|
Chiến
thắng Kỷ Dậu: Quang Trung đại phá quân Thanh
Wikipedia
Trận
Ngọc Hồi - Đống Đa (hay Chiến thắng Kỷ Dậu) là tên gọi do các nhà
sử học Việt Nam dành cho loạt trận đánh chống ngoại xâm thắng lợi
của nước Đại Việt thời Tây Sơn do vua Quang Trung lãnh đạo vào đầu
năm Kỷ Dậu 1789, đánh tan hàng vạn quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị
chỉ huy - kéo sang do sự cầu viện của vua Chiêu Thống nhà Hậu Lê.
Trận Ngọc Hồi - Đống Đa khẳng định
sự tồn tại của nước Đại Việt trước hoạ xâm lược, chấm dứt sự tồn
tại của nhà Hậu Lê. Chiến thắng này còn đánh dấu việc nhà Tây Sơn
chính thức thay nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất Bắc Hà và trong
quan hệ với nhà Thanh.
Bối cảnh
Nước Đại Việt cuối thế kỷ 18 rất rối
ren và phân liệt nhiều hơn sau hơn 200 năm chia cắt Đàng Trong và
Đàng Ngoài. Vua nhà Hậu Lê chỉ tồn tại trên danh nghĩa ở Thăng Long
– nơi quyền hành trong tay các chúa Trịnh; còn từ sông Gianh trở
vào nam, đất đai do chúa Nguyễn cai quản, cũng lấy danh nghĩa "phù
Lê".
Năm 1771, ba anh em Tây Sơn là Nguyễn
Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổi dậy khởi nghĩa chống chúa Nguyễn
ở Đàng Trong. Sau hơn 10 năm kịch chiến, năm 1783, Nguyễn Nhạc lật
đổ sự thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tự lập làm vua Thái
Đức ở Quy Nhơn. Chúa Nguyễn mới là Nguyễn Ánh phải chạy sang Xiêm
lưu vong.
Năm 1786, Nguyễn Nhạc cử em là Nguyễn
Huệ mang quân đánh Phú Xuân – kinh thành cũ của chúa Nguyễn, bị
chúa Trịnh đánh chiếm năm 1775. Nguyễn Huệ đánh lấy Phú Xuân rồi
đánh thẳng ra Thăng Long với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh",
tiêu diệt chúa Trịnh. Anh em Tây Sơn giao hiếu với vua Lê rồi rút
quân về nam.
Do sự tranh chấp về quyền lực, Nguyễn
Nhạc và Nguyễn Huệ nổ ra xung đột đầu năm 1787. Nguyễn Huệ thắng
thế nhưng chấp nhận lời cầu hòa của vua anh.
Nhân cơ hội đó, các lực lượng chống
Tây Sơn trỗi dậy. Phía nam, Nguyễn Ánh nhờ sự giúp đỡ của người
Pháp, trở về đánh chiếm Gia Định. Đông Định vương nhà Tây Sơn là
Nguyễn Lữ bỏ Gia Định về Quy Nhơn. Phía bắc, các lực lượng thân
họ Trịnh dựng lại người trong tông tộc là Trịnh Bồng lên ngôi, bị
tướng Bắc Hà đã hàng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An kéo
ra đánh bại. Chỉnh ra cầm quyền ở Thăng Long mưu thay chúa Trịnh
chống Tây Sơn.
Mâu thuẫn giữa vua Lê và Tây
Sơn
Lê
Chiêu Thống lên ngôi trong bối cảnh chúa Trịnh vừa bị diệt, muốn
lấy lại quyền hành về tay, nhưng liên tiếp bị các tướng áp chế để
lập lại họ Trịnh. Chiêu Thống triệu Nguyễn Hữu Chỉnh về đánh trừ
được họ Trịnh thì lại đến lượt Chỉnh lộng hành.
Lúc đó Tây Sơn không còn ở Bắc Hà
nhưng vẫn giữ đất Nghệ An, mà cương thổ cũ của Đàng Ngoài là tới
sông Gianh thuộc Bắc Bố Chính (Quảng Bình). Vua Chiêu Thống tuy
không thích việc Chỉnh chuyên quyền nhưng lại đồng thuận với Chỉnh
trên 2 điểm[8][9]:
* Không muốn sự quay lại của họ Trịnh
* Không muốn chịu ảnh hưởng của Tây Sơn và không bằng lòng việc
mất Nghệ An cho Tây Sơn.
Do đó, Chiêu Thống đồng tình với Chỉnh
trong việc cử Trần Công Xán vào Phú Xuân đòi Nguyễn Huệ đất Nghệ
An. Nguyễn Huệ không bằng lòng trả Nghệ An, điều thêm quân ra Nghệ
An cho Vũ Văn Nhậm để chuẩn bị đánh ra bắc. Trong khi đó tình hình
Bắc Hà vẫn rối ren, Hữu Chỉnh vẫn phải lo đánh dẹp các lực lượng
thân họ Trịnh.
Tháng 11 năm 1787, Nguyễn Huệ sai
Ngô Văn Sở hợp sức với Vũ Văn Nhậm mang quân ra bắc. Nguyễn Hữu
Chỉnh mang quân ra đánh bị thua to. Tháng 12 năm 1787, Vũ Văn Nhậm
tiến vào Thăng Long, Lê Chiêu Thống cùng Chỉnh chạy sang Bắc Giang,
đóng ở Mục Sơn. Chỉnh bị quân Tây Sơn đuổi kịp, bắt được và giết
chết.
Vũ Văn Nhậm tiến quân đi đánh tan
các lực lượng phù Lê rồi sai người đi mời vua Lê về kinh. Vua Lê
không thuận, vẫn hô hào quân các trấn Bắc Hà cần vương chống Tây
Sơn. Bắc Hà rối loạn, các lực lượng thân vua Lê, thân họ Trịnh cũ
và quân Tây Sơn đánh lẫn nhau.
Trong lúc tướng Tây Sơn là Phạm Văn
Tham đang cầm cự với quân Nguyễn Ánh ở Nam Bộ, Vũ Văn Nhậm lại chuyên
quyền có ý chống lại Nguyễn Huệ ở Thăng Long. Tháng 4 năm 1788,
Nguyễn Huệ ra bắc lần thứ hai, giết chết Vũ Văn Nhậm. Nguyễn Huệ
bèn dựng hoàng thân Lê Duy Cận làm giám quốc, sai Ngô Văn Sở cầm
quân giữ Thăng Long và tháng 5 năm 1788 trở về Phú Xuân để chuẩn
bị nam tiến đánh Nguyễn Ánh theo thỉnh cầu của vua anh Nguyễn Nhạc.
