|
Sự
thật về trận hải chiến Hoàng Sa
Lê Văn Thự
Từ ngày trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra đến nay, tôi
vẫn giữ im lặng, không viết ra những điều mắt thấy tai nghe những
gì xảy ra trong trận chiến, vì nghĩ rằng trận chiến Hoàng Sa là
một thất bại vì đã không giữ được đảo Hoàng Sa. So với những chiến
tích lẫy lừng cửa tiền nhân trong lịch sử thì chúng tôi đã không
làm nên được tích sự gì, vì vậy tôi cảm thấy hổ thẹn khi phải viết
ra.
Nhưng nay đã có nhiều người viết về trận Hoàng Sa,
trong đó có Hải quân Đại tá Hà Văn Ngạc là người chỉ huy trận chiến,
và Trung úy Hải quân Đào Dân thuộc HQ-16. Nay lại có thêm Hải quân
Trung tá Vũ Hữu San, Hạm trưởng HQ-4 viết một cuốn sách nói về trận
chiến Hoàng Sa. Trong các bài viết cũng như cuốn sách đó, mỗi người
nói một cách, không ai giống ai. Nếu ai chỉ đọc một bài thôi thì
có thể tin đó là thật, nhưng nếu người đọc tinh ý thì vẫn có thể
tìm thấy một vài chi tiết chứng tỏ người viết thiếu thành thật hay
nói vu vơ phô trương nhiều hơn những gì cần nói. Còn nếu đọc hết
tất cả các bài viết thì sẽ thấy người nói hươu kẻ nói vượn, chẳng
biết tin ai. Người đọc sẽ đánh giá thấp Hải quân Việt Nam Cộng hòa
và sẽ thắc mắc không biết trận chiến Hoàng Sa thật sự như thế nào.
Chính vì lý do này mà tôi phải lên tiếng.Tôi biết
trong Hải quân có một số người biết sự thật, nhưng ai nói sai họ
vẫn mặc kệ, miễn người viết đề cao Hải quân, còn nói thật thì họ
cho là mất mặt Hải quân.Vì vậy khi viết bài này, tôi biết trước
là sẽ có nhiều người bất mãn vì bài viết của tôi, không những bất
mãn mà tệ hơn, còn lên án tôi là kẻ bêu xấu Hải quân, nhưng tôi
vẫn phải viết để nói lên sự thật và nói thay cho những người đã
chết trong trận Hoàng Sa.
Tôi cũng xin độc giả hiểu cho rằng trong các quân
binh chủng, hàng tướng tá, úy, sĩ quan hay trong bất cứ tập thể
nào cũng có người tốt kẻ xấu, người có trình độ cao, kẻ trình độ
thấp, do đó xin quí vị không nên vơ đũa cả nắm. Hơn nữa bây giờ
ra hải ngoại rồi, chúng ta phải nhìn nhận sự thật Việt Nam Cộng
Hòa sụp đổ chính vì cấp lãnh đạo và những người có trách nhiệm chứ
đừng đổ lỗi cho đồng minh phản bội để chối tội.
Trước khi vào bài, tôi xin nêu lên vài ý kiến về
bài viết của Trung úy Đào Dân vì ông ta cùng ở trên HQ-16 với tôi.
Những gì xảy ra trên HQ-16, Trung úy Dân viết có thể đúng nhưng
chưa chắc đã thấy hết mọi chuyện xảy ra trên HQ-16 vì ông chỉ ở
một vị trí nào đó trên chiến hạm chứ không thể có mặt ở trên khắp
mọi nơi, ngoài ra ông còn phải lo làm phận sự của ông chứ không
thể ngồi không mà quan sát trận chiến. Những gì ông viết về HQ-4,
HQ-5 và HQ-10 là hoàn toàn không đúng sự thật. Chính tôi là người
chỉ huy HQ-16 mà cũng không biết những hoạt động của HQ-4, HQ-5
làm sao ông Dân biết được ?
Tôi nghĩ là ông Dân muốn viết về trận chiến Hoàng
Sa mà ông có tham dự, nhưng khi muốn viết cho đầy đủ, ông phải nói
đến các chiến hạm khác mà ông không biết hoạt động của các chiến
hạm này nên phải tưởng tượng ra hoặc dựa vào phần nào bài viết của
Đại tá Hà Văn Ngạc mà bài viết của Đại tá Hà Văn Ngạc thì hoàn toàn
sai sự thật (tôi sẽ đề cập sau), điều này chắc chắn ông Dân cũng
biết nên ông dễ dàng phóng bút theo mà không dám nói sự thật.
