|
Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung
Quốc
The Xhisa and Nansha
in Chinese Historical Documents
Phạm Hoàng Quân
“Quốc vụ Viện Trung Quốc vừa phê
chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa (thuộc
tỉnh Hải Nam) trực tiếp quản lý ba quần đảo trên Biển Đông, trong
đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” (báo
Tuổi trẻ ra ngày thứ Ba - 4-12-2007).
Theo như tên gọi này – Tam Sa – thì
thành phố mới của Hải Nam còn có thêm tên của quần đảo Trung Sa
thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Sự thiết lập cơ quan quản lý hành
chính đối với các quần đảo – thuộc chủ quyền hoặc không thuộc chủ
quyền của mình – của Chính phủ CHND Trung Hoa vốn bắt đầu từ năm
1959, “năm 1959 thiết lập “Tây – Nam - Trung Sa Quần đảo Biện sự
Xứ”, thuộc sự quản lý của khu hành chính Hải Nam. Đến năm 1969,
cơ quan này đổi tên là “Tây Sa - Trung Sa - Nam Sa Quần đảo Cách
mạng Uỷ viên Hội”, trực thuộc tỉnh Quảng Đông. Đến năm 1988, khi
thành lập tỉnh Hải Nam, hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc sự quản
lý của tỉnh này” (Tô Độc Sử - Sở Nghiên cứu học thuật quân sự hải
quân – Quý san Trung Quốc biên cương sử địa nghiên cứu. 1-1992.
Trung Quốc Xã hội Khoa học Viện – ISSN 1002 - 6800).
Nguyên nhân dẫn đến việc thiết lập
các cơ quan quản lý các quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc
(vốn là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) bắt nguồn từ việc sử
dụng các nguồn sử liệu rất mơ hồ để làm nền tảng, cố tình làm sai
lệch ý nghĩa của nội dung ban đầu, phần lớn trách nhiệm này thuộc
về một số học giả và chuyên gia nghiên cứu hiện đại Trung Quốc.
Trên tinh thần nghiên cứu sử học, chúng tôi thấy rằng các vị này
đã làm mất giá trị truyền thống vốn coi trọng sự thật của nền sử
học Trung Hoa, ngay tại xứ sở của Tư Mã Thiên, của Lương Khải Siêu…
Trong phạm vi bài viết này, chúng
tôi sẽ dựa vào thư tịch cổ hoặc sách, tạp chí hiện đại của Trung
Quốc để nêu vài nghi vấn của riêng mình, và nếu có điều kiện xin
được thảo luận rộng rãi hơn.
Tài liệu lịch sử: không chính thống
Điều dễ nhận thấy là, những sử liệu
mà các học giả Trung Quốc như Tề Tân (1974 – Thất thập niên đại
nguyệt san), Tô Độc Sử (1992 – Trung Quốc biên cương sử địa nghiên
cứu quý san) dựa vào để chứng minh và đi đến kết luận về chủ quyền
trên hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa đều là các nguồn tài liệu không
phải chính sử, hoặc nếu có rải rác đôi câu thì chúng lại nằm ở phần
truyện các nhân vật, như trong Nguyên sử, ở truyện Sử Bật (tuy nhiên
chi tiết về quần đảo Tây Sa bị hiểu nhầm sang quần đảo Trung Sa).
Lẽ ra, các ghi chép để xác định chủ quyền phải nằm ở các mục Địa
lý chí (hoặc tương đương) trong các bộ chính sử. Điều chúng tôi
lưu ý là, Trung Quốc vốn là nơi có truyền thống sử học lâu đời,
các biên chép về lịch sử, địa dư luôn liên tục, nhưng trong Nhị
thập tứ sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa
nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh
sử; và Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa lý chí đều
không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu,
tức Hải Nam ngày nay. Trong khi ở Việt Nam, mặc dù sử liệu có muộn
hơn nhưng hầu hết đều nằm trong các bộ sử chính thống do Quốc sử
Quán nhận chỉ dụ từ Triều đình tổ chức biên soạn, như Đại Nam nhất
thống chí, Đại Nam thực lục…
Hình 1: Một trang Quỳnh Châu phủ chí
(1774), [Hải Nam lữ Đài xuất bản xã, 1957]
Mặt khác, xem trong Quỳnh Châu phủ
chí (tức tương đương Hải Nam tỉnh chí ngày nay) (xem hình 1) do
Quận thú Tiêu Khánh Thực tổ chức biên soạn vào năm Càn Long thứ
39 (1774), trong quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực, thấy chép:
“… nam tắc Chiêm Thành; tây tắc Chân Lạp, Giao Chỉ; đông tắc Thiên
Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp Lôi Châu phủ Từ Văn huyện”
(nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý
Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc giáp huyện Từ Văn phủ Lôi Châu).
Đoạn văn hành chính về tứ cận này cho thấy rằng, Thiên Lý Trường
Sa và Vạn Lý Thạch Đường (tức Tây Sa và Nam Sa theo cách nghĩ và
gọi của Trung Quốc ngày nay) còn là một nơi chưa rõ chủ quyền và
ngoài lãnh hải Trung Quốc mà lại nằm ở hướng Đông của Hải Nam. Nên
lưu ý rằng, ngoài Nhị thập tứ sử, thì các Thông chí của các tỉnh,
phủ, huyện đều là những nguồn tài liệu chính thống và luôn có giá
trị tối ưu trong việc trích dẫn và sử dụng đối với các vấn đề lịch
sử (sử liệu từ Quỳnh Châu phủ chí này, tôi chưa thấy các nhà nghiên
cứu Trung Quốc và Việt Nam sử dụng).
Hầu hết các chi tiết có liên quan
đến tên gọi Tây Sa và Nam Sa ngày nay mà địa danh lịch sử được các
nhà nghiên cứu Trung Quốc dẫn dụng và quy kết mơ hồ như Thất Châu
Dương, Thất Lý Dương, Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên lý Thạch
Đường… đều được trích thải từ các sách mà ngay tên sách đã để lộ
rõ ý rằng: Sách biên chép về các nước khác, như Giao Chỉ dị vật
chí của Dương Phu (Đông Hán); Nam Châu dị vật chí của Vạn Chấn (Tam
Quốc); Phù Nam truyện của Khang Thái (Tam Quốc); Chư Phiên chí của
Triệu Nhữ Quát (Tống); Hải quốc đồ chí của Nguỵ Nguyên (Thanh)…
Chúng tôi sẽ phân tích chi tiết các biên chép và mô tả ấy tường
tận hơn vào một dịp khác. Nhìn chung, các tác giả của mấy sách kể
trên chỉ ghi nhận sự hiện diện của các đảo do họ nhìn thấy hoặc
nghe kể lại, chưa từng thấy họ cho rằng các đảo này thuộc chủ quyền
của Trung Quốc, bởi trong những chuyến du hành hoặc công vụ họ biên
chép là chép về các xứ sở khác, ngoài đất nước của họ.
Địa dư, địa đồ: khẳng định
Tây Sa, Nam Sa nằm ngoài Trung Quốc

