Những Diễn Biến Ðưa
Tới Trận Hải Chiến Hoàng Sa
Hà Văn Ngạc - Cựu Hải
Quân Đại Tá VNCH - 15.06.1998
Sự
tranh chấp về chủ quyền của các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được
các sử gia và các nhà nghiên cứu về thềm lục địa trình bày rất nhiều.
Gần đây nhứt là trong cuốn Ðịa lý Biển Ðông của Hải Quân Trung Tá
Vũ Hữu San, một công trình nghiên cứu tỉ mỉ, đã sưu tập những tài
liệu để chứng minh chủ quyền Việt Nam không những về các hoạt động
để xác nhận chủ quyền của quốc gia mà còn phân tích tỉ mỉ về các
dữ kiện địa chất, thảo mộc và khí tượng để minh xác là những hải
đảo trong vùng Hoàng - Trường Sa đã được tổ tiên chúng ta đặt chân
tới đặt bia miếu và trong quá khứ gần đây Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp
tục tham dự các hoạt đông khí tượng trên bình diện quốc tế.
Khi chính phủ bảo hộ Ðông Dương của người Pháp vào
năm 1933 đã ra nghị định sát nhập hành chánh các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa vào các tỉnh ven biển thì chỉ có duy nhứt Nhật bản
phản kháng mà thôi và cũng chỉ phản kháng lấy lệ và người Pháp vẫn
tiếp tục thi hành nghị định đã ban bố trong công báo Pháp. Ngay
cả người Anh, những nhà hàng hải của họ đã khám phá thấy các đảo
vùng Trường Sa, nhưng khi Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha ký hiệp
ước bảo hộ vào năm 1862 thì họ đã không phản ứng gì.
Sự chiếm đóng quân sự của Ðài Loan trên đảo Thái
Bình, của Phi Luật Tân trên đảo Loại Ta, của Trung Hoa Dân Quốc
trên đảo Phú Lâm cực bắc của quần đảo Hoàng Sa chỉ vì người Pháp,
trong cuộc chiến tranh Ðông Dương đã phải đương đàu ngặt nghèo với
các cuộc hành quân tảo thanh cũng như phòng thủ trong đất liền nên
chỉ có thể dặt quân trú phòng trên đảo Hoàng Sa mà thôi bằng khoảng
một trung đội Lê dương và đã bỏ ngỏ các đảo quan trọng khác. Ðặc
biệt là đảo Thái Bình của quần đảo Trường Sa dã bị quân đội Nhật
cưỡng chiếm trong đệ nhị thế chiến. Khi quân Nhật đầu hàng thì Trung
Hoa Dân Quốc chỉ có nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật nhưng họ đã
lợi dụng tình thế bối rối lúc bấy giờ của người Pháp để chiếm cứ
luôn, cùng với đảo Phú Lâm của quần đảo Hoàng Sa. Riêng về đảo Phú
Lâm thì khi đó chiến tranh quốc - cộng đến thời kỳ gần kết thúc
tại lục địa, khiến Trung Hoa Dân Quốc đã buộc phải bỏ ngỏ một thời
gian và Trung Cộng đã lấn chiếm vào giữa thập niên 50.
Vào khoảng thời gian này thì Hải Quân Việt Nam Cộng
Hòa còn đang ở trong thời kỳ phát triển mạnh, vả lại Hải Quân còn
phải tham dự các cuộc hành quân bình định của chính phủ trong sông
ngòi cũng như ngoài ven biển nên các hoạt động ngoài biển khơi chỉ
được hạn chế trong công cuộc tiếp tục yểm trợ sự hiện diện uqân
sự trên đảo Hoàng Sa khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam và dựng bia
để khẳng định chủ quyền quốc gia trên đảo, đại diện cho quần đảo
Trường Sa là đảo trường Sa (Spratly) mà thôi. Hơn nữa, đảo Phú Lâm
lại nằm quá sát vĩ tuyến 17 nên còn nằm trong khu vực phi quân sự
theo hiệp đinh Ba Lê năm 1954 mà chính phủ Việt Nam Cộng tuy không
công nhận nhưng vào lúc này vẫn muốn không vi phạm.
