|
Một số bài viết của Phạm Đoan Trang và tin tức liên
quan đến cô, một nữ phóng viên 31 tuổi của tuanvietnam.net
A1. Vấn
đề Trường Sa - Hoàng Sa: cần một nỗ lực tổng hợp
A2. Một
phóng viên của VietNamNet bị bắt
A3. Vai
trò của nước lớn trong Hội nghị Geneva
A4. Hy
sinh lợi ích nước nhỏ
A5. Phóng
viên bị bắt 'không phải vì viết báo'
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Vấn
đề Trường Sa - Hoàng Sa: cần một nỗ lực tổng hợp
Đoan Trang - tuanvietnam.net
07/12/2008
Khoảng
50 năm qua, TQ có chừng 60 công trình nghiên cứu quy mô nhằm chứng
minh Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền của mình. Hiện công cuộc
tuyên truyền của Chính phủ TQ vẫn tiếp tục cả trong nước lẫn quốc
tế. Trong khi đó, các nghiên cứu của phía VN vừa ít hơn vừa không
được công bố rộng khắp, mặc dù chúng ta có đủ bằng chứng để khẳng
định chủ quyền đối với hai quần đảo này.
Hiện tại, cả Malaysia, Philippines và Brunei cũng
đều có ý muốn xác lập chủ quyền đối với ít nhất là một phần của
quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, những lý lẽ họ đưa ra chủ yếu là
từ khía cạnh địa lý (khoảng cách địa lý giữa Trường Sa và lãnh thổ
các nước này), thay vì có bằng chứng trên bình diện lịch sử.
Theo pháp lý quốc tế, sự gần kề về địa lý không có
giá trị, (trừ phi hòn đảo/ quần đảo đang xét nằm trong lãnh hải
của một quốc gia; theo quy định hiện nay là 12 hải lý tính từ đất
liền) (*). Không thiếu trường hợp đảo/ quần đảo nằm gần nước này
nhưng lại thuộc chủ quyền nước khác, ví dụ Greenland gần Canada
nhưng lại thuộc Đan Mạch.
Do đó, về căn bản, Malaysia, Philippines và Brunei
không có nhiều cơ sở để sở hữu Hoàng Sa - Trường Sa (HS - TS).
Chỉ hai nước có sử liệu liên quan tới HS - TS, là
Việt Nam và Trung Quốc. Vì thế, trong việc xác lập chủ quyền đối
với HS - TS, Việt Nam và Trung Quốc là hai bên tham gia chính với
nhiều luận cứ hơn cả, và cả hai đều dựa vào tư liệu lịch sử.
Những bằng chứng trong sử cũ: hoàn toàn vững
chắc
Căn cứ trên sử liệu, đặc biệt là cổ sử (tức những
ghi chép từ khi Việt Nam độc lập - năm 1945 - trở về trước), thì
HS - TS chắc chắn thuộc về Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân - người đã tìm đọc
khá nhiều cổ sử Trung Quốc cũng như phần nửa trong số các tài liệu
của Trung Quốc từ giữa thập kỷ 1950 đến nay - khẳng định: "Sử
liệu của Việt Nam chắc chắn và liên tục hơn sử liệu Trung Quốc,
mặc dù xuất hiện trễ hơn. Các học giả Trung Quốc cho rằng từ thời
Đông Hán, Trung Quốc đã có những biên chép về chủ quyền đối với
HS - TS. Tuy nhiên, sử liệu của họ về vấn đề này không rõ ràng và
thuyết phục như của Việt Nam".
Ông Quân nói rõ hơn rằng từ đời Hán đến cuối đời
Thanh, Trung Hoa có khoảng 120 tựa sách có đề cập đến những nơi
mà Trung Quốc nay gọi là Tây Sa, Nam Sa (HS - TS của Việt Nam).
Nhưng nói chung, những tư liệu cổ sử này là các biên chép dạng "du
ký" của các nhà hàng hải theo kiểu "trông thấy thì ghi
lại", chứ không phải chính sử và không nhằm mục đích xác lập
chủ quyền đối với HS - TS.
Trong khi đó, mặc dù sử liệu ở Việt Nam muộn hơn
nhưng hầu hết các biên chép thể hiện sự khẳng định chủ quyền đều
nằm trong các bộ sử chính thống do Quốc sử quán biên soạn, như Đại
Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục...
Từng nghiên cứu sâu về HS - TS từ trước năm 1975,
Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã cũng cho rằng, căn cứ trên cổ sử, "chỉ
Việt Nam mới có cơ sở vững chắc để khẳng định HS - TS là của mình".
