|
Bài ngửa ở Biển Đông
và bài bản về tư duy (3)
Lê Tuấn Huy, 30.08.2009
7. Quyền lợi Trung Quốc và Việt Nam
Trong chiến lược bành trướng hiện đại, vừa “cứng”
vừa “mềm” của Hoa lục, vùng đất duyên hải phương nam trở thành hướng
khả thi nhất, không chỉ vì Việt Nam yếu kém thế lực, đơn độc, mà
còn vì Hà Nội có niềm tin đồng chí vào Bắc Kinh; không chỉ vì đối
với họ, Việt Nam là chủ thể đặc biệt của “Nam hải”, cả về vị trí
lẫn phạm vi tranh chấp, mà còn vì cái lịch sử dang dở mà họ nay
muốn hoàn thành trước thời cơ ngàn năm có một. Và, cùng với những
nguyên do đó, như đã rõ, biển Đông là nơi đầu tiên mà Hoa lục muốn
làm chủ trên con đường vươn ra đại dương.
Trong bối cảnh đại dương ngày càng đóng vai trò lớn
về kinh tế, chính trị và quân sự, thì một khi nhìn nhận quyền lợi
của Hoa Kỳ tại biển Đông[1], ta cũng phải thấy và tôn trọng quyền
lợi của Trung Hoa tại vùng biển phía nam của họ.
Về kinh tế, cũng như Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan,
cơn khát dầu của Hoa lục đòi hỏi một đường tiếp liệu và giao thương
thông suốt. Đồng thời, quyền lợi của họ đối với các nguồn tài nguyên
trong vùng biển này cũng là điều cần xét đến.
Về chính trị và quân sự, khi vị thế còn chưa ngang
ngửa với siêu cường hàng đầu, và cũng do khác biệt về thể chế so
với số đông của thế giới, một cường quốc đang lên và quá nhiều tham
vọng như họ cần đến những vùng đệm quanh các đường biên, kể cả hải
biên, để có sự cách ly an toàn với những thế lực khác.
Hải biên Trung Quốc có hơn một phần ba chiều dài
quay về nam[2], kết hợp với hướng lục địa trải liên tục về tây và
ứng với vùng tây nam chiếu từ trên bộ của họ, là tiểu lục địa Ấn
Độ và Ấn Độ dương. Do vậy, với Hoa lục, “Nam hải” không đơn thuần
nối vùng biển Đông Bắc Á và vùng biển Nam Á, mà chính là nơi kết
nối đại dương với lục địa của những vùng đầy những tranh chấp và
đối thủ mà họ muốn khuất phục.
Và như thế, chưa kể diện rộng của Ấn Độ dương, khi
làm chủ, hay ít ra là hiện diện mạnh cùng lúc ở biển Andaman và
biển Đông, Hoa lục sẽ tạo nên một gọng kìm, cương tỏa cả bán đảo
Trung – Ấn, và trở thành một thế lực tại chỗ kiểm soát được cả hai
ngõ trực tiếp vào Malacca.
Đấy là chưa kể trong chiến lược an ninh năng lượng
của Trung Hoa còn có hẳn một dự phóng có thể thay đổi cả lịch sử
hàng hải lẫn tương quan địa chính trị thế giới. Năm 2005, họ đưa
đề nghị hợp tác với Thái Lan trong dự án đào kênh qua eo đất Kra,
với chi phí 20 tỷ USD[3]. Eo đất này là đoạn hẹp nhất (44 km) trên
bán đảo Malay mà một bên là vịnh Thái Lan và bên kia là biển Andaman.
Nó nằm trọn phần chủ quyền của Thái Lan trong khi những đoạn khác
có thêm Myanmar hoặc Maylasia sở hữu (hình 2). Từ sau năm 1973,
các cường quốc đã ngừng dự tính chung sức xây kênh đào này. Nay
thì một mình Trung Hoa đề xuất, nếu thành công, với hải trình rút
ngắn, an toàn và thuận tiện hơn rất nhiều, thì cái chốt đông – tây
từ Malacca sẽ phải dịch chuyển về đây và, hợp cùng sự hiện diện
tại biển Đông và Andaman, yết hầu mới coi như đã nằm gọn trong tay
lòng bàn họ[4] (hình 3).

Hình 3: Các tuyến hàng hải ngang
qua Đông Nam Á. Tuyến đầu qua eo Malacca, hai tuyến sau qua ngõ
Indonesia, số 4 là tuyến sau khi có kênh Kra (Nguồn: southchinasea.org;
có chỉnh đổi)
Trong lúc sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á giảm
đi từ sau chiến tranh lạnh, còn quyền lực mềm Trung Hoa thì lại
gia tăng đáng kể tại vùng đất kéo dài từ Miến Điện sang Việt Nam,
thì những trù tính liên hoàn đó cho thấy chiến lược đại dương toàn
cầu của Hoa lục ngoài việc đã đi rất sớm, còn rất hoàn hảo và rất
quyết tâm.
