Duy
Giáp Lệnh Của Việt Vương Câu-Tiễn và Mân Ngữ
Đỗ Thành
Chỉ có người nào vừa biết
tiếng Triều Châu và tiếng Việt Nam mới dễ thấy được sự
tương đồng và rõ nghĩa. Ví dụ “Nội-內” có nơi đọc là “Lội”
và Quảng Đông đọc là “nồi” hay “lồi” thì không xa âm “Lại內”
của Mân Việt-Triều Châu bao nhiêu, và cũng từ đó sẽ dễ
hiểu chữ “Tu修 lại 內mau矛” tức là “Tụ lại mau” chứ không phải
là “Sửa xoạn-bên trong-giáo mác” như chuyên gia ngôn ngữ bên
Trung Quốc đã giải thích!
Cùng với Việt nhân ca, Duy giáp lệnh cũng là hiện tượng đặc biệt
của văn hóa Trung Hoa, thu hút nhiều tâm lực của giới nghiên cứu.
Nhà đại nho thế kỷ XX Quách Mạt Nhược đã bàn về chuyện này. Ở thời
hiện đại, chuyên gia ngôn ngữ Trịnh Trương Thượng Phương thuộc
Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội Trung Quốc được coi là học
giả hàng đầu. Tuy nhiên, những diễn giảng của các vị này chưa thỏa
mãn người đọc, vì thế câu chuyện chưa kết thúc! Tôi cảm nhận rằng,
khi nghiên cứu Duy giáp lệnh, các học giả trên đã theo một phương
pháp luận sai lầm. Dù biết rằng Duy giáp lệnh là mệnh lệnh của Câu
Tiễn, vị vua người Việt, nhưng trong khi nghiên cứu, các vị này
không trở về ngôn ngữ gốc của Câu Tiễn với tiếng Việt, chữ Việt
mà cứ giảng giải biện luận bằng chữ Thái và Hán phát âm quan thoại.
Làm như vậy có khác nào leo cây tìm cá? Tôi vốn sống trong dân gian,
học được ít nhiều chữ Hán nhưng thấm đẫm ngôn ngữ, văn hóa Mân Việt,
Bách Việt nên khi nhìn vào bản văn của Việt nhân ca, Việt tuyệt
thư, Duy giáp lệnh… tôi dễ dàng nhận ra cái hồn cái vía Việt trong
những dòng chữ cổ. Không thể để chúng khô chồi héo rễ trong sách
vở và bị hiểu sai, bị xuyên tạc, tôi mạo muội thưa lại đôi điều.
I. Duy giáp lệnh theo sự hiểu
hiện thời.
“Duy giáp lệnh” được trích từ quyển thứ ba trong Việt tuyệt
thư, Ngô nội truyện. Việt tuyệt thư do một số người đã ghi
chép lại chuyện xảy ra ở Ngô và Việt thời Xuân Thu – Chiến
Quốc, trong đó phần nhiều là do Ngũ Tử Tư viết, khoảng năm
484 TCN, trước Sử ký của Tư Mã Thiên nửa thiên niên kỷ. Đoạn
văn như sau:
越絕書·吳内傳 維甲令
越王句踐反國六年,皆得士民之眾,而欲伐吳,於是乃使之維甲。維甲者,治甲系斷。修內矛,赤雞稽繇者也,越人謂入铩也。方舟航買儀塵者,越人往如江也。治須慮者,越人謂船為須慮。亟怒紛紛者,怒貌也,怒至。士击高文者,躍勇士也。習之于夷,夷、海也;宿之于萊,萊,野也;致之于單,單者堵也。。
Phiên âm: Việt vương Câu Tiễn phản quốc lục niên, giai đắc
sĩ dân chi chúng, nhi dục phạt Ngô, vu thị nãi sử chi duy
giáp. Duy giáp giả, trị giáp hệ đoạn. Tu nội mao, xích kê
kê chựu giả dã, Việt nhân vị nhập sát dã. Phương châu hàng
mãi nghi trần giả, Việt nhân vãn như giang dã. Trị tu lự
giả, Việt nhân vị thuyền vi tu lự. Cực nộ phân phân giả, nộ
mạo dã, nộ chí. Sĩ kích cao văn giả, diệu dũng sĩ dã.
Tập chi vu di. Di, hải dã; túc chi vu lai, lai, dã dã; chí
chi ư đan, đan giả đồ dã.