Quân Thanh tiến vào Đại Việt
Lực
lượng phù trợ Lê Duy Kỳ thất thế. Tháng 5 năm 1788, mẹ Duy Kỳ cùng
các bầy tôi sang Long Châu cầu viện nhà Thanh phát binh đánh Tây
Sơn. Tháng 7 năm 1788, Chiêu Thống ở Kinh Bắc cũng sai người sang
Trung Quốc cầu viện. Càn Long nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt bèn
sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị mang từ 18.000 đến hơn 20
vạn quân (xem phần "Các ý kiến về số quân Thanh" bên dưới),
gồm các đạo binh huy động từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý
Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù Lê.
Quân Thanh chia làm 3 đường tiến sang
Đại Việt:
1. Quân Vân Nam, Quý Châu do đề đốc
Vân Quý là Ô Đại Kinh, từ Vân Nam qua ải Mã Bạch, theo đường Tuyên
Quang xuống Sơn Tây vào Thăng Long.
2. Quân Quảng Đông, Quảng Tây do Tôn Sĩ Nghị (chức tổng đốc Lưỡng
Quảng) trực tiếp chỉ huy, qua ải Nam Quan vào Lạng Sơn; phó chỉ
huy là Hứa Thế Hanh (chức đề đốc) cùng các tướng Thượng Duy Thăng,
Trương Triều Long (cả hai đều đang mang chức tổng binh), Lý Hóa
Long (chức phó tướng).
3. Quân tình nguyện Điền châu do Sầm Nghi Đống chỉ huy, theo đường
Long châu tiến vào Cao Bằng rồi tiến về Thăng Long.
Cả 3 đạo quân xuất phát vào cuối tháng
10 âm lịch năm 1788.
Càn Long còn đặc cử Phúc Khang An
chuyên trách hậu cần. Theo sách Thánh vũ ký, phần "Càn Long
chinh phủ An Nam ký" của Ngụy Nguyên đời Thanh, Phúc Khang
An đã thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai
đường Quảng Tây và Vân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ
ải Nam Quan tới Thăng Long, Khang An thiết lập 18 kho quân lương
trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân.
Tiền quân Tây Sơn vừa đánh
vừa rút lui
Khi
quân Thanh tiến qua biên giới, quân lính Tây Sơn bỏ trốn hết khiến
viên trấn thủ của Tây Sơn là Phan Khải Đức phải đầu hàng[10]
Ngô Văn Sở được tin quân Thanh kéo
sang liền nhóm họp các văn võ quan nhà Lê đưa một bức thư ký tên
Giám Quốc Sùng Nhượng Công, Lê Duy Cẩn sang xin hoãn binh với Tôn
Sĩ Nghị. Rồi các tướng Tây Sơn mở cuộc thảo luận.
Nhiều người bàn dùng phục binh đánh
quân Thanh như Lê Lợi diệt tướng Minh là Liễu Thăng, Lương Minh
trước đây, duy Ngô Thì Nhậm chủ trương kế hoạch, nhử quân Thanh
vào sâu nội địa, thủy quân rút về Biện Sơn trước, lục quân kéo vào
đóng giữ núi Tam Điệp rồi báo tin vào cho Bắc Bình Vương. Chiến
lược này được chấp thuận, binh sĩ các đạo đều được lệnh về hội ngay
dưới cờ của Tiết Chế Ngô Văn Sở tại bờ sông Nhị vào năm hôm sau.
Sở bàn kế hoạch lui quân.
Riêng Phan Văn Lân xin đem 1.000 quân
đi đánh. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức đánh vào quân Thanh đang
đóng ở núi Tam Tầng. Súng đạn của Thanh bắn ra như mưa. Quân Tả
Hữu Dực bắn châu vào quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị lại
phái một toán kỵ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông đánh úp lấy
đồn Thị Cầu. Đồn này phát hỏa, Văn Lân cả sợ rút về.[11]
Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788),
thành Thăng Long bỏ ngỏ, quân của Nghị vào đóng và tướng doanh của
Nghị đặt tại Tây Long Cung. Theo lời vua Thanh dặn, Sĩ Nghị lấy
xong thành này rồi trao ấn cho Duy Kỳ, tấn phong làm An Nam quốc
vương lấy lòng dân Đại Vệt.[11]. Ngày 22, Sĩ Nghị làm lễ ở điện
Kính Thiên để làm lễ sách phong cho vua Lê Chiêu Thống.
Lê Chiêu Thống được tin quân Tây Sơn
rút khỏi các trấn, bèn điều các tướng dưới quyền đi chiếm lại những
nơi đó. Giữa tháng 11 năm 1788, quân Thanh tới bờ bắc sông Thương.
Quân Tây Sơn rút về bờ nam nhưng chặt phá hết cầu và lấy hết thuyền
bè. Theo sách Thánh vũ ký, phần "Càn Long chinh phủ An Nam
ký" của Ngụy Nguyên, quân Thanh đã tổn thất khá nhiều mới bắc
được cầu qua sông do đạn của quân Tây Sơn bắn sang trước khi rút
hẳn.
Quân Thanh tiến đến Thị Cầu, Phan
Văn Lân đã chặt cầu và tận dụng bờ nam cao hơn bờ bắc mà bắn đại
bác sang khiến quân Thanh mất 3 ngày (15 đến 17 - 11) không bắc
nổi cầu. Nửa đêm 17 tháng 11, Phan Văn Lân mang quân theo khúc sông
Cầu định tập kích trại Tôn Sĩ Nghị nhưng bị thiệt hại do hoả lực
của quân Thanh bắn ra. Sau đó Văn Lân đụng độ tướng Thanh là Trương
Triều Long ở Tam Tằng. Quân Tây Sơn ít và yếu thế bại trận, rút
lui.
Trong khi đó, lục quân của Ngô Văn
Sở cũng rút về tới Ninh Bình cố thủ. Ngày 20 tháng 11, quân Tây
Sơn đóng đồn từ Tam Điệp tới Biện Sơn, Ngô Văn Sở cho đô đốc Tuyết
vào nam cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ.
Quân Thanh đóng đồn phòng
thủ
Tôn
Sĩ Nghị từ Tam Tằng tiến vào Thăng Long. Lê Duy Kỳ từ Kinh Bắc ra
đón rồi cùng theo vào kinh thành. Không lâu sau, các đạo quân Vân
- Quý và Điền châu cũng tiến vào hội binh.
Theo các nhà nghiên cứu[9], cuộc hành
quân của Tôn Sĩ Nghị từ 28/10 tới 20/11 tức là mất 22 ngày mới tới
Thăng Long, lâu hơn nhiều so với thời gian 6 ngày mà Nghị từng dự
liệu với Càn Long.
Tôn Sĩ Nghị bố trí quân Thanh đóng
ở phía nam tới phía tây thành Thăng Long, cho đạo quân Lưỡng Quảng
đóng hai bên bờ sông Hồng, quân Điền châu đóng ở Khương Thượng,
quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây.