Chính vì thế mà, khi tranh chấp HS - TS với Trung Quốc, vào hai
năm 1932 và 1947 chính quyền thực dân Pháp đã đề nghị đưa vấn đề
ra một trọng tài quốc tế để phân xử mà Trung Quốc đều từ chối.
Tóm lại, căn cứ sử liệu và những công trình nghiên
cứu cá nhân của các học giả, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định
HS - TS là của Việt Nam.
Hiện nay: kém quy mô
Điều đáng nói là trong khi sử liệu của Trung Quốc
yếu lý hơn sử liệu Việt Nam, thì sự chuẩn bị của họ cho việc xác
lập chủ quyền đối với HS - TS lại rất quy mô, bài bản và đã bắt
đầu từ lâu.
Ngay từ sau khi thống nhất và ổn định đất nước (năm
1949), chính quyền Trung Quốc đã huy động các học giả tiến hành
các nghiên cứu mới và hệ thống hóa sử liệu cũ với mục đích chứng
minh HS - TS thuộc về Trung Quốc.
Nhiều trung tâm nghiên cứu về Biển Đông và HS - TS
được thành lập. Và khoảng 60 công trình của cả cá nhân và tập thể
ra đời, dày dặn, bề thế, chẳng hạn Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu
hối biên (tập thể tác giả, Trần Sử Kiên chủ biên, 1987), Trung Quốc
Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ
biên, 1992), hay Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy,
1996). Nhiều công trình được dịch sang tiếng Anh để đưa ra thế giới.
So với khối lượng đồ sộ đó, các công trình nghiên
cứu của giới học giả Việt Nam vừa ít, không được phổ biến sâu rộng
ngay cả trong nước, vừa là những nỗ lực cá nhân rời rạc.
Có thể kể ra một vài tác phẩm gần đây như Cuộc tranh
chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (tác giả
Lưu Văn Lợi, năm 1995), hay cuốn Hoàng Sa, Trường Sa - lãnh thổ
Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế (Nguyễn Q. Thắng, 2008). Trước
đó, vào các năm 1974 và 1975 cũng có một số nghiên cứu độc lập của
các học giả Việt kiều như của các ông Võ Long Tê, Trần Minh Tiết.
Trong khi nhiều công trình của phía Việt Nam được
Trung Quốc tổ chức dịch để giới học giả tham khảo và phản biện (tập
san Sử Địa, chuyên đề về HS - TS, ra đời năm 1974 thì năm 1978 có
bản tiếng Trung), thì không một tác phẩm nào của phía Trung Quốc
được dịch sang tiếng Việt.
Dường như các nhà nghiên cứu Việt Nam đang phải làm
việc trong tình trạng đơn lẻ, thiếu hẳn sự hỗ trợ từ một cơ quan
phối hợp chung, cũng như thiếu sự trao đổi, hợp tác, hỗ trợ lẫn
nhau. Điều này nguy hiểm, bởi không có gì đảm bảo giữa các công
trình nghiên cứu sẽ không chứa đựng những mâu thuẫn, sơ hở, gây
bất lợi cho chúng ta.
Một trong số rất hiếm nhà nghiên cứu đã đọc tài liệu
của phía Trung Quốc (tự tìm đọc), ông Phạm Hoàng Quân, cho biết:
"Do dựa vào nguồn sử liệu không chắc chắn, các học giả Trung
Quốc dễ bị mâu thuẫn, kiểu như người nói không thật lúc trước thì
lúc sau dễ quên mất điều mình nói. Còn Việt Nam, với sử liệu đầy
đủ căn cứ, chúng ta không được để có sơ hở, mâu thuẫn nào".
"Nhưng, cần phải hệ thống hóa lại sử liệu cho
thật chặt chẽ, thống nhất, và có một cơ quan phối hợp chung để đảm
bảo các công trình nghiên cứu đã (hoặc sẽ) công bố không có những
lý luận đối nghịch nhau".
Trong ngoại giao
Hiện tại, trong dư luận quốc tế, chưa quốc gia nào
có tuyên bố chính thức ủng hộ Việt Nam hay Trung Quốc trong vấn
đề HS - TS.
Có một sự thực là, tranh chấp biên giới, lãnh thổ,
lãnh hải là chuyện thường xảy ra trong quan hệ quốc tế. Nhưng với
việc nhân loại ngày càng văn minh hơn, chủ nghĩa vô chính phủ đã
suy giảm, và việc tấn công quân sự ít khả năng xảy ra.
Ngoài ra, việc sử dụng vũ lực để chiếm hữu là trái
với Hiến chương LHQ (ra đời từ năm 1945). Tiến sĩ sử học Nguyễn
Nhã nhấn mạnh: "Bất cứ giải pháp nào chỉ dựa vào sức mạnh quân
sự cũng không có giá trị pháp lý”".