Cho đến ngày nay, “Duy giáp lệnh”
được hiểu như sau:
維甲 修內矛 Duy giáp tu nội mao
方舟航 治須慮 phương châu hàng tu lự
*亟怒紛紛者, cực nộ phân phân giả *
*士击高文者 sĩ kích cao văn giả **
習之于夷. Tập chi vu di
宿之于萊. Túc chi vu lai
致之于單. Chí chi vu đan
*và **: lời của sử quan bị người đời sau đưa lẫn vào Lệnh.
Ông Trịnh Trương Thượng Phương giải
nghĩa như sau: (xin:phiên dịch)
|
维甲,修内矛(赤鸡稽繇)
(Duy giáp, Tu nội mao)’Xích kê kê chựu’ |
连结好犀牛甲,快整修好枪矛刀剑!
(Liên kết cho xong ngưu giáp, mau chuẩn bị đao kiếm
giáo mác) |
|
方舟航(买仪尘),治须虑
(Phương châu hàng’mại nghi trần’, trị tu lự) |
要想抬起头来航行,快整治战船
(Phải ngẩn đầu lên mà phóng thuyền, chuẩn bị chiến
thuyền) |
|
亟怒纷纷,士击高文
(Cực nộ phân phân, sĩ kích cao Văn) |
激起冲天怒火,勇士们坚定地迈步向前!
(Kích khỡi nộ hoả xung thiên,các dũng sĩ hảy kiên
định cất bước thẵng tiến) |
|
习之于夷
(Tập chi vu di) |
让勇士们在海上苦练,
(Hảy đễ dũng sĩ khổ luyện trên biễn) |
|
宿之于莱
(Túc chi vu lai) |
让勇士们在野地宿营
(Hãy đễ dũng sĩ ngũ ở dã ngoại) |
| 致之于单
(Chí chi Vu Đan) |
让勇士们到前线致胜攻关!
(Hãy đễ các dũng sĩ đến tiền trận đến thắng-công
quan) |
Nhận xét:
Đoạn trên là văn kể chuyện, tường thuật sự việc kèm
theo trình bày nội dung Duy giáp lệnh. Trong văn bản, xưa, tác giả
không như chúng ta ngày nay dùng dấu ngoặc kép để phân biệt mệnh
lệnh của Việt vương với lời trần thuật của mình khiến cho người
đọc dễ lầm. Khi ông Trịnh Trương Thượng Phương đưa hai câu “ Cực
nộ phân phân và Sĩ kích cao văn” vào Duy giáp lệnh, tôi thấy
là không thỏa đáng! Thực ra đây chỉ là lời ghi chú của sử
gia viết lại quang cảnh “bừng bừng khí thế” của quân lính
tập trận khi nghe lời nói của Việt vương Câu Tiễn mà tập
trung lại thôi. Bởi vì, trong một lệnh “tổng động viên” mà
có hai câu “ Tức giận bừng bừng, sĩ khí cao dâng” thì có
vẻ kỳ lạ? Vô lý! Thật ra lịch sử đã cho thấy là sau khi
có “Duy giáp lệnh” 10 năm nước Việt mới chinh phạt nước Ngô.
Trước khi phục quốc thành công thì nước Vu Việt đã bị nước
Ngô xâm chiếm. Dưới sự cai trị, giám sát của người Ngô thì
làm sao có một lệnh tổng động viên công khai kèm theo lời
nói “tức giận bừng bừng, sĩ khí cao dâng”?
- Lời giải nghĩa của ông Trịnh Trương Thượng
Phương hoàn toàn vô lý và tối nghĩa ngay trong bản thân câu
văn. Do biết được bối cảnh chuẩn bị chiến tranh của “Duy
giáp lệnh” ông suy diễn “giáp” là áo giáp! Trong khi đó,
tiếng Mân Việt của Câu Tiễn còn đọc “giáp” là “cả”, “nội”
là “lại” ... Ông cũng quên rằng ngôn ngữ thời Ngô Việt là đa
âm và đa âm xưa vẫn tồn tại đến ngày nay: trị tu lự gồm hai
từ: “trị” và “tu + lự” = trị tự là “trật tự”!