Ông Dân nói Trung Cộng đặt đài quan sát trên đảo,
xây dựng doanh trại, và toán người nhái đổ bộ trong ngày cuộc chiến
xảy ra báo cáo là có cả một tiểu đoàn quân Trung Cộng trú đóng,
là không đúng sự thật. Chỉ có một dãy nhà gỗ đang xây cất dở dang.
Còn người nhái không đổ bộ trong ngày cuộc chiến xảy ra và cũng
chưa bao giờ lên được đảo.
Ông Dân viết: « Khi chúng tôi được lệnh tiến về phía
đảo, HQ-10 hình như có vẻ chần chừ vì khoảng cánh giữa chúng tôi
ngày càng xa và hạm trưởng HQ-16 đã nhiều lần thúc dục HQ-10 phải
chạy sát nhau hơn » . Đây là chuyện không có. Sự thật, trong trận
chiến HQ-16 tiến một hướng, HQ-10 tiến hướng khác để vào lòng chảo
quần đảo Hoàng Sa chứ không tiến cùng một hướng. Từ đầu đến cuối
trận chiến , HQ-10 đã làm đúng những gì tôi nói với Hạm trưởng HQ-10
tối hôm 18 tháng 1 năm 1974 trước ngày khai chiến 19 tháng 1 năm1974.
Ông Dân nói việc các chiến hạm hải hành tập đội để
phô trương lực lượng là hoàn toàn không có. Đã đi đánh trận mà còn
phô trương lực lượng thì không còn gì ngớ ngẩn bằng.
Ông Dân nói HQ-4 dùng mũi tàu để ủi tàu Trung Cộng
ra xa đảo Hoàng Sa là chuyện không đúng sự thật và cũng không thể
nào làm như vậy được. Cũng như phóng đồ kế hoạch điều quân của ông
Dân cho thấy HQ-4 và HQ-5 tiến vào lòng chảo để tác chiến cũng là
không thật nữa. Hướng tiến quân của HQ-4, HQ-5 vào lòng chảo chính
là hướng tiến quân của HQ-10. Ông Dân đưa thêm HQ-4, HQ-5 vào cho
đủ bộ thành trật lất. Sự thật là HQ-4 và HQ-5 chỉ ở vòng ngoài chứ
không tham dự trận chiến trong lòng chảo.
Nếu HQ-4 và HQ-5 có mặt trong lòng chảo thì khi HQ-16
và HQ-10 bị trúng đạn thì HQ-4 và HQ-5 làm gì không thấy ông Dân
nói đến !
Trên đây là các điểm tôi muốn đính chính về bài viết
của Trung úy Đào Dân. Và sau đây là những gì xảy ra trong trận chiến
mà tôi đã chứng kiến. Trước khi nói đến trận đánh, tôi xin sơ lược
về quần đảo Hoàng Sa.
Quần đảo Hoàng Sa (gọi chung là Paracels) cách bờ
biển Đà Nẵng 180 hải lý về phía đông. Như quí vị thấy trong bản
đồ, quần đảo Hoàng Sa gồm một số đảo ghi trong bản đồ quây quần
nhau làm thành một lòng chảo, muốn vào bên trong lòng chảo đó phải
theo hai lộ trình mà chúng tôi thường gọi là cái « pass ». Một cái
ở giữa đảo Hoàng Sa và đảo Cam Tuyền. Cái kia ở giữa bãi đá ngầm
Antelope và đảo Quang Hòa.
Bản đồ này tỷ lệ xích quá nhỏ nên các đảo chỉ bằng
lóng tay hay chỉ là những dấu chấm. Hoàng đảo Hoàng Sa không chỉ
có bấy nhiêu đảo trong bản đồ mà còn một số đảo khác nữa nằm rải
rác ở phía đông bắc. Những đảo trong bản đồ là những đảo tận cùng
phía nam của quần đảo Hoàng Sa. Nhìn vào bản đồ, quí vị thấy các
đảo rời nhau, có khoảng trống ở giữa, những tàu bè không chạy qua
được vì đá ngầm và san hô ở dưới mặt nước, chỉ ra vào lòng chảo
bằng hai cái « pass » tôi nói ở trên.
Quần đảo Hoàng Sa có đảo lài, có đảo cao nhưng cũng
chỉ cao hơn mặt biển chừng vài chục thước. Các đảo phần nhiều trơ
trụi, hiếm có cây cao, toàn đá lởm chởm, chỗ cao chỗ thấp, ít có
nơi bằng phẳng. Gần bờ thì có đá ngầm, san hô. Hết đá ngầm, san
hô thì biển rất sâu. Đáy biển cũng có đá nên neo tàu không an toàn.
Quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa không thể lập căn cứ hải quân
được vì không có chổ ẩn núp cho tàu bè, chỉ có thể lập căn cứ trên
đảo mà thôi.
