Toán
Biệt Hải đổ bộ lên đảo Hoàng Sa
trong
cuộc hải chiến ngày 19-1-1974
18 tháng 2 năm 2008
Ðể
tưởng nhớ Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng và các anh linh chiến sĩ VNCH
đã tử trận trong cuộc hải chiến Hoàng Sa.
Cuộc hải chiến Hoàng Sa đến nay đã
trên 33 năm với thời gian và tuổi tác có khi người viết đã không
còn nhớ hết được tất cả sự việc xảy ra lúc đó. Kính mong quí hạm
trưởng và những người tham dự sẵn lòng bỏ qua. Ðồng thời xin được
bổ sung những điều còn thiếu sót trong bài viết.
Phần I: Tường thuật của Biệt
Hải Nguyễn Châu
Sau khi chương trình Việt Nam hóa
chiến tranh được thành hình thì Trung Ðội Dân Sự Chiến Ðấu đóng
ở trên đồi Hoa Sim được giải tán. Trung Ðội này trước đây chuyên
lo phụ trách về vấn đề phòng thủ an ninh những nơi như Bộ Chỉ Huy
Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVDH/NKT/BTTM), Căn Cứ Trần Hưng Ðạo của
Lực Lượng Hải Tuần và Trại 9 của Lực Lượng Biệt Hải (còn gọi là
Blackrock). Ðồi Hoa Sim sau đó được chuyển giao cho các toán Biệt
Hải, còn Trại 9 của Biệt Hải ở Sơn Trà thì được Bộ Chỉ Huy Biệt
Hải bàn giao lại cho các Chiến Ðoàn Công Tác, thuộc Nha Kỹ Thuật/BTTM
trú đóng.
Từ trong ngã ba Tiên Sa (Ðà Nẵng)
đi ra, vừa qua khỏi trạm gác Ðài Kiểm Báo Không quân (còn gọi là
Cầu Trắng) là trông thấy căn cứ Ðồi Hoa Sim, được đặt trên một mỏm
núi khá thấp, nằm về bên phải và cách Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I
Duyên Hải của Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại một con đường. Trước đây,
Phó Ðề Ðốc Thoại đã từng là Chỉ Huy Trưởng của Sở Phòng Vệ Duyên
Hải khi còn ở cấp bậc đại tá. Trái ngược với một số tin tức bên
ngoài đơn vị cho rằng Lực Lượng Biệt Hải (LLBH) đã được giải thể
khi Hoa Kỳ rút quân về nước năm 1972, thực tế đã cho chúng ta thấy
rằng sau khi được dời về trú đóng trên Ðồi Hoa Sim, các công tác
hoạt động của Lực Lượng Biệt Hải vẫn còn tiếp tục và trực thuộc
Sở Phòng Vệ Duyên Hải/Nha Kỹ Thuật cho đến ngày cuối cùng. Bằng
chứng là sau ngày đi công tác Hoàng Sa về ngày 10-4-1974, tôi nhận
được văn thư của Sở mang số 0259/TTM/NKT/SPVDH/CTCT, tuyển chọn
tôi (Nguyễn Châu) trong số 132 chiến sĩ xuất sắc nhất của QLVNCH
trên toàn quốc để về thủ đô Sài Gòn tham dự ngày Quân Lực 19-6-1974.