- Bài giảng nghĩa của ông Trịnh quá công phu
và quá dài với quá nhiều dẫn chứng bằng cổ thư như “Quốc
ngữ-Việt ngữ hạ”, “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận, “Sử
ký” của Tư Mã Thiên, “Thủy kinh chú” và các từ điển diễn
giãi “Quảng âm” , “Tập âm” v v... đã có dùng hay có giải
thích những chữ tương tự trong “Duy giáp lệnh”, đồng thời so
sánh các từ đồng âm bên tiếng Thái và tiếng Choang... Do
cách giải thích hoàn toàn sai cho nên tôi không phiên dịch phần
đó trong bài nầy. Nếu như người nào muốn nghiên cứu toàn
bài giải thích “Duy giáp lệnh” của tác giả Trịnh Trương
Thượng Phương thì có thể xem ở :
www.eastling.org/paper/zhengzhang/zhengzhang_Weijialing.doc
- Cho dù bài giải nghĩa “Duy giáp lệnh” nầy theo tôi và một
số bloger Trung Văn cho là sai nhưng hiện tại nó đang được
xem là “mẫu mực” , “chính thức” , “giá trị” , “tài liệu
để giảng dạy trong trường Đại học”... Cho nên, bất cứ ai
có tinh thần yêu chuộng sự thật thì cũng nên góp phần thảo
luận để chỉ rõ ra cái sai và tìm ra cái đúng...
II. Phục nguyên Duy giáp lệnh
- Theo truyền thống thì người ta dùng hai chữ
đầu tiên của mệnh lệnh để đặt tên cho lệnh vua, nên cái lệnh
chúng ta bàn có tên là “Duy giáp lệnh”! Nguyên văn “Duy giáp
lệnh” trong một đoạn ngắn được các sử quan nhiều đời sau
cố tình giữ nguyên cổ ngữ Việt để giữ đặc tính nguyên thủy
và tính trung thực của “lệnh”. Đó là một việc làm thật
quý giá, nhưng họ đã kèm theo những lời giải thích mà vô
tình làm cho tối nghĩa thêm! Khi thì thêm bằng chữ Nôm-Việt,
khi thì thêm bằng Hán ngữ-Nhã ngữ, sử quan đã gây thêm ngộ
nhận cho đời sau. Có người vịn vào đó mà nói rằng “Lệnh
của vua Việt mà lại dùng khi thì chữ “Hoa”, khi thì chữ “Việt”!
Như vậy có nghĩa là dân thì dùng tiếng Việt còn vua và quý
tộc thì đã bị “Hoa” đồng hóa cho nên quen dùng tiếng Hoa
và sợ rằng dân Việt không hiểu nên kèm theo tiếng Việt!
Lại có người nói rằng “Dân Việt thời đó đã bị đồng hóa
bởi tiếng Hoa, cho nên lệnh vua phải kèm tiếng Hoa cho dân hiểu!”
Cho tới bây giờ người ta vẫn căn cứ theo những cái sai của
tinh thần chủ quan, không thực tế, không hiểu tiếng Việt mà
lại đi giải nghĩa tiếng Việt để rồi giải nghĩa “Duy giáp lệnh”
hoàn toàn sai bét! Trong khi, những cái đúng của sử quan
ngày xưa thì không ai hiểu, bị bỏ qua để hiểu theo nghĩa
khác !
Tôi xin ghi lại nguyên văn Duy giáp lệnh như sau:
維甲 修內矛 Duy giáp tu
nội mao
方舟航 治須慮 phương châu
hàng trị tu lự
習之于夷. Tập chi vu
di
宿之于萊. Túc chi vu lai
致之于單. Chí chi vu
đan
Như vậy, cái lệnh của vua Việt Câu Tiễn thật ngắn
gọn, vẻn vẹn có 23 chữ. Nhưng đó là sự thách đố suốt 25 thế kỷ.
Muốn giải nghĩa được, cần tìm nghĩa những từ sau:
- Chữ Tuyệt (絕), ngày nay chúng ta đọc là Tuyệt絕
trong khi cổ xưa lại đọc là Chép絕. “Việt chép” (越絕) bây giờ
trở thành “Việt tuyệt thư” (越絕書).