Do vị trí địa lý của mình và trong bối cảnh đó, sống
hòa thuận và hòa bình với Trung Hoa luôn là nguyện vọng của nước
Việt. Qua những gì đã trải nghiệm nhiều ngàn năm, ngày nay, ta ở
vào tư thế sẵn sàng và thật lòng hòa hảo tối đa với Trung Quốc để
duy trì sự bình yên (thậm chí, không nhọc lòng đến quyền lợi của
Hoa Kỳ hay an ninh của Đông Nam Á). Và trên thực tế, chính quyền
Việt Nam đã theo đuổi một chính sách hòa hảo như vậy.
Hơn nữa, theo cách nhìn ý thức hệ, sự hiện diện của
Hoa Kỳ ở biển Đông cũng là một đe dọa đối với Việt Nam. Trong trường
hợp đó, chính Trung Quốc lại là người có thể kiềm chế họ. Việt Nam
được lợi khi đối trọng này cân bằng.
Với vị thế cường quốc đang lên, với quyền lợi khả
dĩ trên biển Đông, và với cả vai trò “đối trọng ý thức hệ trên biển”,
nếu Trung Hoa có nổi lên như một cường quốc đại dương, Việt Nam
(và các nước khác) đương nhiên phải chấp nhận, tôn trọng và thích
ứng với cục diện đó. Thế nhưng, hình thái của bất kỳ quan hệ nào
cũng không bao giờ đến chỉ từ chủ ý của một phía. Và điều đó, tiếc
thay, lại ứng với tất cả những biểu hiện trong tương quan Việt –
Hoa.
Trong khi quan niệm hòa hảo của Hà Nội là tình anh
em và sự bảo trợ cho nhau của những người láng giềng có chung ý
thức hệ, thì hòa hảo theo kiểu Bắc Kinh là đối tác phương nam phải
thuần phục, chịu mất đất, mất biển và chấp nhận vị thế sân sau,
ao nhà của họ. Ngặt hơn nữa, cái sân sau, ao nhà này lại là bước
đầu tiên không thể nào bỏ qua trong cái chiến lược đại dương có
ý chí mang sức mạnh dồn nén của mấy ngàn năm bỏ quên biển. Không
như Hoa Kỳ, không “có” Việt Nam mà vẫn không “mất” Đông Nam Á, Trung
Quốc không chiếm hữu “Nam hải” thì không thể hoàn thành giấc mộng
biển cả.
Cũng khác biệt như thế, việc bảo đảm quyền lợi của
Hoa Kỳ được đặt trên cơ sở tôn trọng chủ quyền biển và hợp tác an
ninh với các nước quanh biển Đông, đồng thời tôn trọng quyền tự
do đi lại trên hải phận quốc tế đối với mọi chủ thể; thì quyền lợi
của Trung Quốc lại xuất phát từ sự chiếm đoạt, ngang ngược và độc
tôn hải hành. Việc thừa nhận và tôn trọng quyền lợi Trung Hoa trên
biển Đông thực tế đã bị chính họ dịch chuyển, không còn là vấn đề
về quyền lợi hợp pháp và hợp lý, mà là chuyện về tham vọng quá đỗi
của họ.
Khi xét đến thế “đối trọng ý thức hệ trên biển” cũng
vậy. Không phải tự Hà Nội muốn duy trì mãi sự cân bằng có lợi cho
mình, trong tình hữu hảo với Bắc Kinh mà được. Cả ba đều có thể
phá thế hiện nay, như đã đề cập.
Trong các trạng huống của cuộc đi dây mới, với giả
định Hà Nội nghiêng về Washington, nếu tình hình không cho phép
tiếp tục có khoảng tiệm tiến dai dẳng (xem như để mọi thứ của chiều
hướng đó dần đi vào “bình thường”), thì nội tình của bộ máy quyền
lực Việt Nam có thể biến động. Nhưng với chọn lựa Bắc Kinh làm chỗ
dựa, biến động này chắc hẳn còn lớn hơn, vì từ bao đời nay, đề kháng
và phản kháng trước họa xâm lăng và đồng hóa từ phương bắc vẫn là
một đặc trưng của dân tộc Việt. Với tham vọng và quy chiếu của phương
bắc, khi nghiêng hẳn về họ, đồng nghĩa với việc Việt Nam chấp nhận
làm chư hầu và lãnh hải bị thôn tính.
8. Tự lực và đồng minh
Với những gì đã trình bày, có thể nhận thấy rằng
lúc này, trong tương quan biển Đông, quan hệ đồng minh trở thành
điều sống còn đối với Việt Nam.