Trở
lại việc Biệt Hải tham chiến Hoàng Sa, trong thời gian tôi đang
nghỉ phép vào một buổi sáng đẹp trời thì nhận được lệnh từ Bộ Chỉ
Huy Biệt Hải nhắn, cho biết phải cấp tốc trở về trình diện đơn vị
gấp để chuẩn bị đi công tác. Kinh nghiệm trước đây cho tôi biết
mỗi lần được gọi khẩn cấp như thế này thường là những công tác hết
sức khó khăn, chẳng hạn như chuyến đi cứu các phi công Hoa Kỳ bị
bắn rơi tại sông Cam Lộ, Quảng Trị-Ðông Hà vào tháng 4 năm 1972
trong Mùa Hè đỏ lửa. Lúc đó, toán của tôi chỉ có năm, sáu người
nhưng đã phải len lỏi qua mặt mấy Sư Ðoàn Bắc Việt đi vào địa điểm
công tác để đưa được hai phi công Hoa Kỳ trở ra an toàn, mãi cho
đến nay vẫn còn hú vía! Sau khi nhận được tin lòng tôi cứ thấp thỏm
suy nghĩ, không biết chuyện gì đã xẩy ra? Tôi vội mang quần áo,
hôn phớt các con rồi từ giã bà xã lặng lẽ ra xe. Khi vào đến trại
thì mới biết anh em trong toán đang chuẩn bị súng đạn xuống tàu
để ra công tác Hoàng Sa trong vài giờ tới.
Chuyến đi này tổng cộng có 24 nhân
viên Biệt Hải, trong số đó có Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải Thiếu Tá Hồ
Xuân T., Trưởng Toán Nguyễn N. và tôi, toán phó kiêm tiền sát viên
toán, tất cả đều trang bị toàn súng AK-47. Ngoài ra, mỗi người còn
được phép mang thêm mấy khẩu M-72. Ðược biết chiếc HQ-4 Trần Khánh
Dư sẽ phụ trách chở toán Biệt Hải của chúng tôi tới địa điểm công
tác. Trong khi toán nhận lệnh đi Hoàng Sa thì tôi không có mặt ở
trong trại. Do đó, trước khi sắp sửa lên xe, tôi được Chỉ Huy Trưởng
T. và Trưởng Toán N. cho biết sơ qua tình hình trên các hải đảo
thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ðược biết trên các hải đảo này hiện đang
có một Trung đội Ðịa Phương Quân và một số chuyên viên khí tượng
của VNCH trú đóng. Lần này, toán Biệt Hải nhận lệnh đổ bộ để lấy
lại chủ quyền và kiểm soát các vị trí trên đảo, nơi đang có những
đơn vị của Hải Quân Trung Cộng chiếm giữ.
Chiếc Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4
do Hạm Trưởng Vũ Hữu San được lệnh khởi hành, rời bến tàu Bộ Tư
Lệnh Vùng I Duyên Hải vào sáng sớm hôm đó. Ðến xế chiều thì vị trí
của tàu không còn cách xa hải đảo Hoàng Sa là bao. Nghĩa là hiện
chiếc HQ-4 đang nằm trong phạm vi của nhóm đảo Cam Tuyền và Quang
Hòa. Vào buổi chiều cùng ngày, 17 tháng Giêng năm 1974, Khu Trục
Hạm HQ-4 đã bắt gặp 2 giang thuyền của Hải Quân Trung Cộng, đang
giả dạng làm các ghe thuyền đánh cá. Trên đài chỉ huy, Hạm Trưởng
liền cho tàu chạy đến gần để tìm cách kiểm soát. Trong khi đó toán
Biệt Hải cùng một số thủy thủ, tất cả đứng trên thành tàu chăm chú
theo dõi đều nhận thấy 2 giang thuyền Trung Cộng có nhiều điểm đáng
nghi ngờ. Ngay lúc đó, Ðài Chỉ Huy trên HQ-4 phóng loa kêu gọi 2
giang thuyền Trung Cộng ngừng lại nhưng họ vẫn tỉnh khô và phớt
lờ! Trong ý tưởng của anh em Biệt Hải lúc ấy rất muốn được cấp trên
cho phép nhảy xuống để làm phận sự lục soát các giang thuyền này,
tương tự như những chuyến Loky soát ghe bắt người tại vịnh Bắc Việt
trước đây.