Theo Hoàng Lê nhất thống chí và Khâm
định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, quân Thanh ở Thăng
Long chểnh mảng phòng thủ, thường đi cướp bóc hãm hại dân Đại Việt
nên bị oán ghét.
Lê Duy Kỳ thực hiện thanh trừng những
người hợp tác với Tây Sơn. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn Ánh ở Gia
Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long cũng sai Phan Văn Trọng
và Lâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng
giữa đường bị bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết.
Tôn Sĩ Nghị ban đầu chủ quan, sau
nghe lời cảnh báo của các tướng dưới quyền Lê Duy Kỳ cũng quyết
định ngày 6 tháng giêng sẽ ra quân đánh Tây Sơn. Để tăng cường phòng
thủ, Nghị bố trí đồn Ngọc Hồi ở Thanh Trì (Hà Nội), đồn Hà Hồi ở
Thường Tín (Hà Tây), đồn Nhật Tảo ở Duy Tiên (Hà Nam) và đồn Nguyệt
Quyết huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Quân Cần vương của Duy Kỳ do Hoàng
Phùng Tứ chỉ huy cũng được điều từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu làm tiền
đồn chặn quân Tây Sơn. Quân Thanh đồng thời cũng tụ tập thêm được
các Hoa Kiều sống ở phía Bắc Đại Việt được chừng một vạn người đóng
thành một trại, nhóm quân này ỷ thế đi cướp phá, và hãm hiếp không
kiên sợ gì ai[12]. Dù Tôn Sĩ Nghị có ra sắc lệnh nghiêm quân kỷ
nhưng vì quân kiêu nên cũng không có tác dụng lắm[13].
Vua Quang Trung bắc tiến
Ra quân
Bốn
ngày từ khi xuất phát tại Biện Sơn, ngày 24/11 đô đốc Tuyết vào
tới Phú Xuân cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ. Ngay ngày hôm
sau 25/11, Nguyễn Huệ quyết định ra quân.
Quân đội dưới quyền ông thực ra đã
có chuẩn bị tác chiến từ trước. Từ giữa năm 1788, tướng Tây Sơn
ở Nam Bộ là Phạm Văn Tham không chống nổi các tướng của Nguyễn Ánh,
thành Gia Định thất thủ và sau đó liên tiếp thua trận, đang cố cầm
cự ở Ba Thác. Nguyễn Nhạc tuổi cao lắm bệnh, bất lực không thể cứu
ứng Nam Bộ, xin nhường ngôi hoàng đế[14], đất đai và binh quyền
cho Nguyễn Huệ, tự xưng là Tây Sơn vương và thỉnh cầu ông vào cứu[15].
Để chuẩn bị Nam tiến, Nguyễn Huệ tổng động viên binh lính ở Thuận
Hoá, ngày đêm tập luyện. Tuy nhiên đạo quân hùng mạnh từ phương
bắc trở thành nguy cơ lớn hơn và Nguyễn Huệ quyết định bắc tiến
trước.
Ngày 25/11, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng
đế tại Phú Xuân, lấy niên hiệu Quang Trung và ra lệnh xuất quân.
Một giai thoại được truyền lại về
việc Quang Trung lập kế để động viên quân sĩ trước khi ra quân đánh
quân Thanh, tại lễ đăng quang ở Phú Xuân.
Sau lúc làm lễ, Quang Trung sai mang
đến cái mâm, trên để các đồng tiền, có phủ vải điều, rồi tuyên bố
với quân sĩ:
Ba quân hãy cùng ta quan sát, nếu
cả hai trăm đồng tiền này đều sấp, thì đó là điềm trời báo chúng
ta đại thắng. Nhược bằng, có đồng ngửa, thì đó là đại sự của chúng
ta có điều trắc trở.
Nguyễn Huệ chắp tay khấn vái, đặng
bưng mâm tiền, cung kính dâng lên cao, rồi hất tung xuống sân. Quân
sĩ thấy các đồng tiền nhất loạt đều sấp, reo hò mừng rỡ, tin chắc
trận ra bắc sẽ thắng quân Thanh.
Kỳ thực, Nguyễn Huệ đã sai đúc 200
đồng tiền có cả 2 mặt đều là mặt sấp.
Tăng
quân ở Nghệ An
Ngày 29/11, quân Tây Sơn đến Nghệ
An, đóng lại hơn 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ 3 suất đinh lấy
1 suất lính. Sau 1 thời gian ngắn, ông đã bắt được hơn 1 vạn người.
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, số quân cũ và mới của Quang
Trung là 10 vạn và hơn 100 voi chiến.
Về thái độ của dân chúng, sử gia Nguyễn
Khắc Thuần trong sách Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ghi
thì thanh niên địa phương nô nức gia nhập hàng ngũ Tây Sơn[16] còn
theo sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách Lịch sử nội chiến Việt
Nam 1771- 1802 thì trích trong thư giáo sĩ Longer là người đương
thời gởi cho Julliard cho biết quân Tây Sơn bắt lính “gay gắt đến
nỗi người ta không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ
sai nha đem chó theo để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người
ta tìm thú: người ta lấy dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu”[17]
Quang Trung tổ chức duyệt binh và
tiến ra bắc. Ngày 20/12, Quang Trung tiến đến Tam Điệp và tán thành
chủ trương rút lui của Ngô Thì Nhậm.
Theo sách Lê triều dã sử, sở dĩ quân
Tây Sơn hành quân nhanh chóng vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người 1
tốp thay nhau 2 người cáng 1 đi suốt ngày đêm.
Theo Quân doanh kỳ lược của Trần Nguyên
Nhiếp (là bí thư dưới quyền Tôn Sĩ Nghị), nghe tin thám tử quân
Thanh các nơi chạy về báo Nguyễn Huệ đang lấy thêm lính Thanh -
Nghệ và sắp đánh ra bắc, Tôn Sĩ Nghị vội cho quân tập dượt để chuẩn
bị tác chiến, sai phó tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận
phía nam Thăng Long.[cần dẫn nguồn]
Chia
đường xuất phát
Theo các nhà nghiên cứu hiện đại,
Quang Trung chia quân làm 5 đạo: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân.
Ông phân quân cũ cho các tướng còn tự mình chỉ huy số quân mới tuyển
để những người lính mới yên tâm chiến đấu. Các giáo sĩ phương Tây
khi nhìn thấy đạo quân Tây Sơn này đã mô tả họ tàn tạ như những
bệnh nhân do cuộc hành quân gấp gáp (dù họ chưa phải chiến đấu trận
nào).
1. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy
có Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tiên phong, có cả tượng binh và
kỵ binh đánh vào chính mặt nam Thăng Long.
2. Đạo quân do đô đốc Tuyết chỉ huy theo đường thuỷ tiến vào sông
Lục Đầu, đánh đồn quân cần vương của Lê Duy Kỳ ở Hải Dương, chặn
đường rút của quân Thanh bên kia sông Hồng.