- Chữ Đôi 堆 nghĩa là đống (ví dụ đống đất),
tiếng Mân Việt-Triều Châu lại đọc là “Túi堆” và cũng có
nghĩa là “tất cả”. Nguyên một đoàn người thì có thể nói
là nguyên một “túi堆”-(“đống堆”) người. - Chữ Duy 維 ngày nay
chúng ta đọc là Duy維 nhưng trong “Duy giáp lệnh” thì có thể
ngày xưa đọc là “Tất” hoặc là chữ “Túi堆” và “túi堆 cả甲”
bị chép nhầm là “Duy 維Giáp甲” như trường hợp chữ chép絕 bây
giờ đọc là “Tuyệt絕”, quá khác nhau! Suy ra: 1, Ngày xưa ghi
là “堆甲-Túi cả =Tất cả” ; 2, Ngày xưa dùng chữ “Duy維” chính
là đọc thành “Tất” , cho nên “duy giáp維甲” cũng là “Tất cả維甲”
Nếu quý vị nào quen biết người Triều Châu biết
đọc chữ “vuông” theo tiếng Triều châu thì sẽ thấy là tiếng
Mân Việt có khác:
- “giáp 甲”: đọc là “Cả” .
- Nội-內: đọc là “lại” .
- lai-萊: đọc là “lái”.
- Châu舟: đọc là “chuấn”
Chỉ có người nào vừa biết tiếng Triều Châu
và tiếng Việt Nam mới dễ thấy được sự tương đồng và rõ
nghĩa. Ví dụ “Nội-內” có nơi đọc là “Lội” và Quảng Đông
đọc là “nồi” hay “lồi” thì không xa âm “Lại內” của Mân Việt-Triều
Châu bao nhiêu, và cũng từ đó sẽ dễ hiểu chữ “Tu修 lại 內mau矛”
tức là “Tụ lại mau” chứ không phải là “Sửa xoạn-bên trong-giáo
mác” như chuyên gia ngôn ngữ bên Trung Quốc đã giải thích!
_Xin giải thích từng chữ của “Duy giáp lệnh”
theo tiếng Việt và “Mân-Việt” (Triều Châu):
維: Duy hiện giờ đọc là “Uy” ngày xưa có thể
đọc là “Tất”! 甲Giáp đọc là “Ca, Cà , Cả”. 修 Tu. 內 Nội đọc
là “lai, lài, lại”. 矛 Mao đọc là “Mao”, “Mau”. 方 Phương. 舟
Châu đọc là “Chuấn”. 航 Hàng. 治 Trị đọc là “Tia”. 須 Tu. 慮
Lự. 習 Tập. 之 Chi đọc là “Chua” phát âm tương tự như “Cho”.于
Vu. 夷 Di. Chữ nầy là Di của “Đông Di”, nhưng mà ghi chú của
các sử quan ngày xưa ngay trong “Duy giáp lệnh” đã giải thích
“Di” nầy đọc là “Hổi 海”, Hải theo phát âm Triều Châu bây
giờ là “Hái海”, và người Quảng Đông ngày nay vẫn đọc Hải海
là “Hổi”. “夷Di” trong thời của “Duy giáp lệnh” là “Hổi海”.
宿 Túc đọc là “Sok”. 于 Vu. 萊 Lai đọc là “láy”. 致 Chí nầy
là “chí致mạng命” là “Chết”, trong “Việt tuyệt thư” khi dùng
“chí至” nghĩa là “đến” thì viết khác và viết là “Chí至”.
于 Vu. 單 Đan (hay đơn).
Ghi chú: theo tiếng Mân Việt-Triều Châu thì
những chữ sau đây sẽ là:
Duy維 trong bài nầy phải là chữ “Đôi” đọc theo
Mân Việt là “Túi”, là “tất” (tất cả).
Phương方Chuấn舟 là đa âm, ngày nay là chữ “Phuấn”
= Phóng.
Tu須Lự慮 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “tự”.
Vu于hổi夷 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “vổi”
= giỏi .
Vu于lái萊 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “vái”,
“Vãi” = vẻ.
Vu于Đan單 là chữ đa âm, ngày nay là chữ “van” =
vang.