Từ khi loài người định hình các hình thức cộng đồng,
do có sự khác biệt về địa bàn, dân số, sự hưng thịnh…, và vì các
lý do về chính trị, quân sự, kinh tế…, việc liên kết hay phân ly
giữa các khối người trở thành một trong những đặc điểm tồn tại của
họ. Khi đã có quốc gia-dân tộc, điều này càng rõ rệt. Trừ trường
hợp có một thế giới hoàn toàn thanh bình và công bằng, hoặc trong
trường hợp có sự đồng hóa, thì hậu thuẫn của cộng đồng này đối với
cộng đồng khác không bao giờ là thừa hay có vai trò phá hoại. Trong
thế giới toàn cầu hóa ngày nay, liên kết này càng có vai trò quan
trọng hơn và thể hiện ở mọi mặt, ở hình thức đặc thù của từng lĩnh
vực tương tác. Với tương tác chính trị và quân sự, hình thức đó
là liên hệ đồng minh hoặc đồng chí.
Dù mức độ nào, trung lập là trạng thái tốt nhất đối
với những vùng lãnh thổ chuyển tiếp khi quanh nó có sự xung đột
về lợi ích. Tuy nhiên, không phải một quốc gia tự muốn trung lập
là được, mà vị thế đó không những phải được tất cả các bên liên
quan thừa nhận và tôn trọng, trên cơ sở cân bằng trong tương quan
địa chính trị cũng như thế và lực của họ; mà còn không khiến xâm
hại đến chủ quyền và lãnh thổ của nước trung lập. Trong lịch sử
đương đại, chỉ có Thụy Sĩ đáp ứng được những tiêu chí tạo nên sự
cân bằng như thế.
Ở vị trí liền kề, Campuchia từng trung lập (1960-1970)
và hưởng lợi từ đó, nay Việt Nam có thể tương tự như thế không?
Cho đến lúc này, trên lý thuyết, Hà Nội vẫn có thể chuyển hướng
để định vị thế mới cho mình, thông qua vận động ngoại giao và dàn
xếp chiến lược. Nhưng muốn thành công, việc này vừa đòi hỏi Việt
Nam phải thực thi chính sách trung lập trên trường quốc tế và trong
vấn đề ý thức hệ, vừa đòi hỏi các nước liên quan chấp nhận vùng
đệm chiến lược này, cũng như không yêu sách gì về chính trị và lãnh
thổ đối với nó. Ở cả hai vế chủ thể đó, trên thực tế, nhiều khả
năng là bất khả.
Về lý trí, ít nhất có ba nguyên do trực tiếp khiến
cho đến nay, dù ít nhiều nhận ra tình thế biển rất thúc bách nhưng
Hà Nội vẫn hết sức dè dặt về liên hệ đồng minh. Một là vấn đề ý
thức hệ, hai là tương quan “láng giềng gần” với phương bắc, và ba
là mối lo Trung Quốc càng ra tay cứng rắn hơn một khi thế cờ tay
ba ngã ngũ.
Nguyên do đầu, đã nói ở trên, khiến những người làm
chiến lược bế tắc trong đường hướng bạn – thù, tảng lờ các tương
quan lịch đại, né tránh những nhận thức cơ bản nhất về các mâu thuẫn
khả dĩ giữa ta với đối phương và đối tác. Cùng với mối lo Bắc Kinh
“làm càn”, ý thức hệ khiến Hà Nội chỉ dừng lại ở quan niệm đối tác
chiến lược mà không phải là đồng minh chiến lược.
Vấn đề “láng giềng gần”, như cũng đã nói, Việt Nam
không nề hà sự tôn trọng đối với Trung Hoa với tư cách một cường
quốc, cũng như sẵn lòng hợp tác tích cực về kinh tế, văn hóa, và
cả ngoại giao (chẳng hạn, giữ cùng quan điểm với họ trong các vấn
đề quốc tế), thậm chí, chấp nhận “thông lệ” lịch sử, là các quốc
gia “vĩ đại” thường có vùng ảnh hưởng quanh biên giới. Nhưng còn
chủ quyền lãnh thổ và lợi ích dân tộc, là cái mà bất kỳ ai cũng
tuyệt đối không thể đánh đổi, dù phải bảo đảm cho nó bằng những
chiến lược, sách lược “khó chịu” nhất. Và cũng đồng thời, trong
tương quan chính trị, đặc biệt khi đó là những đường hướng mang
yếu tố đối chọi, thì không phải mong muốn chính trị, mà thực tế
chính trị mới là cái quyết định.
Ngoài Trung Quốc, trên hai năm trở lại đây, “đối
tác chiến lược” của Việt Nam ngày một nhiều. Và ngoài Nga, các nước
khác trong số này đều ít nhiều có yếu tố “cân bằng” lại với Trung
Quốc. Không rõ trong toan tính của người những làm chiến lược Việt
Nam, trong số đó, đâu là đối tác chiến lược ở tầm chiến lược, đâu
là đối tác chiến lược ở tầm chiến thuật. Nhưng có một điều có thể
biết, là những động thái mở rộng đối tác chiến lược mà không đem
lại kết quả chiến lược, thì chỉ khiến cho Bắc Kinh nhận ra cái chiến
lược “chiến lược một nửa” đó và càng tức giận hơn, chỉ khiến cho
Bắc Kinh nhận ra vị thế lạc lõng của Việt Nam và càng muốn “ra tay”
hơn. Hành xử hung hãn của họ thời gian qua đã rõ ràng thể hiện điều
đó.