3. Đạo quân đô đốc Lộc chỉ huy cùng đạo quân đô đốc Tuyết theo đường
thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, tới đây tách ra đi gấp lên Phượng Nhãn,
Lạng Giang chặn đường rút của quân Thanh phía bắc.
4. Đạo quân đô đốc Bảo chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo
đường Ứng Hoà (Hà Tây) ra làng Đại Áng, phối hợp với cánh quân Quang
Trung đánh đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh.
5. Đạo quân đô đốc Long chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo
đường Chương Đức, hướng lên Sơn Tây nhưng sẽ rẽ quặt sang làng Nhân
Mục tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống và tiến vào Thăng
Long từ hướng tây.
Đến nay, còn nhiều tranh luận chưa
đi đến thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về người chỉ huy đánh
đồn Khương Thượng. Giáo sư Nguyễn Phan Quang trong “Phong trào nông
dân Tây Sơn” nêu các giả thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng người
chỉ huy là đô đốc Long, có ý kiến cho rằng đó là tướng Đặng Tiến
Đông. Lại có ý kiến cho rằng hai người là một; và ý kiến khác cho
rằng đô đốc Long thực ra tên là đô đốc Mưu...
Ngày 30 tháng chạp, Quang Trung cho
quân ăn tết trước rồi hạ lệnh tiến quân. Ông hẹn với ba quân mồng
7 tháng giêng âm lịch sẽ vào ăn tết ở Thăng Long.
Quang Trung đại phá quân Thanh
Diệt
tiền đồn
Đêm trừ tịch (30 tết), quân Tây Sơn
xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Gián Thuỷ đánh
đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng
Tứ bỏ chạy.
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện,
quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám
và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyết và đồn Nhật Tảo (Duy
Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám
bị bắt, quân Thanh từ Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử
động của quân Tây Sơn.
Diệt
đồn Khương Thượng
Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn
Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây
– nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang
làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân Chính và Khương Đình và nửa đêm
bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống.
Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên,
các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân
Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy.
Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ
huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay). Nhà thơ
đương thời Ngô Ngọc Du đã làm bài thơ Loa Sơn điếu cổ có câu:
Thánh Nam thập nhị kình nghê quán
Chiến điệu anh hùng đại võ công
Dịch:
Thánh nam xác giặc mười hai đống
Ngời sáng anh hùng đại võ công
Khu vực Khương Thượng và xung quanh,
do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa
mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn
gọi là trận Đống Đa.
Tiến
vào Thăng Long
Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong
đêm mùng 4, đô đốc Long tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây
thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương
Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến
vào đánh bản doanh của Nghị ở Thăng Long.
Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các
tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất
thống chí viết:
“Nghị lên ngựa không kịp đóng yên,
quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh
nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết... Lát sau
cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không
chảy được...”
Đại Nam chính biên liệt truyện viết:
“Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được
tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy
vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết
đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được.”
Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên nhà
Thanh:
“Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc
sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo
quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do
đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để
bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả”[18],[19].
Lê Duy Kỳ được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy,
vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải
men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo
sang được bên kia sông Hồng. Em Duy Kỳ là Duy Chi được sai giữ cửa
ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Duy Kỳ đã chạy, cũng bỏ chạy
lên Tuyên Quang.
Trận
Ngọc Hồi
Sáng
mồng 5 tết, khi đô đốc Long tiến vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị đã
bỏ chạy, Quang Trung hạ lệnh đánh đồn Ngọc Hồi. Theo Đại Nam chính
biên liệt truyện, đồn này được Sĩ Nghị quan tâm phòng thủ nhất,
có phó tướng Hứa Thế Hanh đích thân ra chỉ huy. Đồn có hỏa lực mạnh,
xung quanh có địa lôi và chông sắt. Để phá hỏa lực địch, Quang Trung
làm sẵn 20 tấm mộc đỡ đạn có tẩm rơm ướt dàn đi trước.
Theo Lê quý kỷ sự và Việt sử Thông
giám cương mục, mờ sáng mùng 5, 100 voi chiến Tây Sơn tiến lên.
Ngựa quân Thanh sợ voi lui lại, giẫm lên nhau, lùi về đồn. Quân
Thanh không dám ra nữa, cố thủ trong đồn bắn ra. Quang Trung chia
tượng binh làm hai cánh, một cánh vòng qua sau đồn Ngọc Hồi, đóng
phía đông đê Yên Duyên để chặn đường địch rút; cánh kia dùng mộc
tẩm rơm ướt tiến lên hãm đồn. Đại bác quân Thanh bị vô hiệu lực.
Quân Tây Sơn tiến vào đồn hỗn chiến. Đại Nam chính biên liệt truyện
mô tả, quân Thanh không chống nổi chạy tản ra tứ phía, lại giẫm
phải địa lôi chính mình đặt từ trước nên bị chết rất nhiều. Đồn
Ngọc Hồi bị quân Tây Sơn thiêu cháy.
Quân Thanh từ đồn Ngọc Hồi chạy tới
đê Yên Duyên, trông thấy phục binh Tây Sơn chặn đánh, phải chạy
theo đường Vịnh Kiều[20] trốn về Thăng Long. Nhưng chạy tới nửa
đường thì gặp cánh quân đô đốc Bảo đánh tới từ làng Đại Áng. Quân
Thanh phải chạy lên làng Quỳnh Đô[21] định trốn vào đầm Mực. Theo
Hoàng Lê nhất thống chí, quân đô đốc Bảo tiến vào đầm Mực tiêu diệt
toàn bộ quân Thanh còn lại chạy từ Ngọc Hồi về đây.
Như vậy toàn bộ hệ thống đồn do Tôn
Sĩ Nghị thiết lập để phòng thủ ở nam Thăng Long đều bị quân Tây
Sơn tiêu diệt. Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các tướng Hứa Thế
Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận.
Khải
hoàn
Cũng
theo Thánh vũ ký, đạo quân Vân Nam – Quý châu đóng ở Sơn Tây được
tin các đồn thất thủ, tướng Ô Đại Kinh không giao chiến trận nào
đã bỏ chạy, nhờ tướng người Việt là Hoàng Văn Đồng dẫn đường chạy
về Trung Quốc.
Chiều mồng 5 tết, Quang Trung và đô
đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự chào đón của dân, đô đốc Long
ra đón rước vào thành. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, áo
bào của Quang Trung sạm màu khói súng.
Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị
bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh
ở Hải Dương và Phượng Nhãn, tơi tả chạy về, bỏ lại cả quân ấn, kỳ
bài, sắc thư. Trần Nguyên Nhiếp là bí thư dưới quyền Nghị sau này
mô tả: Sĩ Nghị cùng Nguyên Nhiếp đi lạc lối, quanh co nhiều chỗ,
bị đói khát 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan. Theo giáo sĩ De la Bissachere
ở Việt Nam khi đó, số quân Thanh kịp theo Nghị qua bên kia biên
giới chỉ có khoảng 50 người.