Tiến sĩ luật Từ Đặng Minh Thu cũng từng viết trong
một tham luận năm 1998: "Việt Nam phải thường xuyên lên tiếng
phản đối và khẳng định chủ quyền đối với HS - TS. Việt Nam cũng
nên công khai đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề HS - TS ra trước Tòa
án Quốc tế. Nếu Trung Quốc thật tình tin tưởng rằng mình có căn
bản pháp lý vững chắc để khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo
này, thì Trung Quốc không có lý do gì để từ chối một giải pháp pháp
lý".
Việc đưa vấn đề ra Tòa án Quốc tế không đơn giản,
vì nó đòi hỏi sự đồng thuận của cả hai bên. (Tòa không chấp nhận
một nước đơn phương kiện một nước khác). Dù vậy, ngay cả khi không
làm được điều đó, chúng ta vẫn có thể thực hiện các nỗ lực ngoại
giao nhằm tuyên truyền, vận động thế giới công nhận chủ quyền của
Việt Nam đối với HS - TS.
Tất cả đều phải tham gia
Nhìn vào những gì phía Trung Quốc đã và đang làm,
có thể thấy việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần
đảo HS - TS đòi hỏi không chỉ những nỗ lực ngoại giao hay các nghiên
cứu trên giấy, mà cần sự phối hợp đồng bộ các lĩnh vực. Phải có
sự tham gia của các nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu (lịch sử, địa
lý, thậm chí sinh học, khí tượng học), giới luật gia, truyền thông
báo chí.
Tóm lại, chúng ta cần một chương trình hành động
bền bỉ trong cả nước, dưới sự điều hành và điều phối thống nhất
của Nhà nước.
Cuối cùng, cũng vì tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải
là chuyện không hiếm gặp trong quan hệ quốc tế, nên chính phủ nào
cũng cần trang bị cho nhân dân thông tin và kiến thức cơ bản về
lãnh thổ, lãnh hải của nước mình, để người dân có ý thức bảo vệ
Tổ quốc. Điều này sẽ tạo nên một “mặt trận” nữa bên cạnh các “mặt
trận” ngoại giao hay nghiên cứu.
HS - TS đã là của Việt Nam từ trong lịch sử, và mỗi
người trong chúng ta đều có trách nhiệm bảo vệ sự thật lịch sử đó.
(*) Công ước LHQ về luật biển năm 1982 quy định
các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không
quá 12 hải lý (1 hải lý = 1,852 km) tính từ đường cơ sở.
Đường cơ sở là đường tiếp giáp thực tế của đất và
nước, hay đường thẳng nối hai điểm thuộc đất liền, được chọn khi
chúng nổi lên trên mặt nước và xa bờ nhất khi mực nước thủy triều
là thấp nhất.
Về
đầu trang
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Một
phóng viên của VietNamNet bị bắt
BBC - 31 tháng 8, 2009
Một
nhà báo thường viết mảng chính trị - xã hội của báo điện tử VietNamNet
bị công an bắt giữ, nhưng chưa rõ lý do. Ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng
biên tập của VietNamNet, xác nhận với hãng tin Đức DPA rằng phóng
viên Phạm Đoan Trang bị bắt thứ Sáu tuần trước và hiện vẫn bị tạm
giữ. Một đồng nghiệp và là bạn của cô Đoan Trang cũng xác nhận với
BBC tin này. Đoan Trang là nhà báo viết cho chuyên trang TuanVietNam.net
của VietNamNet.
Trong bài viết gần đây hồi tháng Bảy, nhìn lại Hội
nghị Geneva 1954, Đoan Trang dẫn các nguồn tư liệu nước ngoài, cho
rằng lợi ích của Việt Nam đã bị hy sinh vì "cuộc đàm phán của
các nước lớn".
Tác giả cũng nhìn nhận có sự "phân biệt đối
xử" với người Việt đã ra nước ngoài vì hệ quả của chiến tranh.
Nữ phóng viên trẻ này cũng từng viết về tranh
chấp Hoàng Sa - Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại
đây.
Tuy vậy, VietNamNet không cho biết phóng viên Đoan
Trang bị công an bắt giữ vì lý do gì.
Hôm thứ Năm tuần rồi, blogger Người Buôn Gió, thường
viết các bài chỉ trích chính phủ, đã bị bắt.
