|
Biển
Đông và kiểu "một mình một lối" của Trung Quốc
Ts. Vũ Quang Việt
Nghiên cứu kĩ các cứ liệu lịch sử
và luật pháp quốc tế liên quan đến tranh chấp Biển Đông, TS Vũ Quang
Việt thấy Trung Quốc đang có cách diễn giải lịch sử và luật pháp
quốc tế "một mình một lối", không giống ai và "sai
sự thật".
Trung Quốc trước sau như một luôn
yêu sách chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa và 80% diện tích Biển Đông (dưới đây gọi là Biển
Đông Nam Á). Để chứng minh cho yêu sách chủ quyền của mình, trong
tuyên bố năm 2000, Bộ Ngoại giao Trung Quốc viện dẫn các lý do sau:
"Trung Quốc có chủ quyền không
thể chối cãi đối với quần đảo Nam Sa (Trường Sa - tên gọi của Việt
Nam) và các vùng nước lân cận. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên phát
hiện và đặt tên cho quần đảo là Nam Sa và là quốc gia đầu tiên thực
hiện chủ quyền đối với quần đảo này. Chúng tôi có lịch sử phong
phú và bằng chứng pháp lý để chứng minh điều đó và cộng đồng quốc
tế từ lâu đã công nhân điều đó.
Trong Thế chiến II, Nhật Bản phát
động các cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc và chiếm phần lớn
lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả quần đảo Nam Sa. Điều này đã
được nêu rõ trong Tuyên bố Cairo, Tuyên bố Potsdam và các văn bản
quốc tế khác rằng tất cả các vùng lãnh thổ Nhật Bản đã bị đánh cắp
từ Trung Quốc cần phải được giao lại cho Trung Quốc, và lẽ tự nhiên,
chúng bao gồm quần đảo Nam Sa.
Tháng 12 năm 1946, Chính phủ Trung
Quốc sau đó đã gửi quan chức cao cấp đến quần đảo Nam Sa để khôi
phục chủ quyền. Lễ tiếp quản đã được tổ chức trên quần đảo và một
tượng đài đã được dựng lên trong dịp kỷ niệm đó, và các binh sĩ
đã được gửi qua làm nhiệm vụ đồn trú.
Năm 1952 Chính phủ Nhật Bản đã chính
thức tuyên bố rằng Nhật Bản từ bỏ tất cả của nó "quyền, tên
gọi và yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan, đảo Bành Hổ cũng như
các quần đảo Nam Sa và Tây Sa", do đó chính thức trả lại quần
đảo Nam Sa cho Trung Quốc. Tất cả các nước đều thấy rõ đây là một
phần của lịch sử.
Như một vấn đề của thực tế, Hoa Kỳ
công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa trong
một loạt các hội nghị quốc tế và thông lệ quốc tế sau đó.
Phần trích dẫn trên có nhiều tuyên
bố sai so với sự thật.
Kiểm soát biển hay chỉ vẽ
bản đồ?
Trung Quốc có thể là quốc gia đầu
tiên phát hiện ra hai quần đảo này (rất thiếu bằng chứng cho thấy
điều đó) nhưng Trung Quốc chưa bao giờ là quốc gia đầu tiên thực
hiện chủ quyền với hai quần đảo này.
Thực tế, trong nghìn năm lịch sử cho
đến khi Thế chiến thứ hai nổ ra, không quốc gia nào từng đưa ra
một yêu sách chủ quyền với vùng biển trong khu vực biển ĐNA với
tư cách vùng nước nội thủy hoặc vùng nước lịch sử hay cố gắng thu
thuế, phí bảo vệ vùng biển hay yêu cầu các nhà hàng hải nộp đơn
đề nghị sử dụng vùng biển này.
Ngoài ra, trước Thế chiến thứ hai,
không nước nào từng yêu sách chủ quyền, thiết lập chính quyền địa
phương có hiệu quả, hoặc dự định dùng sức mạnh để bảo vệ chủ quyền
của mình trên bất kỳ hòn đảo nào thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa nhằm mục đích kiểm soát chính biển ĐNA.
Chỉ có một ngoại lệ và cũng chỉ dừng
ở mức khai thác kinh tế, là ở nhóm nhỏ các đảo nhỏ, cụm đảo Crescent
(tức cụm đảo Hoàng Sa) trong quần đảo Hoàng Sa. Nơi này từ năm 1816
vua Gia Long và các Hoàng đế Việt sau này coi là lãnh thổ Việt Nam,
hàng năm đều gửi thủy thủ để thu thập những tài sản có giá trị còn
lại từ các vụ đắm tàu. Hành động này là bình thường đối với bất
kỳ một quốc gia, đã đến một vùng đất không có người ở - để khai
thác nguồn tài nguyên.
Trung Quốc, ngay trong lúc năng lực
hàng hải vào giai đoạn đỉnh cao ở thời nhà Minh, vào thế kỉ 15 đã
gửi Trịnh Hòa với hàng nghìn tàu và hàng chục ngàn binh sĩ tiến
hành cuộc thám hiểm qua biển ĐNA và Ấn Độ Dương để chứng minh sức
mạnh quân sự của Trung Quốc và đưa các phái viên nước ngoài dọc
theo tuyến đường biển tới Trung Quốc để biểu thị lòng tôn kính với
hoàng đế Trung hoa và triều cống.
Tuy nhiên, các cuộc thám hiểm này
không nhằm mục đích chiếm đóng đất đai hoặc là kiểm soát vùng biển
này. Từ những cuộc thám hiểm như thế này và các cuộc thám hiểm bé
hơn đã là cơ sở để vẽ ra bản đồ Trung Quốc và bản đồ các vùng đất
bên ngoài.