Có hai ý kiến được đưa ra để củng cố quan điểm cho
rằng trong đối sách với Trung Quốc, Việt Nam không cần hoặc không
nên có quan hệ đồng minh.
Đầu tiên là việc đề cập đến nội lực, xem đó gần như
là cái duy nhất để chú trọng phát triển, nhằm đương đầu với tham
vọng lãnh hải của phương bắc.
Phát triển nội lực để xây dựng một quốc gia thịnh
vượng, đủ sức đối mặt với mọi thách thức là một quan điểm hoàn toàn
đúng, nhưng “mở rộng” thêm từ đây, rằng phải tự lực chứ không cần
đến ngoại lực, không cần đến đồng minh, là hoàn toàn sai, vì:
Thứ nhất, như trên đã nói, liên hệ đồng minh, dù
là đồng minh về văn hóa, thể chế, hay đồng minh về chính trị, quân
sự, là một thực tế khách quan trong quan hệ giữa các quốc gia. Khi
có tranh chấp hoặc xung đột, điều đó càng không thể tránh khỏi.
Một đất nước vĩ đại như Nga, trải rộng từ tây sang đông mà vẫn muốn
có những đồng minh nhỏ bé trong không gian Sô Viết cũ. Siêu cường
như Mỹ mà vẫn không thể một mình đương đầu với thế lực khủng bố.
Trung Quốc tưởng chừng tự mình “tả xung hữu đột”, nhưng trong tính
toán chiến lược vẫn cần đến các “đàn em” phương nam.
Thứ hai, trong những yếu tố góp phần phát triển nội
lực, có bối cảnh và thời gian. Trong tình thế hết sức yếu kém trước
một Trung Hoa đang trở thành siêu cường và lăm le nuốt lấy biển
Đông, nơi mà vì điều đó cũng đang trở thành điểm hút của nhiều thế
lực vượt trội hơn hẳn Việt Nam, nếu nói chúng ta phải tự lực hay
đợi đủ nội lực để đáp lại nguy cơ bành trướng, thì về mặt nhận thức,
đó chẳng qua chỉ là sự lặp lại máy móc, phi lịch sử và phi thực
tế một khái niệm xác thực. Về mặt chiến lược, nó lấy cái dài hạn
thay cho cái cấp bách, nhầm lẫn giữa tương quan kinh tế-xă hội với
tương quan chính trị-quân sự. Còn về chiến thuật, đó chẳng khác
nào tự trói tay trước một đối thủ vũ trang hiện đại đầy mình.
Về lâu dài, xây dựng và phát triển nội lực là cực
kỳ quan trọng, nhưng trước mắt, không có ngoại lực ta không thể
thoát khỏi tình thế hiện nay. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là trong ngắn hạn thì không chú trọng nội lực, còn trong dài hạn
thì triệt tiêu ngoại lực hay liên hệ đồng minh.
Ý kiến thứ hai trưng dẫn cuộc chiến Gruzia – Nga
(2008) như một minh chứng, rằng việc tạo liên minh với nơi khác
trong khi liền kề với nước lớn đang uy hiếp mình là sai, vì nếu
có chiến tranh xảy ra, nước nhỏ vẫn chịu thiệt và đồng minh cũng
không can dự vào.
Thật ra, với những nhà làm chiến lược có lý trí,
có lẽ không ai lại nghĩ rằng ở thời nay, tạo quan hệ đồng minh là
để những nước này lập tức tham chiến, bất kể nguyên nhân, thời cuộc
và chiến cuộc. Liên minh với các cường quốc càng không phải như
vậy. Trong trường hợp có yếu tố Mỹ – Nga, lại càng hơn thế. Quyền
lợi toàn cầu, trước nguy cơ của một cuộc đối đầu hay chiến tranh
thế giới, luôn được đặt cao hơn quyền lợi và xung đột cục bộ của
một quốc gia có vị thế nhỏ. Với liên minh phòng vệ, quan hệ đồng
minh là để gia tăng vị thế và giảm thiểu nguy cơ hay thiệt hại cho
các quốc gia của liên minh, chứ không phải là tăng nguy cơ cho nhiều
nước và giảm cơ hội hòa hoãn. Nhưng dù sao, cùng với việc xử trí
khéo léo về sách lược và chiến thuật, liên hệ đồng minh là điều
kiện chiến lược không thể thiếu, vì đó không những là thế lực răn
đe từ xa và hỗ trợ về quốc phòng, mà còn là lực lượng ngoại giao,
chính trị và kinh tế trực tiếp hậu thuẫn cho quốc gia đồng minh,
khi vô sự cũng như hữu sự.