Cũng trong tuần, nhà báo và là blogger nổi tiếng
Huy Đức rời khỏi báo Sài Gòn Tiếp Thị sau khi tòa soạn "bất
đồng quan điểm" với ông quanh bài trên blog về Bức tường Berlin.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Vai
trò của nước lớn trong Hội nghị Geneva
Đoan Trang
20/07/2009
(TuanVietNam)
- “Tôi chưa từng biết tới một hội nghị nào như thế. Các bên tham
gia đều không liên hệ trực tiếp, và tất cả chúng tôi đều luôn luôn
ở trong tình trạng có thể một bên nào đó sẽ sập cửa bỏ về” - cựu
Ngoại trưởng Anh Anthony Eden, chủ tọa các phiên họp tại Hội nghị
Geneva 1954, hồi tưởng về một trong những hội nghị lịch sử của thế
kỷ 20.
LTS: Không có gì phải bàn cãi, Hiệp định Geneva
là thắng lợi bước đầu trong cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc.
Mặc dù 55 năm đã trôi qua nhiều người vẫn quan tâm muốn tìm hiểu
sâu sắc hơn về trang sử bi hùng này của dân tộc. Đã có
rất nhiều những bài viết, hội thảo về Hiệp định Geneva. Nhiều quan
điểm trong các bài viết có thể gây tranh cãi hoặc cần được thảo
luận thêm. Tuy nhiên, việc đăng tải chuyên đề này của Tuần
Việt Nam không ngoài mục đích cung cấp cho bạn đọc một số chi tiết
lịch sử có thể còn ít người biết, đồng thời, cũng để khẳng định
rằng: Chỉ có huy động được tinh thần dân tộc và lòng yêu nước trong
mỗi người Việt Nam, đoàn kết một lòng, chúng ta mới có thể tập trung
được sức mạnh của cả dân tộc để tiến lên, đặc biệt trong những giai
đoạn khó khăn của đất nước.
Ông
Eden không nói quá, vì hội nghị mà ông làm Chủ tịch đó thật sự là
một hội nghị “ba bè bảy mối”, diễn ra trong một bối cảnh quốc tế
hết sức phức tạp: Chiến tranh Lạnh đang ở thời kỳ đầu, chiến tranh
Triều Tiên - hay là cuộc đụng đầu trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc
trên bán đảo này - vừa kết thúc. Thế giới đã thực sự chia thành
hai phe, và bản thân mỗi phe cũng không đồng nhất.
Các nhà ngoại giao và chính trị Mỹ được lệnh phải giữ khoảng cách
với Trung Quốc, đề phòng một nụ cười cũng có thể bị diễn giải thành
một sự thừa nhận chính thức. Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles thậm
chí còn từ chối bắt tay với Thủ tướng Chu Ân Lai, và giễu cợt rằng
họ có thể gặp nhau khi chẳng may đụng xe ngoài đường.
Nhà báo Mỹ Stanley Karnow, người từng có mặt ở miền Nam Việt Nam
từ tháng 7/1959, cũng nhận xét rằng “phái đoàn của Việt Nam DCCH
tránh gặp các đại diện của Bảo Đại” (tức phái đoàn Quốc gia Việt
Nam - TVN), và tỏ thái độ tẩy chay Pháp.
Không khí đó khiến Hội nghị được Stanley Karnow mô tả như “một căn
nhà xây bằng các lá bài”, và khiến cựu Ngoại trưởng Anh Anthony
Dulles phải thốt lên rằng ông “chưa từng biết tới một hội nghị nào
như thế”.
Để mô tả sự căng thẳng trong cuộc đàm phán lịch sử này, xin trích
lời ông Trần Văn Tuyên - một trong những người từng tham gia Hội
nghị, thành viên phái đoàn của chính quyền Bảo Đại: “16h chiều ngày
8/5, Hội nghị chính thức khai mạc. Bầu không khí nặng nề tang tóc
vì Điện Biên Phủ vừa thất thủ được 24 giờ. Những phái đoàn các nước
tự do lục tục tới, hỗn độn tới. Kẻ đến trước, người đến sau, không
có trật tự, không có hàng ngũ, không có thể thức.
Giờ họp đã sắp tới, dãy ghế khu cộng sản vẫn trống, không thấy một
bóng người nào. Đúng 4 giờ kém 2 phút, người ta thấy Ngoại trưởng
Liên Xô Molotov bước vào phòng họp, sau ông là phái đoàn Nga trịnh
trọng nghiêm trang… 4 giờ đúng, Chủ tịch phiên họp là Ngoại trưởng
Eden tuyên bố khai mạc”.
Quang cảnh Hội nghị Geneva 1954. (Nguồn ảnh:
n1asphost.com)
Chuyện ăn ở và ý đồ chính trị
Sự căng thẳng đã bắt đầu từ trước khi Hội nghị bắt đầu. Tại Hội
nghị Geneva, mỗi nước lớn đều coi trọng từng hành vi ứng xử của
mình, xem đó như thông điệp ngầm gửi tới đối phương và công luận.