Cho đến khi kỹ thuật khai thác về dầu hỏa ngoài khơi
được tiến triển thì vấn đề thềm lục địa được đặt ra, và chủ quyền
của các quốc gia trên các hải đảo được chú trọng nhiều hơn. Trong
kỳ hội thảo về bản đồ khu vực của Liên Hiệp Quốc cho Á Châu và Viễn
Ðông lần thứ sáu (Sixth United Nations Regional Cartographic Conference
For Asia And The Far East) họp tại Teheran, thủ đô Ba Tư vào tháng
10 năm 1970 và kéo dài một tháng, trong đó có các phái đoàn của
các nước Ðông Nam Á như Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), Nhật Bản,
Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan vân vân tham dự, Phái
đoàn Việt Nam do Ðại Tá Ðoàn Văn Kiệt (Lục Quân) Giám đốc Nha Ðịa
Dư quốc gia, trực thuộc Bộ Quốc phòng, hướng dẫn trong đó có một
vị kỹ sư địa dư và tôi tham dự. Trong mấy ngày đầu của cuộc hội
thảo, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan, do một vị tướng 3
sao lục quân cầm đầu) đột nhiên nêu vấn đề chủ quyền trên các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi phát triển trong hội trường.
Vào thời gian này thì tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã
có thành lập từ lâu Phòng Nghiên cứu hay Phòng 5, và phòng này đã
thu thập được nhiều tài liệu lịch sử cũng như pháp lý về chủ quyền
của quốc gia Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng
vì đây là một cuộc hội thảo có tính cách hợp tác kỹ thuật do Liên
Hiệp Quốc tổ chức, nên tôi đề nghị ngay với Ðại Tá Trưởng phái đoàn
là phái đoàn Việt Nam sẽ thảo luận với các phái đoàn Ðông Nam Á
khác để được sự ủng hộ của họ hầu phát biểu ý kiến lên hội trường
là không đặt vấn đề chủ quyền quốc gia trong cuộc hội thảo nặng
về kỹ thuật đồ bản này. Sau đó thì phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc
đã không phản đối hay nêu thêm gì khác.
Cũng cần ghi thêm ở đây là sau kỳ hội thảo tại Teheran
Ba Tư, phái đoàn tham dự các cuộc hội thảo kế tiếp đều được Bộ Tư
Lệnh Hải Quân đề cử sĩ quan xung vào phái đoàn. Việc nêu chủ quyền
trên các hải đảo Hoàng và Trường Sa của Trung Hoa Dân Quốc (Ðài
Loan) trong một cuộc hội thảo kỹ thuật của Liên Hiệp Quốc đã là
một chỉ dấu của một khúc quanh về tranh chấp về chủ quyền các hải
đảo, các sự đối đầu sẽ không chỉ còn nằm trong phạm vi tuyên cáo
và phản đối lấy lệ về ngoại giao nữa như các quốc gia trong vùng
đã từng làm trước đây.
Lý do quan trọng nhứt là việc thăm dò các mỏ dầu
hỏa từ năm 1969 đến năm 1971 của Việt Nam cộng hòa ngoài khơi Vũng
Tàu và Côn Sơn đã làm cho các lân bang chú ý kể cả Trung Công và
Cộng sản miền Bắc. Chúng ta còn nhớ là trong khoảng thời gian này,
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã ra tận một trong các dàn khoan để
châm lửa đốt hơi dầu khánh thành sự thành công về công cuộc tìm
kiếm với một trữ lượng dầu đáng kể do một công ty khảo sát địa chất
Huê Kỳ tại Houston đảm trách trong một vùng khoảng 4 ngàn hải lý
vuông.
Kể từ tháng chạp năm 1971 thì Việt Nam Cộng Hòa đã
đặt ra vấn đề chia khu vực đặc nhượng đã hoàn tất, nhưng mãi đến
tháng 7 năm 1973 việc nhượng quyền khai thác mới được công bố. Việc
chậm trễ này là do nhu cầu chính trị của thời điểm này mà chính
phủ Huê Kỳ đã khẩn khoản yêu cầu Việt Nam Cộng Hòa trì hoãn vì vào
lúc đó phong trào phản chiến đang lên cao và họ đã chúi mũi dùi
vào các hoạt động của các tổ hợp liên quốc dầu hỏa tại Việt Nam
và Cam Bốt. Một phần quan trọng nữa là quốc hội Huê Kỳ đã lưu ý
đến thềm lục địa vùng Ðông Nam Á vì vấn đề này có liên hệ tới chính
quyền của Huê Kỳ tại vùng này.
