CHU VĂN AN (1292 –
1370)
CON NGƯỜI VÀ THỜI ĐẠI
Nguyễn Duy Chính
Tháng 9, 1998
Thân tặng những anh em CVA
Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả
lạc
Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong
(Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải là
cái thú vui của bậc hiền giả?
Núi Phượng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mãi
mãi ngưỡng mộ phong thái của kẻ triết nhân) - Câu đối thờ Chu An
Hơn 600 năm trước, nhà nho Chu An đã một thời làm
rạng danh cho giai cấp sĩ phu, nêu cao khí tiết và thể hiện tinh
thần chính trực uy vũ bất năng khuất. Trong khi chính sự suy đồi,
tình thế nhiễu nhương, ông đã hiên ngang dâng sớ xin chém bảy người
nịnh thần, và khẳng khái từ quan khi không được nhà vua chấp thuận.
Ông trở về thiết trường dạy học, mang cái phong vị “giày cỏ, vớ
gai” để truyền bá đạo lý thánh hiền.
Chu An tự là Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, người làng Quang Liệt, huyện
Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Sử sách không chép ông sinh năm nào, chỉ
biết ông mất năm Canh Tuất (1370). Theo thần tích đình làng Thanh
Liệt, nơi thờ ông làm Thành Hoàng thì ông sinh năm Nhâm Thìn (1292).
Như vậy ông thọ 79 tuổi. Ông đỗ Thái học sinh (tức tiến sĩ) nhưng
không ra làm quan mà ở tại quê nhà. Ông tính ưa đọc sách, dựng mộït
ngôi nhà ở sườn đồi, cạnh bờ đầm vừa làm thư viện, vừa làm trường
lại là nơi soạn sách.
Cứ theo sử cũ, thời Trần nước ta có bốn học hiệu, có thể coi như
bốn đại học quốc gia, gồm học hiệu Trần Ích Tắc, học hiệu Thiên
Trường, thư viện Lạn Kha và học hiệu Cung Hoàng của Chu An. Cứ theo
phỏng đoán, thư viện Lạn Kha trong núi Phật tích có lẽ thiên về
Thiền tông vì do triều đình thiết lập, học hiệu Trần Ích Tắc dành
cho vương tôn công tử và tôn thất nhà Trần, chỉ có hai học hiệu
Thiên Trường và Cung Hoàng mới thực sự là của dân gian.
Chu An là một danh nho, từng sáng tác nhiều sách vở trong đó có
Tứ Thư Thuyết Ước, Tiều Ẩn thi tập và Quốc ngữ thi tập nhưng đều
bị người Tàu thời Minh thuộc tịch thu đem về Kim Lăng cả. Ông còn
soạn một cuốn sách thuốc có tên là Y Học Yếu Giải Tập Chu Di Biên.
Khi ông mất, vua Nghệ Tông đặt tên thụy là Văn Trinh, truy tặng
tước Công (tước lớn nhất trong năm tước mà người ngoài hoàng tộc
có thể được phong), ban hiệu là Khang Tiết tiên sinh và được đem
vào thờ trong văn miếu. Ngô Thế Vinh trong bài văn bia ở đền Phương
Sơn đã giải thích : Văn ,đức chi biểu dã. Trinh, đức chi chính cố
dã (Văn là cái vẻ đẹp bên ngoài của đức. Trinh là sự bền vững bên
trong của đức, nghĩa là cả ngoại mạo và tâm hồn ông đều đạo đức
và kiên định).
Trường ông lại đào tạo nhiều danh thần như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát
giữ đến chức hành khiển (người đứng đầu một đạo, ngang Tổng đốc
sau này) mà đến thăm thầy vẫn chắp tay đứng hầu. Tổng hợp một số
chi tiết liên quan đến Chu An, người ta tin rằng ông đặt nặng vấn
đề cương thường, luật pháp và có thể coi như một tư tưởng gia và
cũng là một hành chánh gia lỗi lạc. Chính vì thế mà ông được vua
Trần Minh Tông triệu vào cung làm tư nghiệp Quốc Tử Giám lại kiêm
việc dạy Thái tử. Tư Nghiệp Quốc Tử Giám là hiệu trưởng trường dạy
người ra làm quan.