Điều này thể hiện ngay trong chuyện ăn ở. Trong khi tất cả các đoàn
đến dự Hội nghị Geneva đều thuê biệt thự, thì phái đoàn Mỹ lại thuê
khách sạn (L’Hôtel du Rhône) và đăng ký ở chỉ một tuần. Hành động
của của Ngoại trưởng Foster Dulles tất nhiên không nhằm “chơi trội”,
mà nó cho thấy thái độ mà họ muốn thể hiện: không cam kết gì với
Hội nghị, sẵn sàng đến và đi bất cứ lúc nào.
Ngược với tâm thế đó của Mỹ, phái đoàn Trung Quốc do Chu Ân Lai
làm trưởng đoàn, kéo tới Geneva với hơn 200 người, gồm cả đầu bếp
riêng. Họ ngụ tại một biệt thự lớn, cực kỳ sang trọng, Grand Mont-Fleuri,
và mang theo đến đây cả đèn lồng, thảm, đồ cổ Trung Hoa để trang
trí.
Điều gì nằm sau sự lựa chọn xa hoa ấy? Đó là hàm ý: Trung Quốc sẵn
sàng ở lại Geneva thật lâu để theo đuổi hội nghị đến cùng. Thêm
nữa, dẫu sao đây cũng là lần đầu tiên những đại diện cho chính quyền
Trung Hoa của Mao Trạch Đông xuất hiện tại một hội nghị quốc tế
lớn, ngang hàng với tứ cường Mỹ, Nga, Anh, Pháp. (Với tâm cảm của
một nước lần đầu ra mắt thế giới, thậm chí phái đoàn Trung Quốc
còn mang cả… chuột bạch theo để thử thức ăn. Chuyện này được tài
liệu của chính phía Trung Quốc ghi lại).
Anthony Eden cũng xa hoa không kém khi thuê Reposoir, biệt thự thế
kỷ 18, nằm trong công viên. Nga thuê một biệt thự khá lớn bên hồ
là Village Blange. Trưởng đoàn Pháp Georges Bidault ngụ tại biệt
thự Joli-Port, kế bên nơi ở của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đoàn
Việt Nam DCCH thuê một villa nhỏ xinh là Le Cèdres.
Nhưng “74 ngày ở gần nhau trong cái thành phố Thụy Sĩ yên ả này
không làm cho các nhà ngoại giao phá bỏ được không khí căng thẳng
và nghi kỵ lẫn nhau” – Stanley Karnow viết. (*)
Ông Karnow còn chưa đề cập tới khía cạnh ngược lại, đó là sự tin
cậy và phụ thuộc quá mức đối với đồng minh, trong một số trường
hợp.
Về
đầu trang
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Hy
sinh lợi ích nước nhỏ
Đoan Trang
21/07/2009
(TuanVietNam)
- Mặc dù là những cuộc họp bàn về vấn đề Đông Dương, nhưng Hội nghị
Geneva ban đầu không hề có tên các nước Đông Dương trong thành phần
tham dự. Bước vào Hội nghị, nhiều cuộc đàm phán cũng được tách khỏi
diễn đàn đa phương, để rồi một số quyết định được đưa ra trong các
cuộc họp kín đó mà không có sự tham gia của bên có số phận liên
quan.
LTS: Không có gì phải bàn cãi, Hiệp định Geneva
là thắng lợi bước đầu trong cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc.
Mặc dù 55 năm đã trôi qua nhiều người vẫn quan tâm muốn tìm hiểu
sâu sắc hơn về trang sử bi hùng này của dân tộc. Đã có rất nhiều
những bài viết, hội thảo về Hiệp định Geneva. Nhiều quan điểm trong
các bài viết có thể gây tranh cãi hoặc cần được thảo luận thêm.
Tuy nhiên, việc đăng tải chuyên đề này của Tuần Việt Nam không ngoài
mục đích cung cấp cho bạn đọc một số chi tiết lịch sử có thể còn
ít người biết, đồng thời, cũng để khẳng định rằng: Chỉ có huy động
được tinh thần dân tộc và lòng yêu nước trong mỗi người Việt Nam,
đoàn kết một lòng, chúng ta mới có thể tập trung được sức mạnh của
cả dân tộc để tiến lên, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn
của đất nước.
Căng thẳng, đàm phán và thỏa hiệp
4h
chiều ngày 8/5/1954, gần một ngày sau khi tập đoàn cứ điểm của Pháp
tại Điện Biên Phủ thất thủ, Hội nghị Geneva khai mạc. Phái đoàn
Pháp mặc đồ đen tang tóc. Đoàn Việt Nam DCCH đến dự với tư thế người
vừa thắng trận vẻ vang.