Do đó vào các năm 1970-71 việc thăm dò mỏ dầu ít
được quảng bá để làm dịu bớt phong trào phản chiến tại nội địa Huê
Kỳ cũng như không làm phương hại tới hòa đàm Ba Lê. Cộng sản Bắc
Việt cũng biết được các dự định của Việt Nam Cộng Hòa về việc đặc
nhượng nhưng mãi tới tháng 6 năm 1971 mới lên tiếng phản đối. Ðương
nhiên là Trung Cộng cũng đã theo dõi các tiến triển về thăm dò trong
lòng biển và chú tâm nhiều về các trữ lượng dầu hỏa đáng khích lệ
trong vùng Biển Ðông.
Song song với việc thăm dò dầu hỏa là công cuộc thực
hiện đặt quân trú phòng trên các đảo còn bỏ trống thuộc quần đảo
Trường Sa do chính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chủ trương và nắm
phần chủ độngvề mọi công tác. Công cuộc thực hiện này là kết quả
của một cuộc thao dượt hạm đội vào đầu mùa hè năm 1973 do Bộ Tư
Lệnh Hạm Ðội lúc bấy giờ là HQ Ðại Tá Nguyễn Xuân Sơn đề xướng với
sự chấp thuận của Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Tôi với chức vụ là Chỉ huy
trưởng Hải đội 3 (Hải đội tuần dương) đã được Tư Lệnh Hạm Ðội trao
phó trách nhiệm tổ chức lực lượng và đặt kế hoạch thao dượt cũng
như chương trình thám sát các hải đảo.
Sau khi hòa đàm Ba Lê được ký kết, thì Hạm đội bấy
giờ mới có được một số chiến hạm tạm rảnh tay với công tác tuần
dương, cho nên thành phần của hải đội đặc nhiệm đã gồm các chiến
hạm khiển dụng hoặc tạm hoãn biệt phái cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân
Biển, trong công tác tuần phòng cận và viễn duyên. Vào những năm
chiến tranh sôi động thì các chiến hạm lớn hay nhỏ không thuộc loại
chuyên chở đều phải thay phiên nhau tham dự công tác tuần dương
hay tuần duyên hoặc đảm trách một vài nhiệm vụ yểm trợ hải pháo
tùy theo nhu cầu trong vùng công tác. Bởi vậy sự hoạt động của các
chiến hạm theo từng phân đoàn hay hải đoàn ít khi được tực hiện
và có thể nói là gần như không có, và nếu có thì thời gian hoạt
động rất hạn hẹp. Cũng cần lạm bàn thêm tại đây là cuộc chiến tranh
tiễu trừ cộng sản trong nội địa đã phải cần sự tham dự của các đơn
vị Hải Quân rất nhiều vì hệ thống sông ngòi và kinh rạch từ Cửa
Việt vào Miền Nam qua mũi Cà Mâu cho đến Kinh Vĩnh Tế chạy dọc theo
biên giới Miên Việt từ Hà Tiên cho tới Châu Ðốc.
Thành phần của Hải Ðội dặc nhiệm thao dượt gồm có:
1 Khu trục hạm, 3 Tuần dương hạm, 1 Trợ chiến hạm, 2 Cơ xưỡng hạm.
Cơ xưởng hạm HQ 802 (Hạm trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công) là soái
hạm của cuộc thao dượt. HQ 801 có chở theo sinh viên Sĩ quan của
Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang và một vị Hạm trưởng được
tăng phái trên chiến hạm này để huấn luyện về tiếp tế ngoài khơi,
vì vậy cuộc thao dượt còn là một môi trường huấn lyện trên đại dương
cho các sĩ quan Hải Quân tương lai.