Lúc này, chiếc HQ-4 và một chiếc giang
thuyền của Trung Cộng đều đã chạy chậm lại, khoảng cách cuối cùng
cách nhau không quá một thước! Tuy nhiên, lệnh của Hạm Trưởng không
cho anh em nhảy xuống tầu Trung Cộng lục soát. Bất thình lình, một
con sóng lớn ập đến khiến hai chiếc tàu húc mạnh vào nhau. Chiếc
tầu của Trung cộng thấp hơn nên lan can tầu của chúng bị hư hại
khá nặng. Do đó, các thủy thủ Trung Cộng dưới tàu nổi nóng, một
số xắn cao tay áo, còn một số thì cởi hẳn áo ra vất xuống sàn tàu,
ra dấu thách thức thủy thủ và toán Biệt Hải chúng tôi nhảy xuống
đánh tay đôi với chúng. Ðứng trên tàu, toán Biệt Hải thấy vậy liền
cởi áo và kêu gọi đám thủy thủ Trung Cộng ở dưới tầu trèo lên nếu
chúng muốn đọ sức. Ðây là màn khẩu chiến đầu tiên trong buổi chiều
hai bên gặp nhau! Sau đó, chiếc HQ-4 và giang thuyền Trung Cộng
tiếp tục tìm cách chạy ghìm nhau một lúc lâu mới dứt.
Hôm sau, ngày 18-1-74 lúc xế trưa,
toán Biệt Hải gồm 24 người, có cả Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải
đi theo, tất cả súng đạn đầy đủ nhận lệnh xuống 3 chiếc hobo thẳng
hướng chạy vào đổ bộ lên đảo Cam Tuyền (Robert). Sau khi đi lục
soát một vòng không thấy có quân Trung Cộng trú đóng, toán Biệt
Hải đã khám phá và tịch thu được một lá cờ của Trung cộng hơi cũ,
cùng một tấm bảng chủ quyền viết bằng chữ Hán, nét mực còn mới cắm
trên đảo trước khi toán Biệt Hải đổ bộ vào.
Ngoài ra, không còn thấy dấu vết gì
khác, ngoại trừ những cây cối lưa thưa mọc cao không quá đầu người
và một số cỏ gai nhọn chết khô lâu ngày, được gió biển cuốn tròn
nằm lăn lóc trên mặt đất san hô và vô số phân chim! Tất cả những
chi tiết trên đảo đã được vị Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải thông báo ra
cho Hạm Trưởng ngoài tầu biết. Sau khi toán Biệt Hải đi ra và lên
hết trên tầu rồi thì một số anh em Hải Quân lại được lệnh đổ bộ
vào để canh giữ đảo Cam Tuyền. Chiếc HQ-4 được lệnh tiếp tục chạy
sang hải phận của đảo Quang Hòa (Duncan). Suốt đêm đó, trên tầu
đã cho mở nhiều bản nhạc hùng ca, toàn lời hay ý đẹp như để nhắc
nhở bổn phận của người lính Hải Quân/QLVNCH phải hết sức giữ gìn
lãnh hải và hải đảo Hoàng Sa do tiền nhân để lại, dù có phải hy
sinh tánh mạng đã làm nức lòng người nghe, trong đó có toán Biệt
Hải chúng tôi.