Suốt một tháng đầu, Trưởng đoàn Việt Nam DCCH, Phó Thủ tướng Phạm
Văn Đồng, cương quyết yêu cầu Pháp phải rút quân khỏi Việt Nam và
để nhân dân Việt Nam tự giải quyết các mâu thuẫn. Phía Pháp từ chối,
ông Phạm Văn Đồng không nhượng bộ. Hội nghị sa vào bế tắc.
Ngày 20/6, Thủ tướng mới của Pháp Mendès-France nhậm chức, tuyên
bố sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong thời hạn 1 tháng, nếu không
nội các sẽ từ chức. Và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã chứng
tỏ mình là một trong những nhà ngoại giao xuất sắc của thế kỷ 20
khi ngay lập tức nhận về cho Trung Quốc vai trò đàm phán đại diện
cho các nước Đông Dương, nhằm phá vỡ thế bế tắc ở hội nghị.

Toàn cảnh Hội nghị Geneva 1954. (Ảnh: Freddy Bertrand)
Chu Ân Lai và Mendès-France đã tiến hành nhiều cuộc
hội đàm kín, mà những phát biểu, diễn văn chính thức tại Hội nghị
sau đó đều chỉ còn mang tính chất “trình diễn”.
Ngày 23/6, Chu Ân Lai bí mật thu xếp gặp Mendès-France tại ĐSQ Pháp
ở Thụy Sĩ. Chu thay bộ quân phục màu xám thường lệ để mặc Âu phục
complet. Ông nói với người đồng nhiệm Pháp rằng Trung Quốc muốn
trước hết là ngừng bắn ở Đông Dương, sau đó mới bàn đến giải pháp
chính trị cho khu vực này. (Đây là luận điểm hoàn toàn khác với
mong muốn độc lập cho toàn Việt Nam của cả Việt Nam DCCH lẫn Việt
Nam Quốc gia).
Chu Ân Lai tán thành khả năng có “hai nước Việt Nam”, và nhấn mạnh
mục tiêu duy nhất của Trung Quốc là hòa bình trong khu vực, Trung
Quốc “không có tham vọng gì hơn và không áp đặt điều kiện nào khác”.
Chia cắt Việt Nam chỉ là tạm thời trước khi có hiệp thương tổng
tuyển cử để thống nhất hai miền.
Các cuộc đàm phán bắt đầu biến chuyển theo hướng thương lượng để
xác định giới tuyến phân cách Việt Nam và thời điểm tiến hành tổng
tuyển cử. 3h30 sáng 21/7/1954, Hội nghị Geneva kết thúc với một
bản tuyên bố cuối cùng chia cắt Việt Nam tại vùng vĩ tuyến 17, thời
hạn tổng tuyển cử là hai năm kể từ ngày ký.
Tối 22/7/1954, Chu Ân Lai tổ chức dạ tiệc chia tay các đoàn. Trong
số khách mời có cả Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng lẫn Ngô Đình Luyện,
em trai Thủ tướng Ngô Đình Diệm của phía Việt Nam Quốc gia.
Trong bữa tiệc, Chu làm như ngẫu nhiên, đề nghị chính quyền Sài
Gòn mở cơ quan đại diện ngoại giao ở Bắc Kinh: “Tất nhiên, về mặt
ý thức hệ thì Phạm Văn Đồng gần gũi chúng tôi hơn, nhưng điều đó
không loại bỏ việc có đại diện từ miền Nam. Suy cho cùng, chẳng
phải tất cả các đồng chí đều là người Việt Nam, và chẳng phải tất
cả chúng ta đều là người châu Á hay sao?”.

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn Việt Nam DCCH - tại
Hội nghị Geneva. (Ảnh: Freddy Bertrand)
Đông Dương hay “chiến trường ý thức hệ”
Hội nghị Geneva 1954 được tổ chức theo quyết nghị giữa Liên Xô,
Mỹ, Anh, Pháp tại Hội nghị tứ cường ở Berlin đầu năm 1954. Sau đó
Liên Xô đã thuyết phục phương Tây để CHDCND Trung Hoa cũng được
tham dự.
5 nước đã họp tại Geneva từ ngày 26/4/1954 để bàn về các vấn đề
tranh chấp trên thế giới, trong đó Đông Dương chỉ là một nội dung
trong chương trình nghị sự, và các nước nhỏ có quyền lợi liên quan
đều không được mời dự.