Lê Duy Kỳ vội chạy theo Nghị thoát
sang bên kia biên giới. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân Tây Sơn
đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được
Nghị và Duy Kỳ mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt
nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người.
Như vậy sớm hơn dự kiến, chỉ trong
vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Cánh quân Điền
châu gần như bị diệt hoàn toàn, cánh quân Lưỡng Quảng chủ lực bị
thương vong nặng và tan rã gần hết, riêng quân Vân Nam – Quý châu
không giao chiến mà rút êm về nước. Quang Trung đã hẹn với ba quân
mồng 7 vào ăn tết ở Thăng Long nhưng chỉ đến mồng 5, quân Tây Sơn
đã khải hoàn ở kinh thành.
Ngô Ngọc Du là một nhà thơ đương thời,
đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt đó
của Tây Sơn trong một bài thơ:
Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng
Quân vua một giận oai bốn phương
Thần tốc ruỗi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống dám ai đương
Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
"Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta"
Các
đồn bị hạ
* Gián Khẩu
* Yên Quyết
* Nhật Tảo
* Hà Hồi
* Ngọc Hồi
* Khương Thượng
* Nam Đồng
Tế quân Thanh
Sau cuộc chiến, Quang Trung ra lệnh
thu nạp và nuôi dưỡng hàng vạn tù binh Mãn Thanh[22]. Ông sai thu
nhặt xương cốt quân Thanh tử trận, chôn thành những gò đống, lập
đàn cúng tế và sai Vũ Huy Tấn soạn văn tế, biểu thị sự thương xót
với những quân, dân Trung Quốc chết xa nhà. Bài văn có đoạn:
Nay ta
Sai thu nhặt xương cốt chôn vùi
Bảo lập đàn bên sông cúng tế
Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc
Xuất của kho mà đắp điếm đống xương khô
Hồn các ngươi không vơ vẩn ở trời nam, hãy lên đường mà quay về
nơi hương chí
Nên kính ngưỡng ta đây là chủ, chan chứa lòng thành
Nhưng mong sao đáp lại đạo trời, dạt dào lẽ sống[23].
Chiến
thuật, hậu quả và ý nghĩa
Chiến thắng Kỷ dậu 1789 là một trong
những trận chiến chống ngoại xâm nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt
Nam và cũng được các nhà nghiên cứu Việt Nam như Nguyễn Lương Bích
và Phạm Ngọc Phụng đánh giá là chiến công oanh liệt nhất của hoàng
đế bách chiến bách thắng Nguyễn Huệ[24]. Chiến thắng này đã chặn
đứng ý định xâm chiếm Đại Việt của nhà Thanh dưới thời Càn Long
thịnh trị.
Hành quân thần tốc, hạ chớp nhoáng
liên tiếp gần 10 đồn, tiêu diệt quân địch đông hơn (theo sử Việt
Nam) từ cường quốc phương bắc. Tất cả chỉ diễn ra trong 6 ngày.
Yếu tố bất ngờ trong chiến thuật của Quang Trung luôn khiến quân
Thanh lâm vào thế bị động. Bất ngờ chiến lược mà ông giành được
là đánh địch ở không gian và thời gian do mình lựa chọn[25].
Đầu tiên là việc ra quân thần tốc.
Tôn Sĩ Nghị ban đầu yên tâm với hệ thống đồn phòng thủ liên tiếp
nương tựa nhau, định cho quân nghỉ ngơi tới mồng 6 ra quân đánh
Tây Sơn. Nhưng Tây Sơn hành quân quá nhanh tới Tam Điệp ngay từ
trước Tết nguyên đán buộc Nghị phải thay đổi kế hoạch. Từ chủ định
tấn công, Nghị không kịp điều quân thực hiện ý định đó mà phải phòng
thủ chờ quân Tây Sơn đến.[26].
Trong suốt cuộc hành quân bắc tiến,
đạo quân chủ lực do đích thân Quang Trung chỉ huy chính là đạo quân
giao chiến nhiều nhất. Liên tiếp hạ các đồn Gián Khẩu, Nguyệt Quyết,
Nhật Tảo rồi Hà Hồi, tưởng chừng mũi chủ công đang đà thắng trận
này sẽ sấn ngay tới Ngọc Hồi dù nó kiên cố. Thấy quân Tây Sơn tiến
nhanh và đã bị choáng váng vì mất liền mấy đồn từ Hà Hồi về phía
nam nên quân Thanh sẵn sàng nghênh chiến ở Ngọc Hồi ngoài cửa ngõ
Thăng Long. Việc Quang Trung hành quân quá nhanh và hạ các đồn tiền
tuyến cũng quá mau lẹ khiến quân Thanh ở Ngọc Hồi bị động, không
dám chủ động tác chiến. Nhưng đó chính là lúc biến ảo nhất trong
chiến thuật quân sự của Quang Trung tại lần bắc tiến này.
Theo sách của Nguyễn Lương Bích, Phạm
Ngọc Phụng thì mũi tên bay rất nhanh, từng xuyên thủng liên tiếp
các rào cản thì bất chợt dừng lại trước đồn Ngọc Hồi[27]. Quang
Trung bất ngờ hoãn binh không đánh, chỉ phô trương thanh thế cho
đạo quân của đô đốc Long, tưởng như sẽ đánh thẳng vào đạo quân Vân
Quý của Ô Đại Kinh ở Sơn Tây thì lại rẽ bước ngoặt quyết định vào
đồn Khương Thượng - sườn tây Thăng Long - chỗ Tôn Sĩ Nghị không
ngờ đến. Cuộc tập kích của đô đốc Long bất ngờ và mạnh mẽ tới mức
khi đồn Ngọc Hồi – lá chắn tin tưởng nhất của Nghị - chưa mất, Nghị
đã bỏ chạy. Việc quân đô đốc Long tung hoành trong kinh thành khiến
đồn Ngọc Hồi dù kiên cố song quân Thanh ở đó cũng giảm nhiều nhuệ
khí khi kinh thành sau lưng đã bị hạ - không còn được che chắn và
tiếp viện từ đại doanh của chủ soái họ Tôn. Mục tiêu trước mắt đạo
quân chủ lực của Quang Trung, chỉ sau 1 hôm, lại không còn là trở
ngại lớn như ban đầu nữa. Đó mới là lúc ông thúc quân đánh chiếm
đồn.
Như vậy là đạo quân chủ lực tác chiến
nhiều nhất lại không phải là đạo quân đâm nhát kiếm quyết định vào
quân Thanh để giải phóng Thăng Long. Đại doanh tan vỡ, chủ soái
Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy khiến quân Vân Quý không đánh phải tự rút. Trường
hợp này tương tự như đạo quân Vân Nam của Mộc Thanh tháo chạy trong
khởi nghĩa Lam Sơn, khi đạo quân chủ lực của Liễu Thăng đã bị diệt.
Theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Lương
Bích, Phạm Ngọc Phụng, chiến thuật kết hợp vừa gấp gáp vừa thư thả,
giương đông kích tây, tránh chỗ mạnh nhằm chỗ yếu hơn ở Ngọc Hồi
– Khương Thượng đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự của
Nguyễn Huệ[28]. Trong 3 đạo quân Thanh, cánh quân đông đảo nhất,
mạnh nhất là của Tôn Sĩ Nghị và cánh quân ít nhất, yếu nhất chính
là quân Điền châu của Sầm Nghi Đống. Quang Trung đã chọn mục tiêu
đánh vào quân Điền châu vừa yếu nhất lại vừa dùng kỳ binh đánh bất
ngờ, vào thời điểm nửa đêm nên khả năng chiến thắng rất cao. Xét
trên toàn cục, với lực lượng ít hơn, quân Tây Sơn (10 vạn) thực
tế chỉ đương đầu với khoảng già nửa số quân Thanh sang Đại Việt
nên lực lượng tương đối cân bằng. Quang Trung đã không dàn lực lượng
tác chiến cùng lúc với tất cả các cánh quân Thanh (không đụng quân
Vân Quý của Ô Đại Kinh) mà vẫn có chiến thắng lớn trên toàn mặt
trận, đuổi được quân Thanh ra khỏi bờ cõi.
Những trận kịch chiến ở Khương Thượng
(hay Đống Đa) và Ngọc Hồi là lớn nhất, ác liệt nhất, mang tính quyết
định nhất trong toàn bộ chiến dịch bắc tiến đánh quân Thanh của
Quang Trung. Vì vậy, mặc dù chiến dịch phá quân Thanh còn nhiều
trận đánh khác nhưng đời sau vẫn thường gọi trận chiến này là trận
Ngọc Hồi - Đống Đa.
Trận Ngọc Hồi - Đống Đa chấm dứt sự
tồn tại của nhà Hậu Lê. Lê Duy Kỳ chạy sang lưu vong rồi chết ở
Yên Kinh. Vua Tây Sơn – hoàng đế Quang Trung sau đó không lâu chính
thức được nhà Thanh công nhận, trở thành người cai quản Bắc Hà.
Chiến thắng này cũng đánh dấu bước phát triển cực thịnh – dù không
dài - của nhà Tây Sơn.
Các
ý kiến khác nhau về số quân Thanh
Số quân Thanh sang Đại Việt được ghi
chép trong các sử sách của Việt Nam, của Trung Quốc, cũng như của
phương Tây có những điểm khác biệt rất lớn. Các nhà nghiên cứu Nguyễn
Phan Quang, Tạ Trí Đại Trường, Trần Gia Phụng đã có những tổng hợp
về các nguồn tài liệu liên quan tới vấn đề này; nguồn tài liệu do
các nhà nghiên cứu Việt Nam dẫn ra khá tương đồng[29]:
Việt Nam
* Sử sách của Việt Nam như Việt Sử
Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục, Lê Quý Kỷ Sự, Tây Sơn Thuật
Lược... không ghi chép rõ số quân Thanh.
* Hoàng Lê nhất thống chí có chép
lại "Tám điều quân luật" và "Bài hịch" của Tôn
Sĩ Nghị. Trong "Bài hịch", Tôn Sĩ Nghị tuyên bố số quân
Thanh có 50 vạn. Theo "Tám điều quân luật" thì "mỗi
người lính được cấp một tên phu" (điều 8). Vậy số quân Thanh
50 vạn thì số phu cũng 50 vạn và toàn bộ lên đến 1 triệu người.
Hầu hết các nhà sử học đều cho con
số đó có tính chất khoa trương lực lượng. Nhưng nó cũng cho ta biết
rằng 1 người lính chính quy sẽ có 1 người phu đi theo.
* "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện
sơ tập" (Q.30) và "Nguyễn Thị Tây Sơn Ký" chép số
quân là 20 vạn, nhưng không xác định con số đó có bao gồm lực lượng
thổ binh, nghĩa dũng và dân phu hay không.
* Tỷ lệ giữa binh lính và dân phu
trong các tài liệu cũng không thống nhất. Điều 8 trong "Quân
luật" của Tôn Sĩ Nghị quy định 1 lính được cấp 1 phu, trong
lúc "Lê Sử Toản Yếu" và "Minh Đô Sử" của Việt
Nam lại chép 1 chiến binh có 3 lương binh phục vụ.
* Bài "Chiếu phát phối hàng
binh, binh nội địa" của Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết, là
tài liệu được công bố ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu. Bài chiếu có
đoạn viết:
"Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị nhà các
ngươi sức hèn tài mọn, không biết dụng binh, vô cớ động binh đem
hai mươi chín vạn quân ra ngoài cửa ải, vượt suối trèo non vào nơi
hiểm nguy, xua các ngươi, một lũ dân đen vô tội vào chốn mũi tên
ngọn giáo. Đó là tội của tổng đốc của các ngươi."
Theo bài chiếu, tổng số quân Thanh
là 29 vạn. Theo ý kiến một nhà nghiên cứu Việt Nam là Nguyễn Phan
Quang, bài "Chiếu phát phối hàng binh nội địa" của Quang
Trung là một văn bản chính thức, đương thời, đáng tin cậy.[30] còn
theo ý kiến của 1 người Việt Nam khác là Giáo sư Trần Gia Phụng
thì 29 vạn quân tuy do Ngô Thời Nhậm là người trong cuộc viết nhưng
đây là một văn thư có tính tuyên truyền nên cũng chưa hẳn sát với
thực tế.[31]
Phương Tây
Một số thương nhân, giáo sĩ phương
Tây đến Đại Việt vào khoảng thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 có ghi lại
trong hồi ký và thư từ, một ít tư liệu về chiến thắng Kỷ Dậu 1789.
* Một thương nhân Anh là J. Barrow
đến Đại Việt năm 1792 lại ghi nhận một số liệu khác, số quân Thanh
là 10 vạn.
* Một nguồn thông tin thư từ của
một số người nước ngoài sống ở vùng Thăng Long ngay trong thời gian
xảy ra trận chiến này. Số thư từ này còn được ghi lại trong tập
"Nhật Ký của hội truyền giáo Bắc Kỳ" lưu trữ tại Nha văn
khố quốc gia Paris. Một bức thư gửi từ Thăng Long đề ngày 25/10/1788
phản ánh một "tin đồn" về 30 vạn quân Thanh sắp kéo sang
cứu viện cho Lê Chiêu Thống.
* Bức thư của một linh mục trông
coi giáo dân ở vùng Thăng Long đề ngày 26-12-1788 cho biết rõ:
"Viện binh Trung Hoa gồm độ 28
vạn người, một nửa đóng trong thành phố, nửa còn lại ở bên kia sông".
