mảnh đất đó. Phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh
thần trên thì sự chiếm hữu mới có hiệu lực. Và sự từ bỏ lãnh thổ
cũng phải hội đủ cả hai yếu tố: vật chất, tức là không hành xử chủ
quyền trong một thời gian dài, và tinh thần, tức là có ý muốn từ
bỏ mảnh đất đó. Phải hội đủ cả hai yếu tố: từ bỏ vật chất và từ
bỏ tinh thần thì lãnh thổ đó mới được xem như bị từ bỏ, và trở lại
quy chế vô chủ.[4]
Ngoài phương pháp chiếm hữu
thực sự và hành xử chủ quyền (occupation và effectivité), một quốc
gia cũng có thể thụ đắc chủ quyền qua những phương pháp khác như
chuyển nhượng (cession), thời hiệu (prescription), củng cố chủ quyền
bằng danh nghĩa lịch sử (consolidation par titre historique),… Phương
pháp “củng cố chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử” được áp dụng nếu
quốc gia đã sử dụng lâu đời một lãnh thổ khác mà không có phản đối
của một quốc gia nào khác.[5]
Những tiêu chuẩn trên đã được
áp dụng thường xuyên bởi án lệ quốc tế, trong những bản án về tranh
chấp đảo Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous…
1.2.
Chủ quyền lịch sử của Việt Nam
Phải nói rằng, vì hoàn cảnh
chiến tranh, nên tài liệu lịch sử của Việt Nam đã bị tàn phá hoặc
thất lạc rất nhiều. Việt Nam đã đưa ra những tài liệu lịch sử và
địa lý đủ để chứng minh rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo này
từ lâu, đã chiếm hữu tượng trưng cũng như thực sự và hành xử chủ
quyền trên hai quần đảo qua nhiều đời vua và trải qua ít nhất là
ba thế kỷ.
1.2.1. Khám phá ít
nhất là từ thế kỷ XV, và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVII
Dân đánh cá Việt Nam đã sống
trên những đảo này và khai thác đảo từ lâu đời. Tài liệu sớm nhất
mà Việt Nam còn có được là quyển “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ
đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII. Danh từ “Tuyển tập” cho
ta thấy tài liệu này được thu nhập từ nhiều tài liệu trước nữa.
Trong quyển này, Đỗ Bá đã tả những quần đảo này rất chính xác, và
xác nhận rằng Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác quần
đảo từ thế kỷ XVII. Đoạn trích do sử gia kiêm nhà Hán học Võ Long
Tê dịch như sau:
“Tại làng Kim Hộ, ở hai bên
bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có mỏ vàng do nhà nước cai quản.
Ngoài khơi, một quần đảo với những cồn cát dài, gọi là “Bãi Cát
Vàng”, dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới đáy biển,
đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Vào mùa gió
nồm Tây Nam, những thương thuyền từ nhiều quốc gia đi gần bờ biển
thường bị đắm dạt vào những đảo này; đến mùa gió Đông Bắc, những
thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm như thế. Tất cả những người bị
đắm trôi dạt vào đảo, đều bị chết đói. Nhiều hàng hoá tích luỹ trên
đảo.
Mỗi năm, vào tháng cuối của
mùa đông, Chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo
để thu thập những hoá vật, đem về được một số lớn vàng, bạc, tiền
tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm, ra tới đảo mất một ngày rưỡi, nếu
đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày.”[6]
Theo sử gia Võ Long Tê, mặc
dù quyển sách của Đỗ Bá được viết vào thế kỷ XVII (vào năm 1686),
đoạn thứ nhất của hai đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyển
Hồng Đức Bản Đồ - Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460
– 1497).[7] Như vậy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những đảo
này ít ra cũng từ thế kỷ XV. Danh từ Bãi Cát Vàng chứng tỏ rằng
những đảo này đã được những người Việt Nam ít học nhưng hiểu biết
nhiều về biển khám phá và khai thác, từ lâu trước khi chính quyền
Chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo. Dân Việt Nam đã sinh sống ở đó
từ nhiều thế kỷ, và chính quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã biết
tổ chức khai thác đảo có hệ thống. Những yếu tố này, nhất là sự
khai thác của nhà nước từ thế kỷ XVII qua rất nhiều năm, đã tạo
nên từ thời đó một chủ quyền lịch sử cho Việt Nam trên những đảo
này.
<<
>>
|