Ảnh:
casahistoria.net
Mãi đến ngày 2/5/1954, Hội nghị mới chấp thuận đề nghị của Liên
Xô mời thêm các phe lâm chiến tại Đông Dương (Việt Nam DCCH, Việt
Nam Quốc gia, Lào, Campuchia). Như vậy, xuất phát điểm Hội nghị
Geneva đã chỉ là cuộc họp của các nước lớn.
Trước đó, cuộc kháng chiến chống Pháp, giải phóng dân tộc của Việt
Nam đã bị quốc tế hóa: Từ năm 1950 (tức là ngay sau năm 1949 thành
lập nước CHDCND Trung Hoa), quân đội và nhân dân Việt Nam đã nhận
được sự ủng hộ và viện trợ từ Trung Quốc và Liên Xô.
Trong khi đó, phía Pháp cũng được Mỹ cung cấp tài chính và vũ khí.
Viện trợ từ năm 1950 là 10 triệu USD, đến năm 1954 đã tăng lên trên
2 tỷ USD, chiếm 70% chi tiêu quân sự của Pháp ở Đông Dương. Nghĩa
là chiến trường ở Việt Nam tuy không có sự giao tranh trực tiếp
giữa quân Trung Quốc và quân Mỹ như ở bán đảo Triều Tiên, nhưng
cuộc chiến cũng đã bị quốc tế hóa. Và hội nghị bàn về nó – Hội nghị
Geneva – là nơi các nước lớn gặp nhau để mặc cả và kiếm phần lợi
nhất về cho mình.
Mỹ đến với Hội nghị Geneva nhằm ngăn cản một giải pháp có lợi cho
“phe cộng sản”. Chiến tranh Lạnh đang dâng cao: ở châu Âu, Mỹ chống
Liên Xô; ở châu Á, Mỹ phải bằng mọi cách kiềm tỏa Trung Quốc và
Việt Nam DCCH.
Liên Xô mặc dù đã thuyết phục phương Tây chấp thuận đưa Trung Quốc
và các nước nhỏ ở Đông Dương vào bàn đàm phán, nhưng đằng sau tinh
thần quốc tế vô sản, Liên Xô cũng mong muốn ngăn cản Mỹ và cả Trung
Quốc có ảnh hưởng tại Đông Dương, nhất là không để Mỹ và Trung Quốc
biến nơi đây thành căn cứ quân sự.
Pháp lúng túng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Phong trào phản
chiến trong công luận Pháp đang dâng lên. Sau thất thủ tại Điện
Biên Phủ, tướng Navarre xin thêm hai sư đoàn viện binh nhưng bị
từ chối. Đối với Pháp, Hội nghị Geneva là một diễn đàn đa phương
để Pháp tìm cách rút lui khỏi Việt Nam trong danh dự, tránh phải
đàm phán trực tiếp với Việt Nam DCCH.
Anh lo duy trì quyền lợi ở Hong Kong và đại lục nên muốn duy trì
quan hệ bình thường ở mức độ nào đó với CHDCND Trung Hoa. Tuy nhiên,
là đồng minh của Mỹ, Anh cũng lo ngại ảnh hưởng lan rộng của “phe
cộng sản” tại châu Á.
Lợi ích quốc gia là trên hết
Cuối cùng là Trung Quốc. Theo ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng
Bộ Ngoại giao Việt Nam, “việc giải quyết vấn đề Đông Dương không
phải là mục tiêu duy nhất mà Chu Ân Lai theo đuổi ở Geneva. Trung
Quốc còn có hai mục tiêu khác không kém quan trọng”. (**)
Đó là đi tới thiết lập quan hệ với các nước Tây Âu để có một nước
CHDCND Trung Hoa được công nhận như một trong các cường quốc thế
giới; trấn an và gây ảnh hưởng chính trị đối với các nước châu Á.
Từ góc độ của người Mỹ, nhà báo - sử gia Stanley Karnow cho rằng
mục tiêu chính của Trung Quốc là gạt bỏ mọi cớ để Mỹ can thiệp vào
Đông Dương và một lần nữa đe dọa Trung Quốc. Vì thế, Chu Ân Lai
phải tìm ra một giải pháp giúp Pháp ít nhất là duy trì được một
phần chỗ đứng ở Đông Dương, ngăn cản khả năng Mỹ can thiệp ồ ạt
vào khu vực.
Những sĩ quan Pháp cuối cùng rời
Hà Nội theo Hiệp định đình chiến (một trong các văn kiện của Hội
nghị Geneva 1954). (Nguồn ảnh: ttvnol.com)
Để làm như thế, không thể không hy sinh mục tiêu giành độc lập hoàn
toàn của Việt Nam DCCH. “Nhưng Chu đã đặt các ưu tiên của Trung
Quốc lên trước” – Stanley Karnow nhận định. “Chính sách ngoại giao
của Trung Quốc, qua hàng thế kỷ, luôn là chia nhỏ Đông Nam Á để
có thể gây ảnh hưởng lên từng nước… Một nước Việt Nam chia cắt sẽ
tốt cho Trung Quốc hơn là một quốc gia láng giềng thống nhất”.