Sáng sớm ngày 19 Tháng Giêng năm 1974,
lúc 5 giờ 40 sáng, toán Biệt Hải tiếp tục nhận lệnh đổ bộ lên đảo
Quang Hòa (Duncan). Toán Biệt Hải của chúng tôi đã vào được đến
bờ nhưng trời còn tối nên tất cả được lệnh nằm trên bờ biển chờ
trời sáng. Phần lính gác Trung Cộng có lẽ không ngờ toán Biệt Hải
đổ quân ban đêm nên không để ý và không hay biết gì cả. Trước khi
xuống thuyền vào đảo, chúng tôi được cấp trên cho biết trên đảo
hiện đang có quân Trung Cộng trú đóng. Ðến nơi, thừa lúc trời còn
tối, tôi liền dẫn vài anh em đi một vòng lục soát trong phạm vi
của toán, để có gì khi đụng trận sẽ dễ dàng bảo vệ nhau hơn. Lúc
7 giờ 30 sáng, khi mặt trời hướng Ðông bắt đầu ló dạng, tôi, trong
nhiệm vụ tiền sát đi đầu mon men dò dẫm đã phát giác ra được một
giao thông hào do quân Trung cộng đào sẵn. Tôi tiếp tục dẫn toán
đi lên, nhưng vừa đi được khoảng 60 hoặc 70 thước thì gặp quân của
Trung cộng đang đứng chận đầu. Hai bên thấy mặt nhau nhưng không
bên nào nổ súng! Phía trước mặt, hiện chúng tôi đã nhận diện được
quân số của Trung Cộng khá đông, tất cả chúng đều nằm dưới các hầm
phòng thủ trong tư thế sẵn sàng tác chiến, chăm chú nhìn chúng tôi
ra vẻ nghi ngờ, không biết chúng tôi là phe nào? Lý do là vì cách
trang phục của toán Biệt Hải hao hao giống bộ đội du kích Bắc Việt,
kể cả vũ khí trang bị.
Khi khoảng cách hai bên cách nhau
không tới 4 mét thì vào lúc này, một số cấp chỉ huy và lính Trung
Cộng rời hầm phòng thủ vừa đi ra, vừa nói bằng tiếng Hoa và đồng
thời lấy tay ra dấu đuổi toán Biệt Hải chúng tôi rời khỏi phạm vi
hải đảo. Ý chúng muốn nói đảo Quang Hòa thuộc chủ quyền của Trung
cộng, muốn chiếm thì đi sang đảo khác! Ngược lại, toán Biệt Hải
của chúng tôi cũng ra dấu đáp trả, ý nói đảo nầy thuộc chủ quyền
của VNCH, quân Trung cộng phải rời khỏi đảo. Một bên tiếng Tầu,
một bên tiếng Việt, lúc đầu không ai hiểu ai. Có lúc lời qua tiếng
lại rất hăng, hai bên đã quơ tay đụng nhau. Rất may, trong toán
Biệt Hải có một người Việt gốc Hoa tên Trần A Lộc, nói và hiểu được
tiếng Hoa sành sỏi đứng ra thông dịch. Nãy giờ, hai bên đứng khẩu
chiến với nhau đã gần một tiếng. Tình thế lúc bấy giờ hết sức căng
thẳng, nhất là quân Trung Cộng nhờ sự thông dịch biết được toán
Biệt Hải chúng tôi đang đứng trước mặt quyết tâm dành lại chủ quyền
trên đảo của chúng. Một số lính Trung Cộng liền có thái độ rất hung
hăng, nhưng rất may cuộc chạm súng của đôi bên đã không xẩy ra.
Nếu không, sự thiệt hại của Biệt Hải chắc chắn không phải là nhỏ.
Thấy vậy, Trưởng Toán N. liền hội ý với vị Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải
và ông đã gọi ra tầu, báo cáo cho Hạm Trưởng để trình bày sự việc.
Ngoài tầu lệnh cho toán Biệt Hải rút lui. Trước khi đi, tôi đã tìm
một nhánh cây khô buộc lá cờ VNCH vào rồi cắm xuống trước mặt bọn
chúng.