Tất cả các đảo đều không có nước ngọt, trừ đảo Hoàng
Sa mà chúng tôi thường gọi là « đảo khí tượng » vì có đài khí tượng
do người Pháp thiết lập và sau này luôn luôn có nhân viên khí tượng
Việt Nam làm việc cho đến ngày trận chiến Hoàng Sa xảy ra. Người
Pháp xây một hồ chứa nước bên trong nhà, có các máng xối hứng nước
mưa chuyền vào bên trong hồ chứa để dùng cho cả năm.
Trên đảo Hoàng Sa mấy năm đầu tiên có một trung đội
Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ. Về sau vì nhu cầu chiến trận, Thủy
Quân Lục Chiến phải rời đảo và được thay thế bởi Địa Phương Quân
của tiểu khu Quảng Nam. Họ phải ở trên đảo Hoàng Sa vì chỉ đảo này
mới có nước ngọt. Thủy Quân Lục Chiến hay Địa Phương Quân đều được
trang bị xuồng cao su để di chuyển quanh các đảo mà kiểm soát.
Sau khi biết tổng quát vị trí các đảo, quí độc giả
có thể theo dõi diễn tiến trận chiến Hoàng Sa sau đây. Tôi cũng
xin thưa trước là những gì xảy ra tôi không nhớ chính xác giờ giấc,
chỉ phỏng chừng. Nhưng những sự kiện thì xác thực. Ngày giờ và sự
kiện xảy ra đều có ghi trong «nhật ký hải hành» và «nhật ký chiến
hạm» nhưng nay không có thể tham khảo được.
Ngày 15 tháng 1 năm 1974 tàu tôi, HQ-16, được lệnh
ra công tác đảo Hoàng Sa, chở theo một cố vấn Mỹ và một Thiếu tá
bộ binh thuộc Quân đoàn 1 (mà nay tôi không còn nhớ tên).
Tàu khởi hành tối ngày 15 tháng 1 năm 1974 và đến
Hoàng Sa sáng 16 tháng 1 năm 1974. Khi đến nơi, Địa Phương Quân
trên đảo thấy tàu đã lái xuồng ra đón viên Thiếu tá Bộ binh lên
đảo. Trong khi chờ đợi đưa Thiếu tá Bộ binh về lại Đà Nẵng, tôi
vận chuyển tàu rời đảo Hoàng Sa ra biển, thả trôi tàu gần đảo Quang
Hòa. Tôi lấy ống nhòm nhìn lên các đảo chung quanh để ngắm nhìn
phong cảnh và tiêu khiển thì giờ.
Khi nhìn lên đảo Quang Hòa thì thấy có một dãy nhà
sườn gỗ còn đang xây cất dở dang, chỉ có sàn nhà, chưa có mái. Tôi
thấy lạ, liền gọi máy về Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải (BTL/HQ/VIZH)
hỏi thì nơi đây hỏi lại tôi là có biết người nào trên đó không?
Tôi trả lời chỉ thấy bốn, năm người di chuyển tới lui nơi dãy nhà
đang xây cất chứ không biết là ai. Họ ăn mặc thường dân, có người
ở trần, nhưng có nhà xây cất thì chắc là người ngoại quốc mà không
ai khác hơn là Trung Cộng, vì cách đảo Quang Hòa chừng 20 hải lý
về phía đông bắc có căn cứ của Trung Cộng, cũng nằm trong quần đảo
Hoàng Sa.
HQ-16 vẫn thả trôi tàu để chờ Thiếu tá Bộ binh và
chờ lệnh từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải.
Trưa ngày 16 tháng 1 năm 1974 một chiến hạm Trung
Cộng xuất hiện trong vùng.
Tối ngày 17 tháng 1 năm 1974 Bộ Tư Lệnh Hải Quân
gởi ra một toán người nhái do HQ-4 chở ra. Toán người nhái này rời
HQ-4 bằng xuồng cao su để lên HQ-16.
Sáng ngày 18 tháng 1 năm 1974 HQ-5 và HQ-10 có mặt
ở khu vực Hoàng Sa. Đại tá Hải quân Hà Văn Ngạc ở trên HQ-5 là người
chỉ huy cuộc chiến.
HQ-5 do Trung tá Phạm Trọng Quỳnh (khoá 11) chỉ huy.
HQ-16 do tôi, Trung tá Lê văn Thự (khoá 10) chỉ huy.
HQ-4 do Trung tá Vũ Hữu San (khoá 11) chỉ huy.
HQ-10 do Thiếu tá Ngụy Văn Thà (khoá 12) chỉ huy.
Khoảng 10 giờ sáng ngày 18 tháng 1 năm 1974 Đại tá
Hà Văn Ngạc ra lệnh cho tôi đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa,
sau đó cho toán người nhái đổ bộ lên đảo Quang Hòa và một toán của
HQ-16 lên giữ đảo Vĩnh Lạc.