Hải đội đặc nhiệm thao dượt rời quân cảng Sàigòn
trực chỉ đảo Trường Sa và tới đảo vào một buổi sáng. Thời tiết vào
đầu mùa hè đã bắt đầu nóng nên cuộc đổ bộ lên đảo được thực hiện
thật sớm vì đảo không có cây tương đối lớn khả dĩ có thể cho bóng
mát để trú nắng. Công tác trên đảo gồm có dựng cờ quốc gia và xây
cất một tấm bia vì tấm bi cũ đã không còn thấy, có thể là đã bị
các ngư phủ của các quốc gia lân bang khi dừng chân trên đảo đã
phá vỡ.
Sau khi đổ bộ lên đảo Trường Sa, hải đội thao dượt
trực chỉ đảo Thái Bình, Nam Yết (phía nam đảo Thái Bình) và đảo
Sơn Ca (đông Thái Bình). Ði qua đảo Nam Yết và Sơn Ca Hải đội thao
dượt chỉ quan sát đảo chứ không đổ bộ và sau đó tất cả các chiến
hạm đã bỏ neo phía nam đảo Thái Bình. quân trú phòng của Ðài Loan
trên đảo đã phải đặt trong nhiệm sở tác chiến, nhưng sau đó họ nhận
thấy quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa nên có thể họ đã an tâm. Hải đội
đã liên lạc bằng quang hiệu để xin thăm viếng xã giao trên đảo và
được sự đồng ý. Phía đoàn do Tư Lệnh Hạm Ðội hướng dẫn đã lên đảo
vào khoảng gần trưa và đã được Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Chỉ huy
trưởng quân trú phòng tiếp đón trong phòng khách của Bộ Chỉ Huy
và không có cuộc đi thăm viếng trên hải đảo có thể vì lý do bảo
mật của họ.
Sau khi Thái Bình, Nam Yết và Sơn Ca, Hải đội trực
chỉ phía bắc hướng về hai đảo Song Tử Ðông và Song Tử Tây và ghé
qua quan sát đảo Loại Ta. Ðảo Loại Ta lúc đó đã do quân đội Phi
Luật Tân trú đóng, và một chòi canh đơn sơ có thể được quan sát
dễ dàng từ bên ngoài. Hai đảo Song Tử Ðông và Tây tuy nhỏ nhưng
rất gần nhau và có một số cây lớn có thể cho bóng mát.
Cuộc thao dượt kéo dài khoảng 1 tuần lễ, trong suốt
các hải trình từ đảo này tới đảo khác, các chiến hạm tham dự đã
thực tập mọi phương tiện truyền tin từ hiệu kỳ cho đến vô tuyến
âm thoại, thực tập các chiến thế phòng không cho đến chống tiềm
thủy đĩnh, hộ tống và tiếp tế ngoài khơi.
Sau cuộc thao dượt, vị Tư Lệnh Hạm Ðội và tôi liên
lạc chặt chẽ với Chánh Võ phòng Phủ Thủ Tướng để xin cho hai chúng
tôi được trình bầy về quần đảo Trường Sa. Sau khoảng một tuần lễ
thì lời thỉnh cầu của chúng tôi được chấp thuận. Hai chúng tôi và
một vị Hạ Sĩ quan (Thượng Sĩ VC Nguyễn Mạnh Hưởng) thuộc phòng hành
quân Hải đội 3 đã đến Phủ Thủ Tướng với đầy đủ sơ đồ và kính chiếu
để thuyết trình trong một buổi hội của Hội đồng nội các do chính
Thủ Tướng chính phủ Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm chủ tọa và đông đảo
các vị bộ trưởng. Phần thuyết trình là phần mở đầu của buổi hội
vào khoảng 9 giờ sáng.
Tư Lệnh Hạm Ðội, sau phần trình bầy chi tiết địa
lý của các hải đảo cũng như sự chiếm đóng đã lâu ngày của Trung
Hoa Dân Quốc và Phi Luật Tân, đã mạnh mẽ đề nghị Việt Nam Cộng Hòa
phải có sự hiện diện quân sự trên đảo thuộc quần đảo Trường Sa như:
Nam Yết, Trường Sa (Spratly) Song Tử Ðông và Song Tử Tây v.v...