Ít phút sau, toán Biệt Hải xuống thuyền
đi ra được nửa chừng thì gặp toán Hải Kích của Trung Úy Ðơn từ ngoài
chạy vào. Chúng tôi liền mở máy liên lạc và cho Trung Úy Ðơn biết
tình hình của quân Trung cộng ở trên bờ. Sau khi toán Biệt Hải lên
được tầu HQ-4 thì bỗng nhiên nghe tin toán Hải Kích của Trung Úy
Ðơn vừa có hai người bị tử thương ở phía ngoài bờ biển. Biết tình
thế hiện tại thế nào cũng đánh nhau, tôi xin đề nghị Chỉ Huy Trưởng
Biệt Hải lên đài chỉ huy trình với Hạm Trưởng: Khi nào sẵn sàng
khai hỏa thì cho HQ-4 chạy sát gần tầu của Trung Cộng, khoảng cách
từ 50m đến 100m để toán Biệt Hải chúng tôi dùng M-72 bất ngờ triệt
hạ các tàu của chúng. Theo ý tôi, đây là cơ hội bằng vàng để tiêu
diệt bọn lính Trung Cộng, nhưng cuối cùng ý kiến của tôi đã không
được Hạm Trưởng chấp thuận. Ngoài ra, Hạm Trưởng còn cho biết khi
nào có hải chiến thì sẽ dùng súng lớn và chạy cách xa tầu Trung
cộng khoảng 300m.
Ðến khoảng hơn 10 giờ sáng thì lệnh
khai hỏa bắt đầu. Khẩu đại bác 125 ly của HQ-4 ở giữa boong, gần
đầu mũi tầu chỉ bắn được 9, 10 quả đạn thì bị trở ngại tác xạ! Ngay
lúc đó, tôi bị một mảnh đạn văng trúng vào đầu, máu chẩy xuống che
đầy hai mí mắt. Tôi vội đứng nấp sau khẩu súng lớn đã bị hư hại,
lấy khăn lau sạch vết thương rồi tìm y tá nhờ băng bó, và sau đó
trở lại vị trí các ổ súng lớn trợ giúp các pháo thủ. Trong lúc 2
bên đang giao tranh dữ dội, quay mặt lại, tôi thoáng thấy Biệt Hải
Nguyễn Văn Vượng bị thương khá nặng, đang được anh em dìu vào phía
trong. Cuộc hải chiến tiếp tục mãi cho đến 30 phút sau mới chấm
dứt. Chiếc HQ-4 được lệnh rời khỏi vùng chiến, quay mũi theo hướng
Nam đi về Ðà Nẵng. Khi tầu đã đi được hơn mấy tiếng đồng hồ và đã
khá xa quần đảo Hoàng Sa thì bỗng nhiên không hiểu vì một lý do
gì, HQ-4 lại được lệnh phải trở lại vùng hải chiến với tàu của Trung
Cộng lúc buổi sáng! Tôi đoán lúc đó vào khoảng 1 giờ trưa.
Nghe tin này, một số anh em bị thương
nặng tỏ vẻ xúc động. Một số anh em khác tuy bị thương nhưng còn
khả năng tác chiến thì được lệnh sẵn sàng trở vào vị trí. Toán Biệt
Hải lúc ấy được đặt dưới quyền của Hạm Trưởng, đưa bổ sung vào các
chỗ khiếm khuyết trên tầu tùy theo khả năng. Phần tôi tuy bị thương
nhưng vẫn được giao sử dụng một cây đại liên 50. Sau khi nhận lệnh,
chiếc HQ-4 quay đầu trở lại theo hướng Ðông-Bắc, trực chỉ quần đảo
Hoàng Sa để tái nhập cuộc. Tuy nhiên sau khoảng hơn một tiếng hải
hành, HQ-4 lại được lệnh quay trở về Ðà Nẵng lần thứ nhì! Toán Biệt
Hải chúng tôi nghe loáng thoáng lý do đang có máy bay MIG và tầu
chiến của Trung Cộng từ Hải Nam bay qua trợ chiến quân đội của chúng
trên quần đảo Hoàng Sa.