Sau khi đối chiếu Hán Việt – Chữ Vuông/ cổ văn
- Việt/ Mân Việt/ Triều Châu- tiếng Việt ngày nay, tôi xin
trình bày phục nguyên “Duy giáp lệnh” của Việt Vương Câu
Tiễn như sau:
| Duy giáp tu nội mao |
維 甲 修 內 矛 |
Tất (Túi) cả tu lại mau |
Tất cả tụ lại mau |
| Phương châu hàngTrị tu lự |
方舟 航 治 須慮 |
Phuấn hàng Trị Tự |
Phóng Hàng trật tự |
| Tập chi vu di |
習 之 于夷 |
Tập cho Vu-hỏi |
Tập cho Giỏi |
| Túc chi vu lai |
宿 之 于萊 |
Sóc cho Vu-láy |
Sống cho Vẽ |
| Chí chi vu đan |
致 之 于單 |
Chí cho Vu-đan |
Chết cho Vang |
- Ngày xưa Việt Vương Câu-Tiễn đã nói
“Tất cả tụ lại mau. Phóng hàng
trật tự. Tập cho giỏi, sống cho vẽ, chết cho vang!”
Bây giờ nhờ vào tiếng Việt và tiếng Triều
Châu là tiếng Mân Việt (Tiếng Mân Việt ngày xưa khác với
bây giờ, giống tiếng Việt Nam hiện nay nhiều hơn, ngày nay
dù đã biến âm vì ảnh hưởng của Hoa ngữ-Quan thoại nhiều
nhưng không xa “nguồn gốc” lắm), cho nên tôi đã phục nguyên
được “Duy giáp lệnh” .
Đối chiếu với các lời ghi chú – giải thích
của các sử quan thời xưa ghi trong “Duy giáp lệnh” thì càng
thấy bản phục nguyên của tôi là đúng. Dưới đây là lời giải
thích của sử quan ngày xưa đã ghi trong “Duy giáp lệnh” mà
chưa có ai giải nghĩa chính xác cũng bởi vì người ta không
ngờ nhiều chữ chính là chữ “Nôm” cổ đại của tiếng Việt:
- “赤雞稽繇”者也: “Xích Côi kê chựu” giả dã=Người
“Xét côi tề tựu” vậy. (Kê雞: chữ Nôm cổ đại đọc là “Côi”).
Câu chú thích nầy dùng “chữ Nôm cổ đại” chứng tỏ được ý
nghĩa “Tụ lại mau”; Người ra lệnh “Tụ lại mau” là người
“Xét coi tề tựu” .
- 越人謂 “入铩”也: Việt nhân vị “Nhập Sát” dã = Người
Việt gọi “Nhanh” vậy. Chữ Nôm cổ đại: Nhập sát入铩 là đa âm,
nghĩa là “nhát” hay “nhat” (cổ ngữ không có cố định các
thanh “sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”) âm “nhat” là nói về
chữ “nhanh入铩” .
- “買儀塵”者: “Mại Nghi Trần” giả= người “bày nghi trận”. Chữ
Nôm cổ đại “Nghi trần” hoàn toàn trùng âm với “Nghi trận”.
Chữ Mại買 còn có âm đọc là “Bồi買” bên tiếng Triều Châu. Tiếng
Triều châu “mại買 mải賣” đọc là “bồi bôi” trong khi tiếng Việt
Nam hiện giờ vẫn dùng “Buôn bán-買賣” cho Mại買 và Mãi賣 là
mua vào và bán ra. “Mại nghi Trần” là “bày nghi trận” trong
“chữ Nôm cổ đại”. Điều này càng thấy “Tụ lại mau, phóng hàng
cho thẳng” đúng là đang “bày nghi trận”.
- 越人往如江也: Việt nhân vãng như giang dã. Câu chú
thích nầy dùng từ Hán Việt, ý nói người Việt đến tụ
hợp rất đông, hàng hàng lớp lớp ...(“vãng” là “vãng lai”
“vãng” là đến; “Như giang” là “như nước sông” ý nói hàng
hàng lớp lớp...)
- 越人謂船為 “須慮”: Việt nhân vị thuyền vi “tu lự”
- người Việt gọi thuyền là “tu-lự”. Sở dĩ có câu nầy là
vì vùng Giang Tô tiếng Việt (Ngô Việt) gọi thuyền là “xuy須-lùy慮”
phát âm tương đương tiếng “xuyềnh” của Quảng Đông và chữ “Thuyền”
bên tiếng Việt ngày nay. Câu nầy chỉ là phần giải nghĩa
thêm chữ “Thuyền” của một sử quan nào đó. Nó làm rõ nghiã
là “phóng hàng trật tự...” chứ không thể nào “phóng châu
mà “trị” thuyền, sửa thuyền!