Sự nghiệp của ông sau này được nhắc đến nhiều qua bài “Thất Trảm
Sớ’ tức lời tâu xin chém bảy tên nịnh thần đời Trần Dụ Tông, nhưng
thực sự tính theo niên biểu, ông làm quan một thời gian rất dài,
từ đời Minh Tông (1314-1329), qua đời Hiến Tông (1329-1341) tới
đời Dụ Tông (1341-1369). Sau khi Minh Tông thượng hoàng mất (1357),
Dụ Tông nắm quyền, dùng những kẻ gian, ông can ngăn không được mới
“treo mũ ở cửa Huyền Vũ”, từ quan về ở ẩn núi Chí Linh (Hải Dương).
Vua Dụ Tông tên thật Trần Hạo, là con thứ mười vua Minh Tông, sinh
năm Bính Tý (1336) lên ngôi lúc mới 5 tuổi (Tân Tị 1341). Mười sáu
năm đầu vì có thượng hoàng Minh Tông quyết định mọi việc nên tình
hình tạm ổn, nhưng từ khi thượng hoàng mất (1357), Dụ Tông ăn chơi
xa xỉ, cơ nghiệp suy đốn rất mau. Có lần nhà vua lẻn ra ngoài thành
chơi, đêm về bị kẻ cướp chặn lại lấy mất cả gươm lẫn ấn. Năm Kỉ
Dậu (1369) nhà vua mất, ngôi nhà Trần về tay Dương Nhật Lễ. Nhật
Lễ vốn là con của một người nhà trò (người làm nghề xướng ca) tên
là Dương Khương. Vợ Dương Khương cũng là con hát, đang có thai thì
bị Cung Túc Vương Trần Dục cướp về làm vợ. Đứa con đó là Nhật Lễ.
Vì thế Nhật Lễ khi lên làm vua đổi lại họ Dương. Tôn thất nhà Trần
hợp sức lật đổ Dương Nhật Lễ tôn con thứ vua Minh Tông là Cung Tĩnh
Vương Trần Phủ lên làm vua tức vua Nghệ Tông.
Tuy đã về hưu, mỗi khi hội lớn Chu An vẫn vào kinh sư để lấy ý can
ngăn nhà vua và răn đe lũ nịnh thần không cho làm điều quá đáng.
Vua Dụ Tông muốn đem chính sự giao cho ông nhưng ông từ chối. Hiến
Từ Hoàng Thái Hậu bảo:
- Người này không thể bắt làm tôi được, làm sao có thể sai bảo ông
ta.
Vua lại ban cho mũ áo nhưng ông tạ ơn rồi lại đem cho người khác
chứ không giữ. Chỉ đến khi Dụ Tông băng hà, ông nghe tin vua Nghệ
Tông lên ngôi mới chống gậy vào bái yết rồi lại về quê.
Ngoài những đức tính khi làm quan, làm thầy, Ngô Sĩ Liên trong Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư tôn ông là tổ của Nho gia nước Việt và đặt ông
hơn hẳn những danh nho khác như Trương Hán Siêu, Trần Nguyên Đán.
Chúng ta thử xem lời nhận định đó dựa trên căn bản nào?
Trước thế kỷ thứ 14, nước ta tuy đã có tổ chức hành chánh và cương
vực rõ rệt nhưng về văn hóa có lẽ còn ở mức sơ khai. Mặc dù mình
chịu ảnh hưởng của người Tàu sau hơn 1000 năm đô hộ, có thi cử,
có văn chương nhưng vẫn còn nhiều nét thuần phác. Xem những tác
phẩm còn sót lại ngày nay, chỉ được một ít bài có giá trị. Hơn thế
nữa, tuy giai đoạn tự chủ của chúng ta đã kéo dài vài trăm năm nhưng
vẫn chinh chiến nhiều, hết nội loạn tới ngoại xâm.
Đời Đinh, Lê chúng ta đã phải lo củng cố thực lực,
sang đời Lý lại chinh chiến nhiều phen với Trung Hoa, với Chiêm
Thành. Đến đời Trần, giai đoạn đầu, nhà Trần tuy có xây dựng được
một số qui tắc trị nước và định chế giáo dục nhưng vẫn thiên về
hình pháp, mang tính chất trấn áp và củng cố quyền lực hơn là văn
hóa. Vừa ổn định được một chút, thì bốn lần giặc Nguyên sang chiếm
nước ta, cả nước chuyển qua thế chiến tranh chống giữ. Thắng được
địch đã là một kỳ công nên việc xây dựng mộït nền móng vững vàng
về học thuật, chính trị, hành chánh chưa kịp tiến hành.