Mãi cho đến sau này, sau khi đã định
cư tại Hoa Kỳ, chúng tôi mới biết được nội vụ của lý do khiến chiếc
HQ-4 phải đột ngột quay trở lại Ðà Nẵng lần thứ nhì như sau: “Tùy
viên quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (DAO) cho biết radar của Ðệ Thất
Hạm Ðội ghi nhận một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và
chiến đấu cơ MIG của Trung Cộng từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng
Sa. Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa sau đó yêu cầu Ðệ Thất
Hạm Ðội trợ giúp, nhưng không thành công. Các chiến hạm của Việt
Nam Cộng Hòa được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa (Kiem Do and Julie
Kane, Counterpart, A South Vietnamese Naval Officer's War - Ðất
Mẹ)”.
Khi HQ-4 đang trên đường xuôi Nam
thì Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng từ trần. Một phần vì vết thương anh
quá nặng, phần nữa vì trên tầu thiếu phương tiện và thuốc men cấp
cứu nên anh đã vĩnh viễn ra đi, để lại người vợ cưới chưa được bao
lâu và đứa con chưa tròn năm tuổi. Cuộc hải chiến hào hùng của các
chiến sĩ Hải Quân, các toán Hải Kích Người Nhái và toán Biệt Hải
thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Nha Kỹ Thuật tại quần đảo Hoàng Sa
ngày 19 tháng Giêng năm 1974 đã nói lên ý chí và sự quyết tâm của
người lính QLVNCH, quyết chiến đấu để giữ gìn lãnh hải do Tiền Nhân
để lại, không bao giờ sợ hãi trước đoàn quân xâm lăng của Trung
Cộng.
Phần II: Tường thuật của Biệt
Hải Nguyễn Trâm
Buổi chiều ngày 18-1-1974, Tuần Dương
Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 do Hạm Trưởng Lê Văn Thự chở một toán Hải
Kích, trong đó có một số Biệt Hải thuyên chuyển về đã có mặt trong
vùng đảo Hoàng Sa, cùng phối hợp với HQ-4, HQ-5 và HQ-10 để thi
hành nhiệm vụ bảo vệ các hải đảo. Ðêm đó, toán Hải Kích được sắp
xếp nằm ngủ trong một góc phòng ăn của HQ-16. Hôm sau, vào lúc 4
giờ 30 sáng ngày 19-1-74, chúng tôi nghe nhiều tiếng chân thủy thủ
trên tàu lần lượt bước vào phòng ăn.
Tất cả đứng tập họp riêng tại một
góc để nghe vị sĩ quan chỉ huy ân cần nhắc nhở anh em hiện diện
trên tàu HQ-16: “Chúng ta phải quyết tâm chiến đấu nếu tình thế
bắt buộc để bảo vệ lãnh hải của phần đất tổ quốc Việt Nam trước
sự gây hấn của Hải quân Trung Cộng. Nếu chúng ta muốn được an bình
trở về sum họp với gia đình thì mọi người phải hết sức bảo vệ con
tàu bằng tất cả nhiệm vụ và tinh thần của mình.” Tiếng của người
sĩ quan chỉ huy vừa chấm dứt, ai nấy đều hô to “quyết chiến!” Sau
đó, mọi người được lệnh giải tán trở về nhiệm sở. Tuy chúng tôi
đang nằm cách xa họ hai cái bàn ăn, nhưng vì đã nghe được từng cử
chỉ, từng lời nói của người sĩ quan chỉ huy nên linh cảm được những
sự chẳng lành, đang nhen nhúm xẩy ra trong giờ phút định mệnh sắp
tới.
Sáng sớm tinh sương hôm đó, toán Hải
Kích được lệnh vào vị trí tác chiến. Tất cả mọi người đi lên và
chia nhau nằm vào hai phía trái-phải trên trần tầu. Ngoài vũ khí
cá nhân, mỗi người còn mang thêm một số súng M-72 đặt sẵn bên cạnh.