Theo nhận định của Giáo sư Trần Gia Phụng thì:
Nếu một nửa đóng trong thành phố,
nghĩa là có 14 vạn quân Thanh trong thành Thăng Long, thì thành
Thăng Long lúc đó có đủ sức chứa, chỗ ở và nuôi ăn hàng ngày cho
quân Thanh không? Ngoài ra, theo tài liệu Trung Hoa, quân Thanh
mất hết một nửa khi trở về nước, vậy mất hết khoảng 14 vạn (so với
28 vạn khi ra đi), vừa chết vừa mất tích, trốn chạy thì con số nầy
có thích hợp trong một cuộc chiến bằng vũ khí chưa tối tân? Tuy
nhiên con số 28 vạn của tài liệu nầy gần với con số 29 vạn mà Ngô
Thời Nhậm đã viết trong "Tờ chiếu phát phối hàng binh người
nội địa".[32]
Theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường
thì:
Còn về số ước tính của giáo sĩ, ta
nghĩ rằng họ thấy thanh thế quân Thanh to quá so với cá nhân con
người thời loạn trốn chui trốn nhủi như họ và người đương thời,
nên đã phóng đại ra...
Một tài liệu khác trong hồi ký của
giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de la Bissachère (1764-1830) xuất
bản tại Pháp năm 1812 cho biết rằng quân Thanh sang Đại Việt khoảng
40.000 người và bị giết tại trận khoảng 20.000 người. Do ông De
la Bissachère tới Đàng Ngoài năm 1790-chỉ 1 năm sau trận chiến và
ở lại cho đến năm 1798 nên Giáo sư Trần Gia Phụng cho rằng "có
thể ông (de la Bissachère) thu thập được nhiều nguồn tin và lượng
định con số quân Thanh sang nước Việt"[33].
Trung Quốc
* Đại Thanh Thực Lục, bộ sử chính
thức của nhà Thanh, ghi chép đầy đủ những lệnh dụ của vua Thanh
cho biết toàn bộ quân Thanh được lệnh sang đánh Đại Việt là 18.000,
trong đó số quân Lưỡng Quảng do Tôn sĩ Nghị trực tiếp thống lãnh
là 1 vạn và số quân Vân Quý do đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy là 8.000.
Đó chỉ mới là số quân chủ lực tinh nhuệ điều động ở bốn tỉnh phía
nam, chưa kể số "thổ binh", "nghĩa dũng" và
dân phu chuyển vận lương thực. Theo tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh
Thanh thì số dân phu phục vụ cho đạo quân Lưỡng Quảng đã hơn 10
vạn.
* Theo bài An Nam Ký Sự của Càn Long
thì "số quan quân có hơn một vạn, số phu đài tải lương thực
đến hơn 10 vạn".[cần dẫn nguồn]
* Trong "Càn Long chinh vũ An
Nam Ký", Ngụy Nguyên đời Thanh khoảng vài chục năm sau có chép:
số quân Thanh là 18.000, trong đó đạo quân Lưỡng Quảng là 10.000
và đạo quân Vân Quý là 8.000. Nhưng Ngụy Nguyên cho biết thêm: "bấy
giờ các thổ binh, nghĩa dũng đi theo, tiếng đồn đại binh có vài
chục vạn". Như vậy, số quân chủ lực có khoảng 2 vạn chưa tính
số "nghĩa binh", "nghĩa dũng" và dân phu vận
chuyển có vài chục vạn người. Dù vậy như Ngụy Nguyễn cũng nói, đây
chỉ là "tiếng đồn".
Theo các nhà nghiên cứu Tạ Trí Đại
Trường[34], Phan Huy Lê[35], Hồ Bạch Thảo[36] và Trần Gia Phụng,
sử sách nhà Thanh hạ thấp số quân viễn chinh để giảm bớt sự thất
bại trầm trọng của triều Thanh. Các sử gia Trung Quốc đó không ghi
chép đầy đủ các lực lượng của toàn bộ quân viễn chinh, nhưng chính
những đoạn ghi chép của sử sách nhà Thanh, nhất là bộ Đại Thanh
Thực Lục, lại bộc lộ nhiều mâu thuẫn: Số quân vài vạn mà Đại Thanh
Thực Lục ghi không tính đến "thổ binh", "nghĩa dũng"
và dân phu[37]. Hơn nữa, với đạo quân vài vạn thì triều đình nhà
Thanh chỉ cử tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị làm thống soái
và dưới trướng gồm một loạt võ quan cao cấp như: Đề đốc Phó tướng
Hứa Thế Hanh, Đề đốc Ô Đại Kinh, Phó tướng Khánh Thành, Phó tướng
Hình Đôn Hạnh; các tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long,
Lý Hóa Long cùng nhiều Tham tướng, Tri phủ, Tri huyện, v.v... Nếu
chỉ điều 1 vài vạn quân, Càn Long không phải quan tâm tới mức vài
ngày lại ra một chỉ dụ[38].
Theo Tiến sĩ Nguyễn Duy Chính của
Đại học Irvine, Hoa Kỳ thì sổ trả lương và kế toán của nhà Thanh
ghi rằng ở phía Đông (vùng Bắc Việt Nam) họ có 10.000 quân, phía
Tây có 8.000 và cộng thêm số theo những nguồn tài liệu khác, cũng
không quá 30.000 quân chính quy[39]. Và cũng trong phân tích này,
tiến sĩ có dẫn lại sử gia Ba Lan tên là Wieslaw Olszewski ghi quân
Thanh có 200.000 quân (không ghi rõ là loại quân gì) sang nước Việt
nhưng không rõ số đánh nhau với Tây Sơn là bao nhiêu[40].
Theo tính toán của Giáo sư Trần Gia
Phụng thì theo chính sử nhà Thanh, hai cánh quân của Tôn Sĩ Nghị
và Ô Đại Kinh khi cộng lại có 15.000 người; mỗi quân nhân được quyền
đem theo một người phu (điều thứ 8 của quân luật Tôn Sĩ Nghị) thì
số người Thanh qua Đại Việt tối thiểu là 30.000, thêm đoàn quân
tiếp liệu của Tôn Vĩ Thanh không dưới 10.000 người nên khi cộng
lại đã được 40.000 người. Đây là con số tối thiểu, mà thực tế theo
ông, phải cao hơn nữa do các tướng lãnh và sĩ quan Thanh chắc chắn
mỗi người đem theo hơn một người phu và trước đó để đánh một bộ
lạc 150.000 người nhà Thanh huy động đến 8 vạn quân, đại Việt thì
dân đông hơn rất nhiều nên con số 1 vạn quân là quá ít[41] Tài liệu
này khá khớp với tài liệu của giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de
la Bissachère khi ông cũng ghi lại rằng quân chính quy của nhà Thanh
sang Việt Nam năm đó có tối thiểu (đã bị chính sử Trung Quốc ghi
chép giảm bớt) 40.000 người. Giáo sư Phụng tin rằng con số quân
Thanh có thể còn cao hơn nữa chút ít, tuy nhiên có thể tạm tin được
con số 40.000 quân chính quy[42].