Quay lại trường hợp Gruzia, có thể nước này đã có
những bước đi không thích hợp, nhưng ngoài việc phải tính đến động
cơ bảo toàn lãnh thổ của họ cũng như thái độ hậu thuẫn tuyệt đối
của Nga cho việc ly khai, nên thấy rằng nếu không có liên hệ đồng
minh với Mỹ và châu Âu, thì bằng sức mạnh siêu cường và những ảnh
hưởng đối với không gian hậu Sô Viết, Nga thừa khả năng đánh chiếm
toàn bộ Gruzia hoặc kéo dài cuộc chiến, chứ không chỉ tự giới hạn
trong một tháng. Đó là chưa kể những trợ giúp to lớn về kinh tế,
chính trị và quân sự sau chiến tranh mà Gruzia sẽ không nhận được
nếu không có đồng minh.
Như vậy, có thể tóm lại rằng, tôn trọng vị thế và
quyền lợi của nước lớn và láng giềng, hòa hảo và hòa hoãn với họ
trên cơ sở bảo toàn chủ quyền lãnh thổ, phát triển nội lực trên
tất cả các mặt, mở rộng đối tác chiến lược và xây dựng quan hệ đồng
minh chiến lược là những việc mà cả trước mắt và lâu dài, một quốc
gia cần thực hiện đồng thời trong chiến lược tồn tại của mình, khi
ở giữa các thế lực không cùng chiều về quyền lợi đang hiện diện
đan chéo nhau.
Cụ thể, trong cục diện địa chính trị ngày nay, xét
tất cả những gì đã nói, với tư cách siêu cường chính trị – quân
sự, cả trên bộ lẫn trên biển, đủ sức và sẵn lòng đối trọng với những
thách thức nhắm vào thế cân bằng chiến lược toàn cầu, thì Hoa Kỳ
là đồng minh mà Việt Nam cần có. Họ không phải là đối tác duy nhất
trong chiến lược kiềm chế và đối trọng với tham vọng lãnh thổ của
Trung Quốc, nhưng là đối tác khả dụng nhất và quyết định nhất.
9. Sự trở lại của Hoa Kỳ và Việt Nam
Sau vụ đụng độ Impeccable, về phía Hoa Kỳ, trên bề
mặt chiến lược, tình hình diễn tiến rất nhanh.
Khi lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc trên biển Đông
còn chưa kết thúc (31/07/2009), thì vào ngày 15/07/2009, Ủy ban
Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã mở phiên điều trần về Tranh chấp
Biển và Tranh cãi Chủ quyền tại Đông Á (Maritime Disputes And Sovereignty
Issues In East Asia). Có thể nói, chưa bao giờ quan điểm của lập
pháp, hành pháp và giới nghiên cứu Hoa Kỳ về vấn đề này lại được
trình bày một cách chính thức, tập trung và rõ ràng đến vậy, với
những nhận định không nghiêng về Trung Quốc.
Sự kiện trên còn chưa kịp nguội thì tại Diễn đàn
Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum, ARF) lần thứ 16, diễn ra ngày
23/07/2009, Ngoại trưởng H. Clinton đã ký vào Hiệp ước Hữu nghị
và Hợp tác Đông Nam Á (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast
Asia)[5], đánh dấu sự trở lại của Hoa Kỳ ở vùng này.
Ngay trước đó, trong chuyến thăm năm ngày đến Ấn
Độ (18/07 – 22/07/2009) của Ngoại trưởng Mỹ, hai bên đã có những
thỏa thuận cả về quân sự lẫn dân sự ấn tượng, mà thực chất là định
hình quan hệ đồng minh. Như vậy, quan hệ đối tác chiến lược của
Hoa Kỳ quanh vành đai bán đảo Trung – Ấn và các cung đảo Đông Nam
Á đã tạo thành một thế liên hoàn, tiếp nối với vành đai Đông Bắc
Á.
Trong cục diện chính trị hải dương mới này, quan
hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ có thể vẫn như trước nay được không?
Về chủ quan, Hà Nội muốn điều đó, tức vẫn ở “cửa giữa”, nhưng thông
qua cơ chế ASEAN để nhận thêm lợi ích từ Washington do Hoa Kỳ đã
chuyển hướng chiến lược. Về khách quan, điều này bất khả.
Dù có sự gắn liền địa lý biển với Việt Nam, thì việc
Hoa Kỳ có nhiều lợi ích ở biển Đông cũng không đồng nghĩa với việc
những lợi ích này song trùng ở Việt Nam, nên việc bảo vệ lợi ích
của Hoa Kỳ ở biển Đông không có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Việt
Nam.