Phía đằng sau phòng lái cách chiếc HQ-16 chừng 800 thước hoặc xa
hơn một tí, chúng tôi nhìn thấy chiếc HQ-10 rất rõ, đang cùng với
HQ-16 hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp khi xảy ra hữu sự. Khoảng
6 giờ sáng, lợi dụng lúc mặt trời đang nhá nhem, một chiếc tầu Trung
Cộng bất ngờ từ sau chạy tới, cố ý húc vào hông phải chiếc HQ-16
khá mạnh đến nỗi vị trí chỗ nằm của chúng tôi ở trên trần bị xê
dịch. Mọi người nhìn xuống dưới tầu Trung Cộng thấy một viên sĩ
quan đang đứng theo thế nghỉ phía ngoài mặt phòng lái, hai tay để
chắp sau lưng, bên hông đeo một lưỡi kiếm lủng lẳng. Viên sĩ quan
này cuối cùng bị ngã theo sức dội của thân tầu, và đồng thời chúng
tôi nghe nhiều tiếng nói của Hải quân Trung Cộng từ dưới vọng lên
nhưng không hiểu họ muốn nói gì? Sau đó, chiếc tầu của Trung cộng
xả hết tốc độ chạy nhanh tới phía trước tìm cách chận đầu chiếc
HQ-16 lại. Nhìn cử chỉ đầy hống hách và xấc xược của chiếc tàu Hải
quân Trung Cộng vừa rồi, tôi thầm nghĩ giá các chiến đỉnh PTF của
Lực Lượng Hải Tuần chở các toán Biệt Hải ra Bắc nay còn mới tương
xứng với tốc độ các tàu này của bọn chúng.
Theo bài viết “Người Ra Biển Bắc”
của Hạm Trưởng Trần Ðỗ Cẩm thuộc Lực Lượng Hải Tuần thì: “Khinh
tốc đỉnh Nasty có vỏ bọc bằng ván ép nhiều lớp đặc biệt, trọng tấn
75 tấn, dài khoảng 80 bộ, rộng 24.7 bộ. Tầm nước 3.7 bộ phía trước,
6.10 bộ chỗ chân vịt sau lái, có thể chuyên chở 18 tấn hay 6,100
gallons dầu cặn. Tầm hoạt động lên đến 1,000 hải lý với tốc độ tiết
kiệm. Máy tầu thuộc loại Napier & Deltic của Anh, 18 xy-lanh.
Vận tốc đường trường khoảng 35 gút, vận tốc tác chiến tối đa có
thể lên đến 50 gút khi tầu mang thêm nhiều nhiên liệu. Về vũ khí,
Nasty được trang bị 1 súng cối 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50
trước mũi. Sân sau lái đặt khẩu đại bác 40 ly, hai bên hông ngang
đài chỉ huy gắn đại bác 20 ly.”
Trong suốt thời gian hoạt động tại
vùng duyên hải miền Bắc, các tầu của Hải Quân Bắc Việt ít khi nào
dám xuất hiện đối đầu với các chiến đỉnh PTF Lực Lương Hải Tuần
thuộc SPVDH/NKT của VNCH.
Gần 8 giờ sáng ngày 19-1-74, toán
Hải Kích được lệnh chuẩn bị để đổ bộ vào đảo Quang Hòa (Duncan).
Chúng tôi vừa sửa soạn xong một chiếc thuyền hobo thì được lệnh
ngừng lại vì tin cho biết toán Hải Kích trên HQ-5 đổ bộ vô bờ đã
có hai người bị tử thương gồm Trung Úy Ðơn ,Trưởng Toán và Hải Kích
Ðỗ Văn Long. Trong thời gian này HQ-16 và tầu của Trung Cộng hai
bên vẫn chạy kềm nhau. HQ-16 luôn bị các tầu của Trung Cộng tìm
cách chận đầu ngăn cản. Lúc này, tất cả họng súng trên tàu của HQ-16
đều nhắm về hướng các tầu Trung Cộng. Trưa ngày 19-1-1974, lúc hơn
10 giờ sáng, tất cả được lệnh khai hỏa. Khẩu đại bác 125 ly ở đầu
mũi chiếc HQ-16 nhắm bắn vào các tầu Trung Cộng. Cùng lúc đó, hướng
trước mũi tầu HQ-10 và phía sau phòng lái HQ-16 bên phải đã thấy
một tầu của Trung Cộng bị trúng đạn.