Phải đến đời vua Anh Tông (1293-1314) nước ta mới tạm yên. Chính
từ giai đoạn này, vai trò của Chu An nổi bật lên vì ông đã chuyển
biến từ một tổ chức hành chánh có tính chất bộ tộc lên tầm vóc một
quốc gia. Chuyển biến đó không nằm trong hình thức công quyền nhưng
nằm trong một số định chế và quan niệm cơ bản.
Thứ nhất, từ đời Anh Tông, tầng lớp quan lại là thành phần có vai
trò quyết định trong việc nắm giữ vận mệnh quốc gia đã chuyển từ
giới quí tộc nhà Trần sang giới nho sĩ. Theo sách vở, triều đình
có những lương đống như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu,
Nguyễn Trung Ngạn, Chu An đều không phải người trong tôn thất. Tuy
vẫn có những tranh chấp trong giới thân tộc nhà Trần nhưng giới
quan lại giữ được tư thế độc lập, không để bị lôi cuốn vào những
phe đảng của hoàng gia. Giai đoạn này mặc dù các hoàng thân quốc
thích vẫn còn giữ những thái ấp, điền trang rộng lớn nhưng chỉ là
những phú gia chứ không còn vai trò quyết định quốc gia như thời
kỳ đầu. Ngay cả binh quyền cũng đã giao cho nhiều người thuộc hàng
dân dã. Chúng ta cũng đã thấy, triều Trần cũng như nhiều triều đại
khác, giao phó việc quân sự cho một số người trong hoàng tộc, thường
dân chỉ làm tì tướng, phó tướng. Đến giai đoạn này, quyền lực đó
đã giảm dần.
Thứ hai, quốc gia tuy vẫn chú trọng việc quân sự nhưng đã chuyển
hướng nỗ lực sang xây dựng những định chế hành chánh, giáo dục,
kinh tế và xã hội. Luật lệ được qui định rõ ràng, thay thế tính
chất điền ấp nông nô. Tổ chức hành chánh được thành lập, có hệ thống
quan chế, văn võ. Khoa thi Thái học sinh được mở ra từ năm 1323,
lại cấm thói vẽ mình của quân lính. Chu An cũng cải tổ lại việc
thi cử và khuyến khích việc dùng quốc âm. Chính ông cũng làm thơ
bằng chữ nôm. Tuy không rõ đời này thi cử gồm những môn gì nhưng
thuở ấy nước ta không chỉ theo lối từ chương mà cũng có những học
thuật mới, chẳng hạn như Trần Nguyên Đán đã soạn được bộ Bách Thế
Thông Khảo nghiên cứu về thiên văn, lịch pháp. Đời Hồ lại có toán
pháp trong kỳ thi đủ biết ông cha ta cũng chuộng thực dụng. Những
cải cách về quân sự, những phát kiến về chiến thuyền, súng thần
công vài mươi năm sau cho thấy thời đó trình độ khoa học của nước
ta khá cao, nhiều điểm trội hơn cả Tàu. Có lẽ vì thế mà khi lấy
được nước ta, nhà Minh bắt hết nhân tài, thợ khéo đem về nước .
Việc cải cách thi cử cho ta thấy quốc gia đã chuyển từ việc sử dụng
người thân thích trong hoàng tộc sang việc dựa trên thực tài để
tuyển dụng quan lại trị nước.
Thứ ba, từ một xã hội với tinh thần đa giáo – Nho Thích Lão – Chu
An và những bạn đồng liêu đã đẩy lùi hai tôn giáo lớn là Phật và
Lão xuống quần chúng và nâng Nho giáo lên thành một thứ khuôn mẫu
chính trị. Không phải ngẫu nhiên mà Văn Trinh Công đã trước tác
Tứ Thư Thuyết Ước và rất có thể đây là một trong những diễn dịch,
bình luận và giải thích đạo nho sớm nhất của Việt Nam. Tuy hiện
nay chúng ta không còn tài liệu nào về tác phẩm này nhưng có lẽ
Chu An có quan điểm riêng chứ không sao chép lại quan điểm của Tống
nho, Hán nho.