Tương tự, dù Việt Nam có chân trong Hiệp hội Đông
Nam Á, nếu Hoa Kỳ cam kết bảo vệ ASEAN cũng không có nghĩa là đương
nhiên bảo vệ Việt Nam, không chỉ vì ASEAN là một khối không thuần
nhất và khập khểnh, mà còn vì Việt Nam có chấp nhận sự bảo vệ ấy
hay không. Một thực tế mà ta thấy hết sức rõ ràng, là bản thân ASEAN,
với danh nghĩa “không can thiệp vào công việc nội bộ”, cũng khước
từ sự bảo vệ, cho dù dưới hình thức yếu ớt nhất, cho thành viên
của nó trước đe dọa về lãnh thổ. Và, ví như Myanmar, có vị thế địa
lý quan trọng với cả Trung Quốc, Ấn Độ và Hoa Kỳ, lẫn Thái Lan và
Malaysia…, nhưng không vì là thành viên ASEAN mà mặc định có phần
trong chiến lược thân hữu của Hoa Kỳ.
Tại cuộc điều trần vừa nói của Thượng viện Hoa Kỳ,
thái độ của siêu cường này đối với tranh chấp tại biển Đông đã được
minh định. Họ khẳng định sự mù mờ trong tuyên bố chủ quyền của Hoa
lục và nhận định rằng Việt Nam là nước trực tiếp chịu nhiều thiệt
thòi do yêu sách lãnh hải đó, nhưng cũng nói rằng họ trung lập giữa
các tranh chấp. Song song đó, họ dứt khoát về quyền lợi của Hoa
Kỳ, quyền tự do đi lại trên vùng biển quốc tế, phản đối việc dùng
vũ lực và dọa nạt. Cùng với việc khuyến khích ASEAN thống nhất lập
trường và hành động đa phương, họ cũng sẵn sàng hậu thuẫn cho đồng
minh và đối tác, dù nói rằng sự hiện diện của họ chỉ để kiềm chế
chứ không nên để xảy ra những tính toán sai lầm[6].
Đường hướng đó kiên quyết nhưng cũng mềm dẻo, vừa
bao quát đối tượng nhưng cũng cụ thể với các đối tác. Nó không mập
mờ nhưng đủ lưng chừng để xử thế linh hoạt, tùy chủ thể và trạng
huống. Nó chứa đựng khả năng để Washington định hình một liên minh
cơ hữu và trọn vẹn, dù là dưới hình thức không hiệp ước, với các
chủ thể có liên quan để chống lại sự cưỡng đoạt và bành trướng của
Bắc Kinh trên biển; mà cũng dành sẵn cơ hội để họ đi dây trên khắp
các thế trận, với mọi đối tượng, nhằm bảo đảm tự do hải hành và
sự thống lĩnh truyền thống của họ trên đại dương.
Với tư cách thành viên ASEAN và đối tác tham gia
vào Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác của khối này, quan hệ hiện nay
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chỉ một bước là đã có thể rất gần nhưng
cũng có thể rất xa. Nếu gần, Việt Nam sẽ có đầy đủ tư thế chung
mà thân hữu của Hoa Kỳ có. Nếu xa, chỉ với một từ “đồng minh” làm
tiêu chí, thì Việt Nam đã nằm ngoài quan hệ chiến lược của Hoa Kỳ
với khối Đông Nam Á.
Hiện, dù có những đe dọa lãnh thổ, Việt Nam vẫn tỏ
rõ có nhiều liên hệ đồng chí với Trung Hoa, trong khi các động thái
đồng minh với Hoa Kỳ vẫn hết sức giới hạn. Nếu đó chỉ là màn kịch
lớn mà Hà Nội và Washington cùng diễn để tránh kinh động đến Bắc
Kinh khiến họ có thể có những hành xử đã rồi, thì quả là chiến thuật
ở tầm cao. Nhưng nếu đúng là nhận thức chính trị vẫn được đặt cơ
sở trên những khái niệm đạo đức – ý thức hệ, thì viễn cảnh u ám
hơn là điều mà nhiều khả năng Việt Nam khó tránh khỏi.
10. Luật pháp quốc tế và pháp lý đặc thù
Như vậy, trong cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh hải, ngoài
nội lực và một hệ thống chứng lý khả tín và khả thi, Việt Nam cần
đến sự hậu thuẫn của đồng minh và ủng hộ của công luận. Thời gian
vừa qua, đất nước không bị cô lập nhưng rõ ràng là cô độc. Nguyên
nhân của điều này không chỉ vì hoạt động đối nội và đối ngoại về
chủ quyền lãnh thổ hoàn toàn không xứng với tầm mức của vấn đề,
mà còn vì có những chuẩn mực không tương ứng giữa ta với bên ngoài.
Rất rõ ràng, con đường bảo vệ chủ quyền không tốn
kém xương máu và nhẹ nhàng nhất, căn cơ và triển vọng nhất, là con
đường pháp lý. Chúng ta sẽ phải dựa vào luật pháp quốc tế để đấu
tranh kiên quyết hơn trên mặt trận này. Mà đã là luật pháp quốc
tế thì phải là những chuẩn mực phổ quát, không phải là những tiêu
chí nội bộ và riêng biệt của một hay một nhóm quốc gia.