Sau khi đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa, tôi
vận chuyển HQ-16 bên trong lòng chảo để đến gần đảo Quang Hòa đổ
bộ toán người nhái lên đảo thì một tàu Trung Cộng xuất hiện, cản
trước mũi, không cho tàu tôi tiến gần đến đảo (xin xem hình 1).
Tôi phải ngưng máy, vận chuyển để tránh đụng tàu.
Nhưng cả hai tàu cũng cọ vào nhau làm dẹp một số trụ căng dây an
toàn chung quanh tàu Trung Cộng và làm rách bè nổi của tàu Trung
Cộng. Nhờ xáp lại gần, tôi thấy tàu Trung Cộng số hiệu 271, dài
chừng 70 mét, có súng tương đương với súng 76.2 ly, 40 ly, 20 ly
và đại liên 12.7 của tàu tôi. Tàu Trung Cộng nhỏ hơn tàu tôi nhưng
vận chuyển nhanh nhẹn hơn.
Tôi báo cáo với Đại tá Ngạc những gì xảy ra. Sau
đó tôi lái tàu ra khỏi lòng chảo và đổ bộ toán người nhái vào mặt
ngoài biển (mặt nam) của đảo Quang Hòa vào chiều ngày 18 tháng 1
năm 1974.
HQ-16 chỉ ở cách xa bờ một, hai hải lý rồi người
nhái thả xuồng cao su có trang bị máy mà chạy vào bờ chứ HQ-16 không
thể vào sát bờ được vì đá ngầm và san hô. Toán người nhái rời tàu
chừng non một tiếng thì gọi máy báo cáo là ở trong bờ bắn ra. Tôi
hỏi người liên lạc máy là có thấy người ở trên bờ không và các anh
đã lên được bờ chưa? Họ trả lời là đang lội nước ngang ống chân,
còn vài chục thước nữa mới tới bờ. Họ cũng cho biết là không thấy
người trên bờ.
Vài phút sau thì nghe báo cáo là một Thiếu úy người
nhái bị bắn chết. Họ xin rút lui vì không thể vào bờ an toàn được.
Tôi báo cáo với Đại tá Ngạc và xin cho người nhái rút lui. Toán
người nhái đã trở về lại HQ-16.
Chiều ngày 18 tháng 1 năm 1974, khoảng 6 giờ, Đại
tá Ngạc gọi máy cho tôi và ra lệnh cho tôi chỉ huy HQ-10, bằng mọi
giá phải đổ bộ cho được toán người nhái lên đảo Quang Hòa. Sau khi
đại tá Ngạc ra lệnh này xong, thì từ đó về sau tôi không còn nghe
lệnh lạc gì thêm từ Đại tá Ngạc nữa.
Đến tối ngày 18 tháng 1 năm 1974 máy liên lạc âm
thoại giai tần đơn bị Trung Cộng phá rối tần số, không liên lạc
được. Tôi không thể gọi Đại tá Ngạc, HQ-4 hay bộ tư lệnh Hải Quân
Vùng I Duyên Hải. Tôi chỉ liên lạc được với HQ-10 bằng máy PRC-45
là loại máy truyền tin xách tay, chỉ liên lạc được trong vòng 10
hải lý.
Sau khi nhận lệnh, tôi nghĩ chỉ còn cách đổ bộ toán
người nhái vào ban đêm mới may ra lên được đảo, nhưng chưa chắc
toán người nhái đã vào trót lọt được vì có thể tàu Trung Cộng theo
dõi và liên lạc chỉ điểm cho người của họ trên đảo canh chừng để
bắn khi người nhái vào bờ. Ngoài ra thức ăn, nước uống không có,
làm sao toán người nhái có thể hoạt động lâu hơn một ngày được,
và ít nhất cũng phải có một tiểu đội hay trung đội Thủy Quân Lục
Chiến đổ bộ gần bờ yểm trợ cho toán người nhái khi họ rút lui nếu
bị phát hiện hay khi gặp lực lượng địch mạnh hơn. Vì thế, muốn thi
hành lệnh của Đại tá Ngạc, tôi nghĩ chỉ còn cách là phải tiêu diệt
tàu Trung Cộng trước rồi mới tính chuyện đổ bộ người nhái lên đảo
sau.
Lúc này phía Trung Cộng xuất hiện thêm hai chiếc
tàu nữa cùng loại với chiếc đã có trước.