Chuyển biến từ một học thuật sang một định chế chính
trị, Chu An đã khởi đầu một thời kỳ mới trong đó nho giáo trở thành
chương trình học đường chính thức và Tứ Thư là sách giáo khoa cho
bất cứ sĩ tử nào muốn đi thi. Khuôn mẫu chính trị của ông nằm trong
tám chữ cùng lý, chính tâm, tịch tà, cự bế.
Cùng lý là hiểu phải cho đến nơi đến chốn, chính
tâm là giữ lòng cho ngay thẳng, tịch tà là trừ bỏ thói hư, tật xấu,
chống lại tà thuyết và cự bế là ngăn ngừa cái dở. Bốn điều đó cho
thấy ông chú trọng hai điều tích cực (phải theo) và hai điều tiêu
cực (phải chống). Mặc dù không ai biết tịch tà, cự bế được hiểu
theo nghĩa nào nhưng thời đó đạo Phật, đạo Lão suy vi, nhiều tăng
lữ pháp sư thích chuyện huyền hoặc, mê tín nên một số danh nho đã
lên tiếng đả kích.
Có lẽ Chu An cũng muốn nhấn mạnh vào việc bài xích
dị đoan. Điều đáng nói là ông không chống lại Phật Lão để nâng Nho
giáo lên hàng độc tôn, nhưng rõ ràng chú trọng về xây dựng một xã
hội trong cương thường, pháp trị theo khuôn mẫu Khổng Mạnh. Thành
thử, đời sống ông vẫn không câu nệ mà lại tiêu dao tự tại. Biệt
hiệu Tiều Ẩn mô tả cái phong vị nhàn nhã và là một hình ảnh khoáng
dật rất Lão Trang. Hai câu của ông nói lên điều đó:
Thân dữ cô vân thường luyến tụ,
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan.
Tạm dịch
Lòng như giếng cũ đâu còn sóng,
Thân với mây chiều vẫn nhớ non.
Chỉ mười sáu chữ mà ta thấy cái tĩnh lãng, hư không
chan chứa trong đời sống, nói lên một sự tiêu biểu của tam giáo
hòa đồng, khi trẻ thì mòn gót lỏng trán để giúp đời nhưng khi già
thì quay lại làm bạn với mây ngàn hạc nội.
Thứ tư, Chu An và thế hệ của ông cũng san định lại phong hóa, lễ
nghi cho xã hội Việt Nam. Trước đây, dân tộc Việt có lẽ chưa có
những qui phạm rõ rệt và đời sống và sinh hoạt còn nhiều tính chất
bản năng. Điển hình là nhà Trần có thói anh em, họ hàng lấy lẫn
nhau. Rất có thể tục lệ này thời đó phổ thông ở nhiều nơi trên đất
nước chúng ta nên khi đưa vào triều đình không ai phản đối. Từ thời
Chu An, ngoài cải tổ hành chánh, ông cũng qui luật hóa các phong
tục xã hội, tạo nên một bản sắc riêng cho một quốc gia mà người
Tàu phải gọi là “văn hiến chi bang” . Người trong cùng họ không
được kiện cáo lẫn nhau để nâng cao tinh thần gia tộc và liên đới
trách nhiệm. Tuy đây chỉ là một điểm nhỏ trong cơ chế luật lệ thời
bấy giờ, chúng ta có thể nghĩ rằng Chu An muốn chấn chỉnh lại phong
hóa ngõ hầu củng cố cái gốc của nước là lòng dân hầu bảo tồn thực
lực khi có ngoại xâm.
Tiếc rằng vua Dụ Tông quá hèn kém, lại ham chơi nên
Văn Trinh Công đành bất lực không cứu vãn được cơ nghiệp nhà Trần.
Từ những ưu điểm đó, tuy về sau nước ta bị nhà Minh xâm chiếm nhưng
chỉ một thời gian ngắn lại giành được độc lập và đời Lê là một trong
những giai đoạn thịnh trị nhất trong lịch sử. Có thể nói một số
thành quả của triều Lê chính là ảnh hưởng nối dài của giai đoạn
cuối đời Trần mà Chu An là người khởi xướng.