Vậy mà, đối với công chúng thế giới, Trung Quốc và
Việt Nam là anh em hữu hảo, tương đồng nhau về hệ thống chính trị
– pháp lý, xác tín chung và mạnh mẽ nhiều giá trị được cho là đặc
thù. Do vậy, một khi ta nhất mực và đồng tâm với Trung Hoa, trong
cách nhìn và cách quyết của những hành xử theo tiêu chí đó, thì
e là trong cách nhìn và cách quyết của bên ngoài cũng sẽ như thế,
rằng những người bạn có thể tự xử trí nội bộ với nhau được, theo
đúng những giá trị có chung đó[7]. Nói cách khác, trước công luận
toàn cầu, một khi ta còn chưa hòa nhập thật sự và đầy đủ vào những
giá trị pháp lý phổ quát, thì còn khó có thể yêu cầu từ đó sự hậu
thuẫn thật sự và hiệu quả bằng luật pháp quốc tế.
11. Thay đổi tư duy
Tóm lại, trên bàn cờ đã đến hồi diễn tiến nhanh và
phức tạp của biển Đông, thời cơ có đến nhưng lại trực tiếp chứa
đựng nhiều bất trắc đối với Việt Nam. Con cờ tư duy không thể không
biến hóa để thích ứng với nó. Thay đổi tư duy là điều kiện đầu tiên,
từ đó mới có được những bước đi chiến lược và sách lược thích hợp.
Không chỉ là một tư duy địa chính trị mới, thực tế
và cụ thể, thấy những vấn đề đơn thể nhưng cũng nhìn được những
cái toàn thể; tư duy chiến lược nên tránh nếp nghĩ bị ảnh hưởng
quá lâu bởi những lập luận có tính tuyên truyền, khi đặt mình vào
trung tâm mà xem nhẹ những thành tố khác. Tư duy dân tộc cần được
đặt ở vị trí thích đáng và hiệu quả hơn so với tư duy ý thức hệ,
để tránh lặp lại những sai sót của quá khứ, khi ta thuần lòng với
giá trị giai cấp còn người dốc lòng với cơ đồ đại tộc. Cũng thế,
khi cuộc đấu tranh pháp lý sẽ cùng với đấu tranh chính trị – quân
sự và đấu tranh ngoại giao trở thành ba mặt trận để bảo vệ chủ quyền,
thì tư duy pháp lý phổ quát cũng là điều cần hướng đến, thay cho
tư duy pháp luật “nội bộ”.
Sự thay đổi đó đã đến lúc phải quyết đoán, không
chỉ vì sự lạc hậu và trì trệ bên trong về tư duy đã đến lúc không
thể cứ kéo dài, mà còn vì áp lực bên ngoài không không tiếp tục
cho phép. Trung Quốc thì đã rõ. Hoa Kỳ cũng cho thấy sự nhanh chóng
và cả quyết trên mọi hành động chiến lược, sách lược, và với mọi
đối tác. Ngay cả Ấn Độ, có đặc tính “thâm trầm” và giữ khoảng cách
với Mỹ nhưng nay, trước đổi thay quyết liệt của cục diện, cũng đã
không ngần ngại tăng cường thế lực và tham gia một cách kiên quyết
vào các hoạt động an ninh tại vùng biển Andaman – Ấn Độ dương[8]…
Chần chừ, với Việt Nam lúc này, đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy
mình vào cảnh thân cô thế cô, và đem lại lợi thế cho cả Trung Quốc
lẫn các thành tố khác tại biển Đông.
Trước đây, vì chưa phá được thế cô lập, Hà Nội cần
bắc chiếc cầu ASEAN để đến với Washington và các thủ đô phương Tây.
Nay, vẫn áp dụng cách đó để tiếp cận đồng minh với Hoa Kỳ, nếu không
phải vì tránh kích động Trung Hoa, thì e rằng sách lược không hợp
thời này sẽ không mang lại nhiều hiệu quả. Con đường vòng Malaysia
(hay bất cứ đối tác nào khác) mà hiện nay Hà Nội đang đi chỉ làm
mất thêm thời gian và nguồn lực ngoại giao, khiến lộ rõ ngõ hẹp
chính trị và vị thế yếu ớt. Điều đó cũng đương nhiên tạo thêm ưu
thế cho Trung Quốc, Malaysia và các đối tác khác, đồng thời cũng
không hoàn toàn bảo đảm được rằng không khiến Bắc Kinh kích động.
Đó là chưa kể họ có thừa khả năng để tạo áp lực hay “tăng cường
hợp tác” với các đối tác nhỏ trong vùng, gây tác hại cho quan hệ
với Việt Nam.
Với thế liên hoàn địa lý giữa Nam Á – Đông Nam Á
– Đông Bắc Á, có nhiều cửa ngõ và hải trình chiến lược, cộng với
sự hiện diện của nhiều thế lực kinh tế, chính trị, quân sự của châu
lục và thế giới, cả đương thời lẫn đang lên, việc tái phân bố lực
lượng trên biển sẽ được định hình, khởi đi từ biển Đông. Trong bối
cảnh “biển-chính trị” này, với vị trí của mình, Việt Nam không thể
muốn hay không muốn duy trì nó, mà phải đối ứng với nó, cũng như
không thể thích hay không thích đối tác này hay đối tác khác, mà
phải có những tương quan khả thi với từng đối tác.