Hình 2: Chức Phương tổng bộ đồ (địa
đồ số 1)

Hình 3: Quảng Đông cương vực đồ (địa
đồ số 157)

Hình 4: Quỳnh Châu phủ cương vực đồ
(địa đồ số 167) [Địa đồ 2, 3, & 4 trích từ Cổ kim đồ thư tập
thành – Địa đồ tập, Văn tinh thư điếm. Ảnh ấn bản 1954]

Hình 5: Quảng Đông thông chí
Theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách
khoa thư gồm một vạn quyển do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn
thành năm Khang Hi thứ 45 (1706), phần Chức phương điển (Sách điển
chế về địa đồ các đơn vị hành chính) quyển thứ nhất, các địa đồ
số 1 (xem H. 2), 157 (xem H. 3), 167 (xem H. 4) tức Chức Phương
tổng bộ đồ, Quảng Đông cương vực đồ, Quỳnh Châu phủ cương vực đồ
đều không thấy ghi nhận các quần đảo xa hơn Hải Nam ngày nay. Mặt
khác, xem trong Quảng Đông lịch sử địa đồ tập (Quảng Đông tỉnh,
Địa đồ xuất bản xã - 1995) khi trích in lại địa đồ từ sách Quảng
Đông thông chí (xem H. 5) vẽ đời Minh Gia Tĩnh (1522 - 1566) thì
phần hải đảo chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam). Xin lưu ý rằng, bức
địa đồ này được vẽ sau khi “Trịnh Hoà hạ Tây Dương” lần cuối cùng
(1430) đến 100 năm. Trong 100 năm ấy, Minh triều không đủ thời gian
và điều kiện để xác lập chủ quyền (dù chỉ trên bản đồ) đối với các
nơi mà họ đã đầu tư thám hiểm ư?