Ðề nghị của Hải Quân đã được toàn thể nội các tán đồng ngay mà không
có thắc mắc nào được đưa ra thêm để bàn cãi. Sau phần trình bầy
phái đoàn Hải Quân rút ra khỏi phòng hội để hội đồng nội các thảo
luận tiếp sang các mục khác của buổi hội.
Sau đó, lệnh từ Bộ Quốc Phòng đã đến Bộ Tổng Tham
Mưu, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Cục Công Binh và Tiểu Khu Bình Tuy để
thi hành việc đồn trú quân trên các đảo vùng Trường Sa. Ðảo được
thực hiện trước nhất là đảo Nam Yết. Tôi được chỉ định là Chỉ Huy
Trưởng đầu tiên của cuộc hành quân Trần Hưng Ðạo 22 (chỉ số không
chắc chắn). Vào cuối tháng 5, khi gió mùa đông nam đã nhẹ nhẹ thổi,
Dương Vận Hạm HQ 504 (Hạm trưởng HQ Trung Tá Vũ Hữu San) khởi hành
từ cầu Tự Do, với khoảng một trung đội công binh, xuồng cao su và
vật liệu xây cất doanh trại cho một trung đội bộ binh.
Sau gần 36 giờ hải hành, việc đổ bộ công binh và
vật liệu xây cất cũn như nước ngọt lên đảo rất mỹ mãn và công tác
xây cất được khởi sự ngay. Sau vài ngày thì có thêm Khu Trục Hạm
Trần Khánh Dư HQ 4 (Hạm Trưởng HQ Thiếu Tá Nguyễn Quang Ðộ) tới
tăng cường. Trong thời gian xây cất, Thuỷ Quân Lục Chiến của Trung
Hoa Dân Quốc ở đảo Thái Bình có gởi một xuồng 3 người xuống gần
tới các chiến hạm và khi nhận dạng được thì họ quay đầu về sau đó
không có hành động gì khác.
Công cuộc xây cất doanh trại được hoàn tất trong
vòng hơn 2 tuần lễ và một lễ thượng kỳ đã được tổ chức long trọng
trên đảo với nhân viên hải quân, công binh và địa phương quân trú
phòng. Một bảng khắc chữ bằng kim loại không rỉ sét (inox) ghi tên
cuộc hành quân Trần Hưng Ðạo ... và cấp bậc, danh tánh của tôi là
Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân cùng ngày tháng đã được gắn trên nền
của kỳ đài. tin từ một cựu chiến hữu Hải quân còn ở lại quê hương
cho biết là hình ảnh của bản khắc nói trên đã được Việt cộng xử
dụng ít nhất là một lần trong một cuộc triển lãm tại Trung Tâm Huấn
Luyện Hải Quân VNCH cũ để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên
quần đảo Hoàng và Trường Sa.
Theo nhiều phân tích gia thì trong thế kỷ 21, vùng
Châu Á Thái Bình Dương sẽ trở thành một khu vực kinh tế rất quan
trọng của thế giới, cho nên Trung Cộng không những chỉ muốn đạt
tới và duy trì vai trò một siêu cường kinh tế mà còn muốn tái diễn
một sức mạnh đế quốc của họ trong lịch sử đối với các nước lân bang
như là thuộc quốc phải thần phục và triều cống. Trong quá khứ về
trước người Trung Hoa không có khả năng để quan tâm tới biển cả
nên chỉ phần lớn xâm lăng bằng đường bộ và lực lượng Hải quân của
họ chỉ đủ để bảo vệ vùng ven biển và chống hải tặc hoành hành các
vùng cận duyên và các cửa sông.
Nhưng vai trò mới của Trung Cộng trong vùng Ðông
Nam Á về kinh tế cũng như ảnh hưởng về chính trị, cộng thêm với
khả năng tối tân của lực lượng hải quân nên Trung Cộng đã đặt nặng
vấn đề bành trướng chủ quyền trên mặt biển như một trọng tâm trong
tiến trình trở thành một siêu cường trong thế kỷ tới. Cho nên việc
hoàn tất cưỡng chiếm toàn quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng một
lực lượng hùng hậu về hải lục không quân cũng như quân thủy bộ,
và vào các năm sau 1975, các hành động lấn chiếm bằng cách đánh
bật lực lượng hải quân Việt cộng để dành giựt cùng cắm dùi các hải
đảo cũng như các bãi đá ngầm trong vùng Trường Sa, đã chứng tỏ là
các đường lối của họ đã theo đúng các chỉ đạo chiến lược bá chủ
vùng Ðông Nam Á.