Cục diện mới sẽ dừng lại ở mức độ hiện nay hay tiếp
tục diễn biến theo những kịch bản khác nhau, là tùy thuộc vào những
thành tố chính có liên quan. Còn các trạng huống giả định đối với
Việt Nam có thành hiện thực hay không, tốt hay xấu, là tùy thuộc
vào Việt Nam – vào tư duy Việt Nam.
Phần
1 Phần
2 Phần
3
HẾT
© 2009 talawas blog
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Xem tổng quan mới nhất về vấn đề này, do một
người Việt viết: Pham Thuy Trang, Eastern Sea Disputes and United
States Interests,
http://csis.org/files/publication/issuesinsights_v09n13.pdf
[2] Các con số về diện tích, chu vi, bờ biển của
nước này không được thống nhất trong các tài liệu, do họ có nhiều
tranh chấp về lãnh thổ. Hoa lục nói có bờ biển dài 18.000 km (xem:
website chính thức của chính quyền Trung Quốc http://english.gov.cn/2006-02/08/content_182551.htm),
trong khi một số nguồn khác ghi là 14.500 km (ví dụ, tại website
của CIA https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/ch.html).
Vậy, xin người Việt lưu ý khi viết về con số này, vì 18.000 km có
thể đã gồm cả đường bờ biển tạo nên từ Hoàng Sa và Trường Sa (?).
[3] Xem lịch sử của kênh đào dự phóng này tại website
của Dự án http://www.thai-canal.org/hist%20E.htm.
[4] Theo trang Wikipidia, năm 2005, dự định của Trung
Quốc đã được báo cáo cho Donald Rumsfeld, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa
Kỳ khi đó. Sau, tin này bị rò rỉ và xuất hiện trên tờ Washington
Times. Xem: Thai Canal, http://en.wikipedia.org/wiki/Thai_Canal.
Theo một nhà báo người Ấn có tiếng làm việc cho phân
xã Ấn Độ của Thông tấn xã Kuweit, dự án kênh Kra đang được Trung
Quốc tài trợ xây dựng. Xem: Dipanjan Roy Chaudhury, China: Boosting
Maritime Capabilities in the Indian Ocean (08/2007), http://www.worldpress.org/Asia/2908.cfm
[5] Liên hiệp châu Âu cũng ký vào lần này. Đây không
phải là hiệp ước mới, mà là văn bản do năm nước sáng lập viên ASEAN
đề xướng và ký kết vào ngày 14/02/1976. Hiện đã có mười nước ASEAN
và mười bảy đối tác (có Trung Quốc) ký vào.
[6] Nguyên bản của các diễn giả có thể tải về từ
trang của sự kiện này, trên website Thượng viện Hoa Kỳ http://foreign.senate.gov/hearings/2009/hrg090715p.html.
Phát biểu đề dẫn của Thượng nghị sỉ Jim Webb có tại http://webb.senate.gov/newsroom/record.cfm?id=315847&
[7] Trên thực tế, cách nhìn loại này đã được nâng
lên tầm học thuật từ lâu. S. Huntington, trong luận thuyết về “sự
xung đột giữa các nền văn minh” đã cho rằng tranh chấp giữa Trung
Quốc với Việt Nam là xung đột nội bộ của cùng một nền văn minh.
Theo ông, các tranh chấp tại Đông Á khó có thể dẫn đến hành động
quân sự trực tiếp, ngoài một số địa bàn ngoại lệ như… biển Đông.
Và chủ trương của học giả này, là để tránh bùng nổ, các nước lớn
nên đứng ngoài xung đột trong nội bộ của nền văn minh khác. Xem:
Samuel Huntington, Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao Động,
Hà Nội, 2003, tr. 238, 336, 470.
[8] Ngày 05/08/2009, một tàu Bắc Hàn tự ý thả neo
trong vùng biển Andaman đã bị tàu Ấn truy đuổi và khám xét triệt
để. Hành động đó cho thấy Ấn Độ đang “trực chiến” tại địa bàn của
mình để thực hiện Nghị quyết 1874 của Liên hiệp quốc nhằm ngăn ngừa
nước này phát tán kỹ thuật hạt nhân, mà hiện đang bị nghi ngờ là
cho Myanmar. Còn trước đó, ngày 01/07/2009, tàu Kang Nam 1 của Bắc
Hàn, sau mười bốn ngày “bất định” ngoài khơi Trung Quốc và biển
Đông, đã phải quay đầu về bến do có sự giám sát chặt chẽ của tàu
chiến Mỹ vì bị nghi ngờ vận chuyển vũ khí cấm sang Myanmar.
|