Tôi gọi Thiếu tá Thà HQ-10 và nói ý định của tôi:
Đêm nay HQ-16 và HQ-10 ra thật xa đảo, làm tối chiến hạm (không
cho ánh sáng lọt ra ngoài) để tàu Trung Cộng không biết chúng tôi
ở đâu. Sáng mai (19 tháng 1 năm 1974) sẽ tiến vào lòng chảo. HQ-16
vào cái “pass” gần đảo Hoàng Sa, HQ-10 vào cái “pass” gần đảo Quang
Hòa (xin xem hình 2).
Tôi cũng nói với Thiếu tá Thà là anh cũng như tôi,
phải cố gắng hết sức mình. Nếu một trong hai đứa mà loạng quạng,
chỉ còn lại một, thì bọn chúng (ba chiếc tàu Trung Cộng) xúm lại,
mình không thể nào chống nổi.
Đêm hôm đó (18 tháng 1 năm 1974) khoảng nửa đêm,
tôi tập họp thủy thủ đoàn HQ-16 để thông báo ngày mai sẽ tiến vào
đánh tàu Trung Cộng. Tôi cũng nói với thủy thủ đoàn là tất cả mọi
người phải can đảm, cố gắng hết sức mình, ai làm phần việc của mình
cũng phải nhanh nhẹn, chính xác mới mong thắng và còn sống. Nhất
là các ổ súng và toán phòng tai phải lo chuẩn bị trước, xem xét
lại súng ống, đạn nước phải đem từ hầm đạn lên để sẵn ở các ụ súng,
ống nước cứu hoả phải trải sẵn ra. Máy bơm nước phải sẵn sàng.
Sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974 HQ-16 và HQ-10 tiến
vào lòng chảo như dự định.
Tôi gọi máy cho Thiếu tá Thà và nói là nếu chừng
nào thấy tôi khai hỏa là phải khai hỏa theo liền.
Khi HQ-16 và HQ-10 qua khỏi hai cái “pass” và vừa
tầm súng, tôi quay ngang tàu HQ-16 đưa phía hữu hạm của HQ-16 hướng
về ba tàu Trung Cộng. Mục đính của tôi là để tận dụng tất cả súng
từ mũi ra sau lái. Nếu hướng mũi tàu về phía tàu Trung Cộng thì
chỉ sử dụng được hỏa lực ở phía trước mũi thôi.Với lợi thế sử dụng
tối đa hỏa lực nhưng cũng có cái bất lợi là hứng đạn của địch nhiều
hơn. Nhưng vì tôi đánh phủ đầu tàu Trung Cộng nên phải sử dụng tối
đa hỏa lực. So với tàu Trung Cộng, tàu tôi có đủ loại súng tàu Trung
Cộng có, ngoài ra còn có thêm khẩu 127 ly mà tàu Trung Cộng không
có. HQ-10 chỉ có hỏa lực ngang bằng tàu Trung Cộng.
Khi đang tiến vào lòng chảo, tôi đã mừng thầm khi
thấy ba tàu Trung Cộng đều ở trong lòng chảo, tức là những mục tiêu
tốt cho HQ-16 và HQ-10 tác xạ. Nếu chúng ở rải rác, chiếc trong
chiếc ngoài lòng chảo thì tôi cũng chưa biết tính sao vì tàu Trung
Cộng tuy nhỏ nhưng linh động hơn, nếu chúng ra ngoài biển thì khó
bắn trúng hơn vì nó nhỏ và chạy nhanh, còn tàu tôi lại là mục tiêu
tốt cho tàu Trung Cộng vì to con nên nặng nề, chậm chạp nên dễ lãnh
đạn hơn. Nhưng nay thì cả ba tàu địch bị vây trong vòng chảo vì
hai cái “pass” đã bị HQ-16 và HQ-10 chặn rồi.
Khi đã ở đúng vị trí và vị thế dự định (xin xem hình
2), HQ-16 cách HQ-10 chừng một hải lý, hai tàu HQ-16 và HQ-10 cách
ba tàu Trung Cộng từ 3 đến 4 hải lý, tôi ra lênh lần chót: các ổ
súng phải luôn luôn theo dõi mục tiêu, mục tiêu nào thuận lợi thì
bắn mục tiêu đó. Sau khi hỏi tất cả các ổ súng đã sẵn sàng chưa,
tôi ra lệnh khai hỏa.
HQ-16 và HQ-10 đứng yên một chỗ còn ba tàu Trung
Cộng di chuyển loanh quanh sát vòng cung lòng chảo gần đảo Duy Mộng
và bắn trả chúng tôi.
Tôi hy vọng trong 5,10 phút là triệt hạ được tàu
Trung Cộng vì khai hỏa trước và sử dụng tối đa hỏa lực trong khi
tàu Trung Cộng bị tấn công bất ngờ vì ngày hôm trước, tàu tôi bị
họ chặn, tôi bỏ đi mà không có gì xảy ra nên họ không ngờ rằng tôi
sẽ tấn công họ.