Nói tóm lại, Chu An là một nhân vật hành chánh có công cải cách
đã đành, nhưng đứng trên phương diện văn hóa, ông cũng đã có ảnh
hưởng rất quan trọng. Ông là gạch nối giữa một thời đại mà dân tộc
chúng ta tuy đã lừng lẫy về võ công nhưng văn minh lại chưa phát
triển lắm để chuyển sang một thời kỳ xây dựng bản sắc dân tộc riêng
ở một góc trời. Tuy sự nghiệp của ông không hoàn thành trọn vẹn,
phần vì vua chúa hôn ám, phần vì vận nước ngả nghiêng, hết giặc
Chiêm Thành lại đến giặc Minh tàn phá toàn bộ di sản tinh thần mà
thời đại của ông đã gây dựng nhưng vẫn đánh dấu một bước ngoặt lớn
trong lịch sử.
Một điều đáng tiếc là ngoài một vài lời phê bình
về ông, chúng ta không biết chắc quan điểm của ông như thế nào.
Nhiều học giả sau này đã phàn nàn là chủ trương thâm độc của nhà
Minh đã hủy diệt toàn bộ kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam mà
triều Trần đã lên đến cao điểm cả về binh bị lẫn học thuật. Sau
thời Minh thuộc, tuy triều Lê có thừa hưởng một phần nhỏ cái phong
thái văn minh của nhà Trần nhưng không bao lâu lại rơi vào cái học
hư văn, khiến Nho học trở thành một con đường tiến thân chật hẹp
mà nhân tài không thoát ra được. Lê Quí Đôn đã phải than là “Sau
khi khôi phục, sĩ phu ít ỏi, đến đời Hồng Đức thì khoa mục nặng
hư văn, từ đời Đoan Khánh thì suy bại quá lắm.” Chúng ta hãy đọc
lại nguyên văn lời bình của Ngô Sĩ Liên về ông để thấy rõ vị trí
của Chu An:
Người hiền được dùng ở đời thường lo vua không thi hành điều sở
học của mình. Vua thì dùng người hiền mà hay lo người hiền không
theo ý muốn của mình. Cho nên, vua tôi gặp nhau, từ xưa đã là rất
khó. Nho gia nước Việt ta được dùng rất nhiều, nhưng kẻ thì chỉ
nghĩ đến công danh, kẻ thì lo làm giàu, kẻ chỉ xu phụ, kẻ chỉ cốt
ăn lộc giữ thân, ít ai chịu để tâm đến đạo đức, lo nghĩ việc giúp
vua nêu đức tốt để cho dân được nhờ.
Tô Hiến Thành thời Lý và Chu Văn Trinh đời Trần có
lẽ cũng gần được. Nhưng Hiến Thành gặp được vua sáng nên công danh
sự nghiệp được thấy ngay đương thời, còn Chu Văn Trinh đời Trần
không gặp được vua anh minh nên chính học của Ông phải đến đời sau
mới thấy được. Văn Trinh thờ vua thẳng thắn mà can ngăn, xuất xử
thì làm theo nghĩa lý, đào tạo người tài thì công khanh đều ở cửa
nhà ông mà ra, tiết tháo của ông cao thượng đến thiên tử cũng không
bắt làm bề tôi được.
Huống chi, tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được
nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ. Ngàn năm về
sau, nghe phong độ của ông, há kẻ điêu ngoa lại không thành liêm
chính, kẻ yếu hèn lại không biết tự lập hay sao? Nếu không tìm hiểu
nguyên cớ, thì ai biết thụy hiệu (tên hiệu khi chết do người sống
căn cứ vào hành vi, tính nết lúc sinh thời mà đặt) của ông xứng
đáng với con người của ông. Ông xứng đáng được coi là ông tổ của
nho gia nước Việt để thờ trong Văn Miếu.
Những người khác như Trần Nguyên Đán là bậc hiền
tài trong khanh sĩ, cùng họ với vua, tuy có khí phách trung phẫn
nhưng lại bó tay bỏ mặc vận nước không biết làm sao, chỉ lánh quyền
tướng quốc để mong bảo toàn gia thuộc. Trương Hán Siêu là quan văn
học, tài vượt hẳn mọi người, tuy cứng cỏi, chính trực nhưng lại
chơi với kẻ không đang chơi, gả con gái cho người không đáng gả.