- 亟怒紛紛者怒貌也怒至: Cực nộ phân phân giả nộ mạo dã
nộ chí - Câu chú thích bằng Hán Việt nói về những người
lính đang tập hợp phóng hàng là “Cực nộ bừng bừng”...
rõ ràng có dùng chữ “giả者” là “người”, vậy nó không thể nằm
trong bản mệnh lệnh!
- “士击高文”者躍勇士也: “Sĩ kích cao văn” giả diệu dũng
sĩ dã - Câu chú thích bằng tiếng Hán Việt nói về “sĩ
khí dâng cao” của những người đã “phóng hàng trật tự”,
cũng có chữ “giả者” là “người”, nên không thể nằm trong mệnh
lệnh!
- “夷”、 “海”也: “Di” , “Hỏi” (Hải) dã - chú thích
nầy lại nói rõ “Di” nầy là “hải海” là “hỏi” bên Hán Việt
nhã ngữ. Chú thích nầy quá lạ. Không ngờ thời xưa “Di” lại
đọc là “Hỏi”. Nhờ vậy mà biết được “vu-hỏi” là “vỏi”
tức là “giỏi” của ngày nay!
- “單”者堵也: “Đan” giả đồ dã - chú thích nầy khó
hiểu nhất ! “Đan單” giả là “Đồ單” dã! “Đồ” là đồ sát, là
giết chết... Có lẽ sử quan ngày xưa hiểu được ý câu “Sống
cho vẻ, chết cho vang” nên giải thích “đan” là “bị giết chết
khi đánh giặc là vẻ vang”. Ngày nay người Trung Hoa không hiểu
nên diễn giải là “tấn công thành lũy, công quang, đến khi chiến
thắng !
3. Kết luận:
Phục nguyên “Duy giáp lệnh” không khó nếu như
nắm vững qui luật đa âm thời cổ và đơn âm thời nay, cùng
với các phương ngữ Việt. Nhưng trình bày cho rõ lại là chuyện
không dễ! Việt nhân ca với Duy giáp lệnh là hai văn bản xa
xưa cho thấy rằng khoảng 2500 năm đến 3000 năm về trước, người
Việt đã có chữ “Nôm” rồi! Điều nầy phù hợp với “suy luận
theo lý lẽ” của tôi là chữ “Nôm” có trước và chữ “Hán-Việt”
hay chữ “Hoa” là có sau! Bởi vì, chữ “Hoa” hay “Hán-Việt” toàn
là đơn âm! Chẳng lẽ người xưa phải “chờ” đến khi ngôn ngữ biến
thành đơn âm hết rồi mới có chuyện sáng chế ra chữ viết?
Theo suy luận của tôi thì người xưa không chờ mà đã sáng
chế ra chữ viết ngay khi còn dùng tiếng nói đa âm. Đó là chữ
“Nôm”! Chắc chắn là không phải chỉ có riêng một người sáng
tạo ra chử của ngôn ngữ, vì không ai đủ sức và sống lâu
ngàn năm để làm được như vậy! Chính bá tánh toàn dân đã
sáng chế ra chữ viết “Nôm”. Bởi vậy nên chữ Nôm không có tính
thống nhất. Sau nầy các văn bản của triều đình được gọi
là “nhã ngữ” đã thay thế dần rồi làm thất truyền đi “chữ
Nôm”. Do vậy sau nầy người ta mới không hiểu và giải nghĩa
sai “Việt nhân ca” và “Duy giáp lệnh”! Có rất nhiều vết
tích để lại là chữ “Nôm” có trước. Hy vọng thế kỷ 21 sẽ
chứng minh được điều nầy.
( kỷ niệm đón xuân Canh dần 2010) - Đỗ N. Thành/
Nhạn Nam Phi .
*Tài liệu và bài liên quang:
-Việt Tuyệt Thư bản online: quyễn 3.Việt Tuyệt
Ngô Nội Truyện:
卷第三·越绝吴内传第四:
http://www.zsku.net/jiaoyu/sort01084/sort01086/sort01147/
1503616802479.html
- Phát Hiện lại Việt Nhân Ca: http://newvietart.com/index4.606.html
-Nước Việt của Việt Vương Câu-Tiễn và Mân Ngữ:
http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=
view&id=1590&Itemid=99999999
Nguồn: An Việt Toàn Cầu
1.11.2011
|