Mười phút trôi qua mà chưa thấy tàu Trung Cộng hề
hấn gì, tôi bắt đầu sốt ruột, trong khi đó tôi nghe tiếng lách tách,
lép bép trên trời như tiếng pháo bông, giữa tàu tôi và HQ-10 và
về phía HQ-10 nhiều hơn. Tôi nghĩ chắc là đạn thời chỉnh tức là
đạn tự động nổ mà không cần chạm mục tiêu. Trận chiến vẫn tiếp tục.
Chừng khoảng phút thứ 20 hay 30, tôi thấy một tàu Trung Cộng bốc
khói, một tàu khác có thể bị trúng đạn làm hư hệ thống tai lái nên
tàu cứ xoay quanh như gà trống chạy lòng vòng trước khi đạp mái.
Tiếp đến HQ-10 báo cáo Hạm trưởng bị thương. Tôi
ra lệnh Hạm phó lên thay quyền chỉ huy, đồng thời đặt ống nhòm nhìn
sang HQ-10 tôi thấy một ngọn lửa nhỏ cháy ở đài chỉ huy có thể dập
tắt được bằng bình CO2 mà sao không ai làm. Quan sát phía sau lái
HQ-10 tôi thấy 4, 5 cái đầu nhấp nhô trên mặt biển. Tôi không biết
chuyện gì xảy ra trên HQ-10 vì không nghe báo cáo gì thêm. Tôi đoán
chừng vì Hạm trưởng bị thương nặng nên HQ-10 như rắn mất đầu. Một
số nhỏ nhát gan sợ tàu cháy hay trúng đạn nổ nên đã nhảy xuống biển.
Nhưng HQ-10 vẫn nổi bình thường, thăng bằng, không nghiêng một chút
nào cả.
Sau đó hầm máy hữu HQ-16 báo cáo trúng đạn ở lườn
tàu dưới mặt nước. Nước tràn vào tàu.Trung sĩ điện khí Xuân bị thương.
Nhân viên cứu hỏa tìm cách bít lỗ thủng. Chừng vài phút sau, tàu
bắt đầu nghiêng. Hầm máy báo cáo lỗ thủng bít không được vì nước
vào quá mạnh, chỗ thủng nằm trong kẹt không có chỗ cho nhân viên
cứu hỏa xử dụng đà chống để chặn tấm bố và tấm gỗ bít lỗ thủng.
Nước ngập đến đầu gối. Tôi ra lệnh nếu không bít được lỗ thủng thì
đóng nắp hầm máy lại đừng cho nước chảy ra khỏi hầm máy. (Tôi nhớ
hầm máy hữu trúng đạn mà trong bài viết của ông Dân thì lại viết
là hầm máy tả !).
Tàu chỉ còn một máy tả và một máy điện, phòng vô
tuyến liên lạc truyền tin bị gián đoạn vì mất điện. Nhận thấy tình
thế không thể tiếp tục chiến đấu được nữa, tôi vận chuyển tàu quay
trở ra theo cái “pass” đẻ rời lòng chảo.
Tàu mỗi lúc một nghiêng thêm (trên 10°) và chỉ còn
một máy nên vận chuyển rất khó khăn. Hầm máy hữu báo cáo nhân viên
phải rời hầm máy vì tàu sắp chìm.
Thấy độ nghiêng của tàu đến mức gần hết độ an toàn,
có thể tàu sẽ lật, nên tôi ra lệnh: toàn thể nhân viên vào nhiệm
sở đào thoát vì sợ họ không còn thì giờ đào thoát kịp. Ra lệnh xong,
tôi nắm lấy tay lái tiếp tục lái thay cho nhân viên ra nhiệm sở.
Trong khi tôi đang lái thì Đại úy Hiệp, cơ khí trưởng,
chạy lên đài chỉ huy, nói với tôi: “Vì sao hạm trưởng cho nhiệm
sở đào thoát? Tôi đang ráng làm cân bằng tàu”. Tôi nói là tàu mỗi
lúc một nghiêng thêm, không biết sẽ lật chìm lúc nào nên phải chuẩn
bị đào thoát.
Lúc này tàu nghiêng đã đến độ bão hòa (không nghiêng
thêm nữa) vì nước đã vào đầy hầm máy. Tôi cho giải tán nhiệm sở
đào thoát và vào lại nhiệm sở tác chiến. Lúc này ở đài chỉ huy có
Trung úy Đoàn Viết Ất, tôi nói với Trung úy Ất: “Tàu nghiêng như
thế này, khó mà lái ra biển an toàn được, chắc tôi phải ủi tàu vào
đảo khí tượng (đảo Hoàng Sa) để cố thủ và chờ HQ-4, HQ-5 tiếp viện”.