Họ so với Văn Trinh có gì đáng kể, huống hồ những kẻ còn kém hơn
hai ông này.
(Đại Việt Sử Ký toàn thư, bản kỷ quyển 7, tờ 34a-b và 35a-b).
Một sử thần vốn nổi tiếng là kỹ lưỡng, kén chọn từng chữ, từng lời
đã giành bấy nhiêu câu khen ngợi đủ thấy Chu An được kính trọng
đến thế nào.
Lê Tung trong Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận thì hạ bút ca tụng
bài Thất Trảm Sớ là “Thất trảm chi sớ, nghĩa động càn khôn” (bài
sớ xin chém bảy tên nịnh thần, nghĩa khí động tới trời đất)
Tính khí của ông lẫm liệt đã đành, văn chương của ông cũng hết sức
cao tiết. Phan Huy Chú phê bình Tiều Ẩn thi tập là “Thơ hết sức
trong sáng, u dật, nhàn nhã tự tại, khiến người đọc tưởng như thấy
được cái thú cao của việc ở ẩn như thế nào” Họ Phan cũng ca ngợi
ông là”học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước
Việt ta trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh
được”.
Để kết luận, chúng tôi xin mượn bốn câu thơ của vua Dực Tôn (Tự
Đức) trong Việt Sử tổng vịnh viết về ông như sau:
Thượng tường sơn đẩu thế gian sư,
Tâm dự nhân quai nhất khứ trừ.
Thất trảm sớ thành thiên địa giám,
Trực thanh bất cộng hữu Trần suy.
Phỏng dịch
Gian tà đâu để tung hoành,
Khí cao vằng vặc lưu danh sáng ngời.
Sớ dâng chứng với đất trời,
Không đang tâm sống cảnh đời suy vi.
Tương truyền khi ông mở trường dạy học, rất đông học trò tìm đến
thụ nghiệp. Trong số học trò có một thanh niên, mặt mũi sáng sủa
hôm nào cũng đến thật sớm. Ông khen là chăm chỉ nhưng hỏi thì ngập
ngừng không nói quê quán ở đâu. Ông cho người đi theo thấy người
đó đi đến đầm Đại (nằm giữa các làng Đại Từ, Tứ Kỳ, Huỳnh Cung)
thì biến mất nên ngờ là thủy thần.
Năm đó, trời đại hạn, nắng đã lâu mà không mưa, dân chúng khổ sở
lắm. Một hôm, sau khi giảng bài xong, ông lên tiếng hỏi học trò
ai là người có tài làm mưa giúp dân. Người học trò ấy ngần ngừ nhưng
sau cũng bước ra thưa rằng:
- Việc mưa nắng là việc của Thiên Đình, con vâng lời thầy là nghịch
lại thượng giới, nhưng cũng xin thử sức. Nếu có chuyện gì không
hay xin thầy chu toàn cho.
Nói rồi, ra đứng giữa sân, lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên khấn,
lấy bút thấm mực vãi ra bốn phương. Lúc hết mực tung bút và nghiên
lên trời. Lập tức, mây đen kéo đến, sấm chớp ầm ầm, trời đổ một
trận mưa thật lớn. Người học trò đội mưa đi về, ra đến cửa thì biến
mất.
Sáng hôn sau, không thấy y trở lại học, Chu An cho người đến đầm
Đại tìm thì thấy một con thuồng luồng thật to chết nổi trên mặt
nước. Ông thương xót, sai học trò vớt xác mang về mai táng tử tế.
Dân làng thấy vậy lập đền thờ, nay vẫn còn.
Chỗ nghiên mực ném lên rơi xuống nay thành đầm nước lúc nào cũng
đen, gọi là đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai, sau này
là một làng văn học nổi tiếng (quê hương Ngô Thời Sĩ, Ngô Thời Nhiệm
triều Lê). Trong đền thờ còn một đôi câu đối ghi lại sự tích này:
Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận,
Chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô
(Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận
theo lẽ phải, Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng dội
nước, đất đang khô cũng trổ mùa).