Báo Tuổi Trẻ phát hành ngày 18 tháng tư 98 tại Sàigòn
có đăng tải cuộc phỏng vấn của Ðài phát thanh quốc tế Pháp (RFI),
Bà Mônich Sơmiliê Giăngdrô (nguyên văn), giáo sư Luật Ðại Học Ðường
Paris đã khẳng định là việc Trung Cộng chiếm đóng quần đảo Hoàng
Sa là hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế, vì những tài liệu lịch
sử cho thấy quần đảo thuộc về Việt Nam.
Bà cũng đề cập đến các dẫn chứng lịch sử từ thế kỷ
17 và thời vua Minh Mạng. Về phía Trung Cộng, tuy họ nói có những
tài liệu xưa hơn cả tài liệu của Việt Nam, nhưng lại chưa đưa ra
được văn bản nào đáng tin cậy để chứng minh. Ðài RFI cũng nêu tờ
Minh Báo của Hồng Kông (ngày 4-4) tiết lộ Trung Cộng có kế hoạch
biến một đảo thuộc Hoàng Sa thành một trung tâm du lịch như Hawaii
với khách sạn và nhà hàng và một giới hữu trách ở đảo Hải Nam xác
nhận là trong vài năm tới sẽ bắt đầu tổ chức du lịch trên quần đảo
Hoàng Sa.
Ðài RFI nhận xét kế hoạch này cho thấy Bắc Kinh vẫn
không từ bỏ tham vọng lấn chiếm lãnh thổ dần từng bước không những
tại biên giới trên bộ mà còn ở vùng biển. Bộ Ngoại giao cộng sản
VN đã kịch liệt lên án kế hoạch này và khẳng định là mọi hành động
trái phép của ngoại quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
đều là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN. Cũng nên ghi thêm l38
đây là Trung Cộng và Việt cộng đã có tới 10 vòng hội đàm nhưng vẫn
chưa giải quyết xong vấn đề Hoàng Trường Sa và cả biên giới trên
bộ. Báo Tuổi Trẻ cũng tố cáo là bằng việc xây cất cơ sở hành chánh
và với kế hoạch xây khu du lịch để đón du khách, Bắc Kinh đã sáng
tạo ra ảo tưởng là quần đảo này vĩnh viễn thuộc về Trung Cộng.
Không những thế, ngày 21 tháng 5 vừa qua Trung Cộng
lại thêm một lần nữa xác nhận chủ quyền trên các đảo Trường Sa.
Phát ngôn nhân của bộ ngoại giao Trung Cộng nói: Trung Cộng có chủ
quyền không thể chối cãi ở Trường Sa và các vùng biển lân cận và
còn nói thêm là các tầu Trung Cộng có những hoạt động khảo cứu khoa
học bình thường ở vùng nói trên hồi gần đây là vấn đề hoàn toàn
nằm trong lãnh hải của họ.
Trong khi đó thì Bộ Ngoại Giao của Việt cộng nói
chiếc tầu nghiên cứu khoa học của Trung Cộng đã hoạt động sâu trong
thềm lục địa Việt Nam từ tháng 4 năm nay.
Mặc dầu Việt Nam và Trung Cộng đã có hơn 10 cuộc
thương thảo về chủ quyền các hải đảo và lẫn cả biên giới trên bộ,
nhưng đến nay vẫn chưa có một kết quả cụ thể nào và đượng nhiên
chúng ta sẽ còn thấy nhiều phen gay go xẩy ra giữa Việt Nam và Trung
Cộng trong tương lai nhất là Việt Nam và Thái Lan đã chia phần biển
để tìm kiếm dầu trong vịnh Thái Lan sau khi đã đạt tới một sự thỏa
thuận về lằn ranh khai thác trên mặt biển.
|