Chú thích
1. ^ Mùa Xuân
Nói Chuyện Đống Đa-GS Trần Gia Phụng trích từ Cao Tông thực lục:Theo
Cao Tông thực lục, cánh quân Lưỡng Quảng do Tôn Sĩ Nghị trực tiếp
điều động là một vạn người (10,000). Số quân nầy chia thành hai
khi đến Lạng Sơn. Hai ngàn (2,000) người ở lại Lạng Sơn, còn 8,000
người tiếp tục tiến đánh Thăng Long. Trong sách Thánh vũ ký, Ngụy
Nguyên cũng chép lại như thế. Cũng theo Cao Tông thực lục, ở phía
tây, đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh đem 5,000 quân qua đường Tuyên
Quang. Như thế, theo chính sử Trung Hoa, tổng số quân Thanh cả hai
cánh là 15,000 người.
2. ^ Theo Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, trích dẫn từ
Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên đời Thanh
3. ^ Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương
Lịch sử VN, NXB Giáo dục, năm 1997. Trang 442
4. ^ Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa-GS Trần Gia Phụng trích:Tài liệu
Tây phương thứ ba của giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de la Bissachère
(1764-1830) đến Đàng Ngoài khoảng năm 1790, viết trong hồi ký xuất
bản ở Paris năm 1812 rằng quân Thanh sang Đại Việt khoảng 40,000
người và bị giết tại trận khoảng 20,000 người. Giáo sĩ De la Bissachère
ở lại Đàng Ngoài cho đến năm 1798, nên có thể ông thu thập được
nhiều nguồn tin và lượng định con số quân Thanh sang nước Việt.
5. ^ Quang Trung-Nguyễn Huệ NXB Văn hóa Sài Gòn-Đặng Phương Nghi
phần Quang Trung dưới mắt các nhà truyền giáo phương Tây p292
6. ^ Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa-GS Trần Gia Phụng trích:Tài liệu
Tây phương thứ ba của giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de la Bissachère
(1764-1830) đến Đàng Ngoài khoảng năm 1790, viết trong hồi ký xuất
bản ở Paris năm 1812 rằng quân Thanh sang Đại Việt khoảng 40,000
người và bị giết tại trận khoảng 20,000 người.
7. ^ Quang Trung-Nguyễn Huệ, NXB Văn hóa Sài Gòn,Đặng Phương Nghi
phần Quang Trung dưới mắt các nhà truyền giáo phương Tây tr. 298
8. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
9. ^ a b Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài
quân sự của Nguyễn Huệ, NXB Quân đội nhân dân, 1976
10. ^ Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771-
1802, Sài Gòn: Nhà xuất bản Văn Sử Học, tr. 166 trích: Ở Lạng Sơn,
thấy quân lính dưới quyền trốn mất, Phan Khải Đức ra hàng còn Nguyễn
Văn Diễm rút vội về Kinh Bắc hợp với Trấn thủ Nguyễn Văn Hoà chống
giữ và đưa thư cáo cấp về Thăng Long.
11. ^ a b Việt sử Toàn Thư - trang 384.
12. ^ Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771-
1802, Sài Gòn: Nhà xuất bản Văn Sử Học, tr. 167
13. ^ Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771-
1802, Sài Gòn: Nhà xuất bản Văn Sử Học, tr. 167-168
14. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài quân
sự của Nguyễn Huệ, NXB Quân đội nhân dân, 1976, tr 217-219
15. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, danh mục tham khảo, tr
216
16. ^ Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt
Nam, Nhà xuất bản Giáo Dục, tr. 288
17. ^ Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771-
1802, Sài Gòn: Nhà xuất bản Văn Sử Học, tr. 168
18. ^ Quang Trung - Nguyễn Huệ, NXB Văn hóa Sài Gòn (2006), tr 89.
Bài Việt Thanh sử chiến của Hoàng Xuân Hãn, dịch Thánh Vũ ký của
Ngụy Nguyên
19. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, danh mục tham khảo, tr
239
20. ^ Nay là Vĩnh Quỳnh – Thanh Trì – Hà Nội
21. ^ Xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì – Hà Nội
22. ^ Quang Trung - Nguyễn Huệ những di sản và bài học, NXB Văn
hóa Sài Gòn, 2006, tr. 43
23. ^ Quang Trung - Nguyễn Huệ những di sản và bài học, NXB Văn
hóa Sài Gòn, 2006, tr. 44
24. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, danh mục tham khảo, tr
300-301
25. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, danh mục tham khảo, tr
265-266
26. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, danh mục tham khảo, tr
264
27. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, danh mục tham khảo, tr
234
28. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, danh mục tham khảo, tr
276
29. ^ Nguyễn Phan Quang - Một số công trình Sử học Việt Nam, tr
233-234; Tạ Trí Đại Trường - Việt Nam thời Tây Sơn tr 190-192 (Danh
mục tham khảo); CHIẾN THẮNG ĐỐNG ĐA - Trần Gia Phụng
30. ^ Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình Sử học Việt Nam,
tr 233-234
31. ^ Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa -Trần Gia Phụng trích:Con số hai
mươi chín vạn viết trên đây tuy do Ngô Thời Nhậm, người trong cuộc,
đưa ra trong một văn thư có tính tuyên truyền, thì cũng chưa hẳn
sát với thực tế. Có tài liệu thì viết rằng lực lượng quân Thanh
xâm lăng Đại Việt lên khoảng hai mươi vạn tức 200,000 quân.
32. ^ Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa -Trần Gia Phụng
33. ^ Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa -Trần Gia Phụng
34. ^ Tạ Trí Đại Trường, Việt Nam thời Tây Sơn - Lịch sử nội chiến
1771-1802, NXB Công an nhân dân, 2007, tr 190
35. ^ Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc
36. ^ Hồ Bạch Thảo, sách đã dẫn, tr 29
37. ^ Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn, tr 233
38. ^ Hồ Bạch Thảo, sách đã dẫn, tr 29
39. ^ Nhắc lại chiến thắng Tết Kỷ Dậu 1789
40. ^ Nhắc lại chiến thắng Tết Kỷ Dậu 1789
41. ^ Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa -Trần Gia Phụng..
42. ^ Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa -Trần Gia Phụng trích:Nói tóm
lại tài liệu của giáo sĩ La Bissachère, người có mặt ở Thăng Long
một năm sau trận đánh, phù hợp với số lượng mà chúng ta đã thử cộng
lại số người tối thiểu các cánh quân Trung Hoa theo tài liệu chính
sử Trung Hoa. Con số nầy có thể còn cao hơn nữa chút ít, tuy nhiên
có thể tạm tin được...
|