Trung úy Ất nói với tôi: “Xin Hạm trưởng đừng ủi
tàu vào đảo khí tượng. Mình sẽ bị Trung Cộng bắt làm tù binh. Làm
tù binh Trung Cộng thì kể như chết rục xương trong tù, không còn
thấy cha mẹ, vợ con, quê hương xứ sở. Xin Hạm trưởng cứ lái ra biển.
Tàu có chìm thì đào thoát vẫn còn cơ may sống sót. Nếu chết thì
chết trên biển vẫn sướng hơn”.
Bây giờ viết lại câu nói này của Trung úy Ất tôi
vẫn còn xúc động đến chảy nước mắt. Nghe Trung úy Ất nói, tôi suy
nghĩ thêm: Nếu tôi cứ ủi vào đảo khí tượng thì cũng không thể nào
ủi sát vào bờ được vì gần bờ đá ngầm rất nhiều. Nếu ủi, tàu sẽ mắc
cạn, lườn tàu sẽ bị đá ngầm rạch nát, nước sẽ vào thêm, tàu sẽ hoàn
toàn tê liệt mà thủy thủ đoàn cũng không thể nào lên đảo được. Do
đó tôi tiếp tục lái tàu ra khỏi “pass” đồng thời ra lệnh nhân viên
hướng súng về đằng sau và về phía quần đảo Hoàng Sa canh chừng tàu
Trung Cộng truy kích theo.
Khi rời Hoàng Sa, tôi hết sức ân hận đã bỏ lại trên
đảo một toán nhân viên 8 người do Trung úy Liêm chỉ huy khi có lệnh
đưa nhân viên lên giữ đảo. Trung uý Liêm và toán nhân viên sau đó
đã mạo hiểm vượt biển bằng bè vì không muốn Trung Cộng bắt làm tù
binh. Sau hơn mười ngày lênh đênh trên biển, bè trôi về tận ngoài
khơi Qui Nhơn, được ngư phủ cứu và đưa vào bệnh viện Qui Nhơn cấp
cứu. Họ vượt biển mà không chuẩn bị thức ăn nước uống nên Hạ sĩ
quản kho Nguyễn Văn Duyên đã chết vì kiệt sức khi đưa vào Qui Nhơn.
Ra khỏi “pass” tôi hướng tàu về Đà Nẵng, lúc này
khoảng 5 - 6 giờ chiều ngày 19 tháng 1 năm 1974. Tàu chỉ còn một
máy và nghiêng nên chạy chậm. Khi trời bắt đầu tối, tàu cách Hoàng
Sa chừng 15 hải lý. Lúc này tôi mới thở ra nhẹ nhõm vì chắc tàu
Trung Cộng cũng bị thương tích cả người lẫn tàu nên không truy kích
tàu tôi.
Bây giờ mối lo khác lại đến với tôi là tàu có thể
lật chìm bất cứ lúc nào nếu có sóng chếch xuôi rất dễ làm tàu lật.
Tôi cho nhân viên chuẩn bị các bè nổi, xem xét lại cách xử dụng
để khi hữu sự thì làm cho nhanh chứ khi tàu lật thì không có thì
giờ mà mò mẫm.
Lúc này hệ thống truyền tin vừa được sửa chữa xong.
Nhân viên vô tuyến báo cáo tình trạng chiến hạm về Bộ Tư lệnh Hải
Quân Vùng I Duyên Hải, nhưng không thấy HQ-4 và HQ-5 lên tiếng.
Một tin làm bàng hoàng mọi người trên chiến hạm là
Trung sĩ Điện khí Xuân trút hơi thở cuối cùng vì vết thương quá
nặng mà không được săn sóc đúng mức.
Đại úy Hiệp mang họa đồ chiến hạm các khoang hầm
trên tàu lên đài chỉ huy cho tôi biết đã làm cân bằng tàu bằng cách
bơm nước và dầu từ hầm này sang hầm khác và dồn về phía tả hạm,
nhưng tàu cũng không bớt nghiêng bao nhiêu. Đại úy Hiệp nói: “Bây
giờ chỉ còn cách bơm xả nước ngọt và dầu ra biển may ra mới làm
tàu bớt nghiêng”. Xả nước ngọt và dầu ra biển thì tôi rất ngại mà
cũng không chắc là khi xả xong tình trạng có khá hơn không hay lại
tệ hơn vì phải biết trọng tâm con tàu trước và sau khi xả nằm ở
đâu rồi mới dám làm.
Học môn lý thuyết thuyền bè trong trường Hải Quân
nhưng ra trường lâu ngày và gặp lúc hữu sự, lại không còn nhớ cách
tính trọng tâm con tàu nên tôi không dám bảo Đại úy Hiệp làm và
giữ nguyên tình trạng như vậy mà chạy về Đà Nẵng. Cũng may nhờ biển
rất êm nên không có gì xảy ra.