Chiếc tầu này hiện đang quay lòng
vòng trên biển. Ðồng thời, khói trên đài chỉ huy HQ-10 bắt đầu bốc
lên và tầu đã ngưng chạy. Một lúc sau, trên mặt biển phía hông phải
chiếc HQ-10, gần vị trí của tầu Trung Cộng bị bắn có nhiều cụm khói
mầu vàng, đỏ, xanh từ mặt biển bốc lên kèm theo với tiếng người
la ơi ới lẫn trong tiếng đạn của hai bên bắn nhau nổ chát chúa.
Trên không, từng lằn đạn chíu chít qua lại đã bít kín một vùng biển,
thỉnh thoảng phát ra nhiều tiếng hú như để cổ võ người lính Việt
Nam Cộng Hòa trong giờ phút lịch sử hãy chiến đấu anh hùng để giữ
gìn lãnh hải của tổ tiên mà Hải Quân Trung Cộng đang manh nha cướp
đoạt.
Tất cả súng cá nhân của toán Hải Kích
mang theo hiện không sử dụng được vì mục tiêu tầu địch quá xa. Trái
lại, những khẩu đại pháo và các khẩu đại liên 50 lúc nầy mới thực
sự có khả năng quyết định chiến trường. Không lâu sau, bên cạnh
tôi đã có hai Hải Kích bị thương, trong đó có một người bị khá nặng.
Chúng tôi chia nhau dìu các thương binh từ trên trần tàu đi xuống
về phía sau lái tránh đạn. Ở đó, hiện đã có một số thủy thủ bị thương,
vừa nằm vừa ngồi, tất cả đã được băng bó. Ðúng vào lúc này, tôi
thấy chiếc HQ-16 nghiêng hẳn về một phía và máy bên trái đã bị hư,
không còn chạy được nữa! Bình thường tầu đã chạy chậm, bây giờ hư
thêm một máy nên càng chạy chậm hơn.
Cùng lúc đó, dưới hầm máy tiếng viên
Sĩ Quan Phòng Tai hối thúc anh em đặt máy bơm nước vào các vị trí
để hút nước ra ngoài, và đồng thời lấy một số nệm ngủ đem bít kín
vào các lỗ đạn bắn xuyên thủng vào hông tàu. Lúc này, thấy nước
đã chẩy thấm ướt dưới thềm phòng ăn. Không bao lâu, tiếng chuyên
viên từ dưới hầm hét lên ra vẻ vui mừng, báo cáo đã khống chế được
các lỗ thủng không cho nước vào, và đồng thời các máy bơm nước cũng
đang hoạt động tốt. Nghe tin này, ai nấy đều hết sức phấn khởi.
Tất cả sự vui mừng đang hiện rõ trên từng khuôn mặt của các thương
bệnh binh.
Cuối cùng, chiếc HQ-16 tuy còn một
máy nhưng vẫn ung dung thoát ra khỏi vùng giao tranh. Tuy nhiên,
chiều hôm đó anh em chúng tôi rất đau lòng khi phải bỏ lại chiếc
HQ-10 một mình trơ trọi trong vùng đảo Quang Hòa, Hoàng Sa ngày
19-1-74. Sau một đêm lênh đênh trên biển, sáng ngày hôm sau, Tuần
Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 đã cặp bến an toàn tại bến tầu của
Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải, Tiên Sa-Ðà Nẵng.
Nam Quốc sơn hà Nam Ðế cư,
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư,
Nhử hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhĩ đẳng hành khan thủ bại hư.
Nghĩa là:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời,
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
(Tiền nhân Lý Thường Kiệt)
@phongveduyenhai.blogspot.com
|