Hình 6: Đông nam dương các quốc diên
cách đồ trong sách Hải quốc đồ chí (1842)
Mặt khác nữa, bức địa đồ Đông nam
dương các quốc diên cách đồ (Bản đồ về sự thay đổi địa giới của
các nước ở biển đông nam, xem H. 6) trong sách Hải quốc đồ chí của
Nguỵ Nguyên soạn/ vẽ năm 1842 thể hiện khá chi tiết hai quần đảo
Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Đường, đương nhiên là ở hai bức
địa đồ này, Nguỵ Nguyên mô tả hình thế các quốc gia khác ngoài Trung
Quốc như tên bức địa đồ đã nêu rõ.
Tóm lại, các địa đồ hành chính Trung
Quốc từ thời Dân quốc trở về trước không hề có các quần đảo xa hơn
Quỳnh Châu (Hải Nam). Vào thời nhà Thanh, các quan lại Trung Quốc
dùng câu “hải giác thiên nhai” (chân trời góc biển) để chỉ trấn
Tam Á, huyện Nhai tức là đất cực nam tỉnh Hải Nam ngày nay (theo
Địa lý song khẩu – Đương Án xuất bản xã - 1988). Như vậy trong khái
niệm của giới cầm quyền địa phương (Quỳnh Châu) và cả trên phương
diện pháp lý, các quần đảo mà Trung Quốc nay xác lập chủ quyền thực
sự chưa hề có một quá trình lịch sử như các nhà nghiên cứu Trung
Quốc gần đây lập luận một cách gượng ép.
Từ việc xử lý sử liệu một cách không
trung thực và thiếu khoa học, dẫn đến sự không nhất quán về bối
cảnh, thời gian và không gian mà các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã
đưa chính phủ nước họ đến tình trạng đặt để tên gọi các quần đảo
ở biển Đông rất không trật tự. Quan sát bản đồ Trung Quốc hiện nay,
có thể đặt một câu hỏi rằng: các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung
Sa được xác định dựa trên hệ quy chiếu nào so với lục địa? Nếu lấy
Bắc Kinh làm trung tâm thì Tây Sa phải ở hướng Tân Cương, Tây Tạng
hoặc Vân Nam.
Nếu lấy tỉnh lỵ Quảng Châu tỉnh Quảng
Đông làm trung tâm, thì cả Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa đều chỉ dọc
về hướng nam, làm sao chính danh được? Còn như muốn lấy Trung Sa
làm trung tâm đúng như tên gọi của nó, thì quần đảo Đông Sa phải
gọi là Bắc Sa mới phải vì nó nằm ở hướng bắc so với Trung Sa.
Tóm lại, về phương diện sử liệu, các
học giả Trung Quốc ngày nay đã để lại quá nhiều tồn nghi do cố tình
sử dụng sai phương pháp sử học hiện đại. Sử liệu địa dư, phương
chí và địa đồ cổ trong kho tàng văn hiến Trung Quốc tính đến cuối
đời Thanh chưa từng thể hiện sự xác nhận chủ quyền đối với các quần
đảo trên biển Đông ngoài Hải Nam. Trong khi đó, từ đời nhà Lê của
Việt Nam, địa đồ chính thống Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư thời Hồng
Đức đã xác định sự hiện diện của quần đảo Hoàng Sa. Và Đại Nam nhất
thống toàn đồ vẽ khoảng 1834 (thời Minh Mệnh) đã ghi nhận các quần
đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa thuộc Việt Nam.
Khi các học giả
Trung Quốc vẫn còn vòng vo trong việc đưa ra các luận cứ có tính
thuyết phục về vấn đề chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần
đảo Tây Sa và Nam Sa, việc vội vã lập thành phố Tam Sa nhằm quản
lý các đảo này của Chính phủ Trung Quốc chỉ góp thêm một “sử liệu”
sai lầm nữa cho các học giả về sau.
Ngày 11 tháng 12 năm 2007
@talawas
|