Sáng 20 tháng 1 năm 1974, khoảng 7 - 8 giờ, tàu vào
vịnh Tiên Sa Đà Nẵng nhưng tôi không vận chuyển cặp cầu được. Bộ
Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải phải xin tàu dòng từ Ty Thương
Cảng Đà Nẵng, kẹp ngang hông HQ-16 mà cặp cầu quân cảng Đà Nẵng.
Cặp cầu xong, Thủy xưởng Đà Nẵng sang bơm dầu, nước
ngọt ra, làm nhẹ tàu cho tàu nổi lên rồi tìm cách bít tạm lỗ thủng
dưới nước (do người nhái lặn xuống nước mà bít, tôi nhớ như vậy
không biết có đúng không?). Sau đó bơm nước ngập hầm máy ra và hàn
lại lỗ thủng ở hầm máy.
Ngày hôm sau, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải
xin toán tháo gỡ đạn dược từ Quân đoàn I sang để tháo gỡ viên đạn
còn nằm lại trên tàu. Viên đạn được bắn vòng cầu, rơi xuống nước
gần HQ-16, do tốc độ của viên đạn nên khi xuống nước gặp sức cản
của nước, viên đạn không đi thẳng xuống nước mà bị lệch hướng rồi
đâm vào lườn tàu HQ-16 dưới mặt nước. Viên đạn vẫn còn tốc độ di
chuyển, xướt qua một góc máy điện, xuyên đứt tay Trung sĩ điện khí
Xuân kế đó rồi chui vào kho điện khí ở một góc hầm máy và nằm ở
đó. May là viên đạn không nổ, chứ nổ thì HQ-16 chìm tại chỗ!
Lấy được viên đạn ra, toán tháo gỡ đạn dược ngạc
nhiên cho biết rằng viên đạn “made in USA” và cỡ 127 ly. Sau này
truy ra mới biết là đạn do HQ-5 bắn.
Sau khi sửa chữa xong, sơn phết lại, làm sạch sẽ,
chiến hạm HQ-16 được lệnh về Sài Gòn làm lễ tiếp đón chiến hạm trở
về từ Hoàng Sa. Phần thượng tầng kiến trúc của chiến hạm bị lỗ chỗ
các lỗ thủng do đạn 40 ly và 20 ly bắn vào vẫn để y nguyên, mục
đích cho dân chúng Sài Gòn ai tò mò muốn xem chiến hạm dự trận Hoàng
Sa về ra sao, khi lên tàu xem sẽ thấy dấu tích còn để lại trên tàu.
Tàu cặp cầu B ở bến Bạch Đằng.
Trong buổi lễ tiếp đón, tôi cùng 4 - 5 nhân viên
được Tư Lệnh Hải quân gắn huy chương. Sau buổi lễ dân Sài Gòn được
lên xem tàu.Và phóng viên BBC là ông Tôn Thất Kỳ phỏng vấn tôi.
Ông hỏi tôi có thấy máy bay phản lực Trung Cộng dự chiến trong trận
Hoàng Sa không? Tôi trả lời là tôi không thấy.
Ngày hôm sau, Khối Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh
Hải Quân (lúc đó Đại tá Trần Văn Triết làm trưởng khối thì phải),
phái một Thiếu úy hay Trung úy (mà tôi không nhớ tên hay cấp bậc),
xuống HQ-16. Anh ta nói với tôi “Tại sao Hạm trưởng trả lời phỏng
vấn đài BBC là không thấy phản lực cơ Trung Cộng?”
Tôi trả lời vị sĩ quan đó: “Anh về nói lại trên Bộ
Tư Lệnh là tôi không thấy nên tôi trả lời không có. Nếu Bộ Tư Lệnh
muốn tôi nói có thì phải báo trước cho tôi biết”.
Tôi nghĩ nguồn tin này do Đại tá Ngạc báo cáo về
Bộ Tư Lệnh Hải Quân nên Bộ Tư Lệnh Hải Quân muốn tôi trả lời phỏng
vấn cho phù hợp với nguồn tin. Cũng như Đại tá Ngạc báo cáo về Bộ
Tư Lệnh Hải Quân: HQ-10 và HQ-16 mất tích.
Lúc HQ-16 về Sài Gòn, tôi nghe nói lại (không biết
có đúng không) là khi nhận được tin HQ-16, HQ-10 mất tích, Đại tá
Võ Sum, Trưởng khối Truyền tin Hải quân, đã dùng con lắc (một loại
dụng cụ cảm ứng) để xem thử HQ-16 còn hay mất. Tôi không nghe nói
kết quả của việc dùng con lắc này.
2004-04-28 11:57:30
|