Nhìn lại lịch sử, nhiều người có thể có thái độ trách móc khi nghĩ
về một nền độc lập, thống nhất bị đổ vỡ; họ cho rằng khả năng thống
nhất được hai miền Việt Nam là khả thi nếu không có sự can thiệp
của những nước lớn.
Bản thân Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng – người đã chứng kiến việc
Chu Ân Lai mời đại diện chính quyền Sài Gòn tới dự tiệc và gợi ý
mở cơ quan ngoại giao tại Bắc Kinh – cũng đã cay đắng nói với một
trợ lý về sự “hai mặt” của Chu Ân Lai.
Nhưng suy cho cùng, mỗi nước lớn đều đã đến dự Hội nghị Geneva với
toan tính riêng của họ (chỉ có một điểm chung là sự cần thiết phải
ngừng bắn ở Đông Dương). “Tất cả đều đã lấy những lợi ích quốc gia
của họ làm phương hướng chỉ đạo hoạt động ngoại giao khi đến Hội
nghị” – ông Trần Quang Cơ nhận định. “Tính chất và những giới hạn
của chủ nghĩa quốc tế vô sản là một trong những điều có thể rút
ra từ đó”.
Hội nghị Geneva thực chất đã là cuộc đàm phán của các nước lớn,
và là nơi chứng minh một sự thật: Nước nào cũng chỉ quan tâm đến
lợi ích của chính họ và luôn đặt lợi ích đó lên hàng đầu khi cần
thương thảo. Như Talleyrand đã nói một câu nổi tiếng, các quốc gia
không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh cửu.
Về
đầu trang
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Phóng
viên bị bắt 'không phải vì viết báo'
BBC - thứ ba, 1 tháng 9,
2009
Tổng
biên tập báo điện tử VietnamNet nói với BBC rằng việc phóng
viên Đoan Trang bị bắt tuần trước không có liên quan tới công
việc của cô tại tờ báo này. Ông Nguyễn Anh Tuấn nói: "Việc
cơ quan an ninh bắt Đoan Trang không liên quan đến những bài viết
của Đoan Trang trên VietnamNet." Phạm Đoan Trang, 31 tuổi,
phóng viên chuyên trang Tuần Việt Nam của VietnamNet, bị bắt
thứ Sáu tuần trước. Được tin có cáo buộc phóng viên này
đang bị điều tra vì 'vi phạm an ninh quốc gia'. Các hãng
thông tấn có trụ sở ở trong nước cũng trích lời ông Tuấn
nói tòa soạn không biết hiện giờ Đoan Trang đang ở đâu và
không liên lạc được với cô.
Đoan Trang là tác giả một số bài báo nói
về chủ đề tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc
tại Biển Đông, đăng trên Tuần Việt Nam. Mới đây cô cũng có
bài trích thuật một số sử gia nước ngoài nhìn lại đàm
phán hội nghị Geneva 1954, nêu một số quan điểm không chính
thống.
Tuy nhiên, theo Tổng biên tập Nguyễn Anh Tuấn,
"các bài viết của Đoan Trang trên VietnamNet là bình thường".
Ngay trước vụ này, ông Bùi Thanh Hiếu, tức blogger Người
Buôn Gió, cũng bị bắt tại Hà Nội để điều tra.
Trên blog của mình, ông Hiếu đăng tải nhiều
bài chỉ trích chính sách của nhà nước như về vấn đề biển
đảo, bauxite và đất đai tôn giáo.
Blog Người Buôn Gió cũng nêu quan điểm ủng hộ
một số nhà hoạt động dân chủ. Ông còn được tin là đã tham
gia in ấn áo phông với nội dung phản kháng. Chưa biết hai
vụ bắt giữ này có liên quan tới nhau không, nhưng đang có
suy diễn trong giới quan sát về một 'làn sóng trấn áp'
những người bị cho là gây đe dọa cho an ninh quốc gia.
Đầu tháng này, cơ quan an ninh điều tra được
biết sẽ chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát để khởi tố "vụ
án đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia" và sớm
xét xử các nghi phạm.
Báo chí nhà nước đưa tin trong vụ này, "các
lực lượng chức năng đã bắt, triệu tập và mời làm việc 27 đối tượng,
bắt tạm giam 5 đối tượng".
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Về
đầu trang
|