Chu đình là sân son mà cũng là trường học họ Chu. Không biết trong
những người từ ngưỡng cửa Chu Văn An mà ra, ai đã theo gương tiền
nhân mà làm được mây lành, mưa ngọt cho đất nước.
THƯ MỤC THAM KHẢO
• Đặng Kim Ngọc, Chu Văn An (1292-1370) Nhà Sư Phạm
Mẫu Mực Cuối Đời Trần (tr 165-166) Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương,
Văn Hóa Việt Nam, Tổng Hợp 1989-1995 Hà Nội 1989
• Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Quan Hải Tùng Thư, Hà
Nội 1938
• Hội Aùi Hữu Bưởi – CVA Nam California, Kỷ Yếu 90 Năm Văn Học Trường
Bưởi – Chu Văn An Đinh Sửu 1997
• Lãng Nhân, Giai Thoại Làng Nho toàn tập, Cơ Sở Xuất Bản ZIELEKS,
Texas 1985
• Ngô Tất Tố, Văn Học Đời Lý, nguyên bản 1941ù, Đại Nam, California
in lại, không đề năm
• Ngô Tất Tố, Văn Học Đời Trần, Khai Trí Saigon, 1960
• Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, ZIELEKS, Texas 1981
• Nguyễn Khắc Thuần, Việt Sử Giai Thoại, tập 3, Nhà Xuất Bản Giáo
Dục TP HCM 1997
• Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt
Nam, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội Saigon 1992
• Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục
1971
• Uûy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Lịch Sử Việt Nam Tập 1, Nhà
Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1976
_______________________________
Ông chính tên Chu An, sau khi chết được truy tặng tên thụy Văn Trinh,
tước Công nên đời sau hay gọi là Chu Văn An
Bố miệt mang hài qui khứ nhật, Thanh đầu bạch phát dục Nghi Xuân
(thơ Trần Nguyên Đán trong bài Hạ Tiều Ẩn Tiên Sinh Bái Quốc Tử
Giám Tư Nghiệp tức là Mừng Tiều Ẩn Tiên Sinh Nhận Chức Tư Nghiệp
Quốc Tử Giám) tạm dịch giày cỏ vớ gai ôn chuyện cũ, đầu xanh tóc
trắng tắm chung sông. Tuy nhiên nhiều học giả đã nghi ngờ bài này
không phải của Trần Nguyên Đán.
Cung Túc Vương Dục là anh vua Dụ Tông, đáng lẽ phải được kế nghiệp
vua Hiến Tông nhưng Minh Tông lại lập con út. Khi Dụ Tông mất, bà
Hiến Từ lập Nhật Lễ lấy cớ là Nhật Lễ cũng là con của Cung Túc Vương,
cha không được làm vua thì con phải được làm vua. Sau Nhật Lễ đánh
thuốc độc giết bà.
Một kỹ sư người Việt tên Nguyễn An trong số bị quân Minh bắt về
Tàu đã là người coi sóc việc xây thành Bắc Kinh thời Minh Thành
Tổ (Vĩnh Lạc) Khương Bửu, Một người Việt Nam xây dựng thành Bắc
Kinh, Văn Nghệ Tiền Phong 476, 15-30 tháng 11, 1995.
Đời Dụ Tông, năm 1368 Doãn Thuấn Thần sang sứ nhà Minh được vua
Minh khen là giữ được văn minh Trung nguyên, hơn các dân tộc khác
thay đổi theo nhà Nguyên (An Nam tế hữu Trần, Phong tục bất Nguyên
nhân. Y quan Chu chế độ, Lễ nhạc Tống quân thần) Phạm Cao Dương,
Ai đã gọi nước ta là một nước văn hiến 1989 (mảnh báo cắt, không
rõ tên)
Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Quan Hải Tùng Thư 1938 tr
237-238.
Nguyễn Khắc Thuần, Việt Sử giai thoại, tập 3, Chu Văn An, Nhà Xuất
Bản Giáo Dục, Saigon 1997, trang 79-81
Thi cực thanh sảng u dật, nhàn nhã tự tại, khả tưởng kiến ẩn cư
nhi cao thú dã (Phan Huy Chú)
http://vnthuquan.net
|