Những bản đồ về "thế giới trong
mắt Trung Quốc" không hề thể hiện là các vùng đất liền, hải
đảo và đại dương này thuộc chủ quyền Trung Quốc, mặc dù chúng thường
được diễn giải như vậy bởi Trung Quốc và các học giả Trung Quốc
để hỗ trợ cho lập luận của nước này rằng quần đảo Hoàng Sa, quần
đảo Trường Sa, và 80% diện tích Biển ĐNA là vùng đất lịch sử và
vùng biển của Trung Quốc.
Sự bất ổn tại biển ĐNA chỉ xảy ra
khi Nhật Bản, trước và trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, đã cố
gắng mở rộng quyền kiểm soát của họ trên Biển ĐNA.
Để chống lại sự mở rộng của Nhật Bản,
và để bảo vệ các thuộc địa của họ, năm 1930 Pháp, một mình và đôi
khi với sự khuyến khích của Anh, đã chính thức yêu sách chủ quyền
đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và
quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở vùng biển ĐNA.
Trường hợp ngoại lệ là đảo Pratas
(mà Trung Quốc gọi là Đông Sa) chỉ một mình Trung Quốc yêu sách
chủ quyền và hiện nay đang kiểm soát đảo này.
Ai trả lại Trường Sa, Hoàng Sa cho
Trung Quốc?
Hoàn toàn sai khi tuyên bố rằng Tuyên
bố Cairo và Postdam đã quyết định rằng quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa)
và Trường Sa (Nam Sa) được trả lại Trung Quốc.
Đúng là Nhật Bản đã được yêu cầu phải
từ bỏ tất cả các vùng đất mà họ đã chiếm đóng nhưng không có lệnh
nào yêu cầu Nhật Bản trả Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Trên
thực tế, đề nghị của Liên Xô về việc này đã bị bác bỏ.
Cũng hoàn toàn sai khi nói rằng Mỹ
công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa (Trường
Sa).
Tuy nhiên, một điều quan trọng cần
phải được chỉ ra ở đây là Hoa Kỳ đã không thể hiện bất kỳ mối quan
tâm nào đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa kể từ năm 1950
và gần đây đã nhiều lần tuyên bố Hoa Kỳ "không đứng về bên
nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa" (Biển
ĐNA) và "ủng hộ một giải pháp hòa bình để đảm bảo quyền tự
do hàng hải"
Đồng thời, "Hoa Kỳ quan ngại
về các yêu sách chủ quyền đối với "vùng lãnh hải" hoặc
bất kỳ vùng biển nào không dựa trên cơ sở vùng đất lãnh thổ. Những
tuyên bố về vùng biển như vậy không phù hợp với luật quốc tế, như
đã được phản ánh trong Công ước Luật Biển của LHQ".
Gặm nhấm và chiếm đoạt bằng
vũ lực
Trên thực tế, ngay sau khi chiến tranh,
Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách gặm nhấm từng bước biển
ĐNA. Quá trình này bắt đầu với tuyên bố của Chu Ân Lai về chủ quyền
của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm
1952, và tiếp tục với những bước đi thận trọng để chiếm các đảo
này khi Trung Quốc cảm thấy đủ an toàn để làm như vậy.
Chính sách gặm nhấm của Trung Quốc
đã được tính toán cẩn thận và căn thời điểm để tránh càng nhiều
càng tốt bất kỳ phản ứng đáng kể nào của thế giới.
Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc
đối với các đảo này chỉ là một bước đi ban đầu để tiến đến mục tiêu
tham vọng hơn nhiều là kiểm soát toàn bộ Biển ĐNA. Trung Quốc đã
xuất bản bản đồ 9 đoạn hình chữ U hầu như bao trọn vùng nước đại
dương thuộc biển ĐNA như lãnh thổ của Trung Quốc. Thế nhưng, Trung
Quốc chưa bao giờ đưa ra một tuyên bố rõ ràng và cung cấp các luận
chứng cho tuyên bố của mình.
Tuy nhiên, năm 2009, phản ứng trước
việc Malaysia và Việt Nam đăng kí chung về thềm lục địa lên Ủy ban
về ranh giới ngoài thềm lục địa của LHQ ngày 6/5/2009, Trung Quốc
cũng đã trình lên Ủy ban này tuyên bố về vùng nước rộng lớn bao
quanh "đường ranh giới" 9 đoạn mà Trung Quốc vẫn chưa
xác định rõ trên bản đồ.
Tuyên bố ngày 7/5/2009 viết, "Trung
Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo ở biển Nam
Hải và các vùng nước lân cận, và được hưởng các quyền chủ quyền
và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển
và các tầng đất dưới bề mặt vùng biển đó".
Giải thích Luật biển: Một
mình một phách
Vùng nước liên quan của Trung Quốc
trên thực tế là "những tuyên bố về vùng lãnh hải hoặc bất kỳ
vùng biển nào không dựa trên cơ sở vùng đất lãnh thổ", mối
quan ngại không chỉ của Mỹ mà tất cả các nước ở khu vực châu Á -
TBD.
Tuyên bố của Trung Quốc đã làm thành
viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lo ngại hai điểm.
Trước tiên, quyền của các nước ASEAN đối với các khu dầu mỏ, quyền
đánh bắt cá và khai thác tài nguyên dưới lòng đất khác sẽ bị hạn
chế nghiêm trọng. Ví dụ, Việt Nam và Exxon Mobile hợp tác khai thác
dầu khí ở giếng dầu Rồng Xanh (Blue Dragon) và bờ đá Vanguard nằm
trong thềm lục địa Việt Nam, nhưng đồng thời cũng nằm trong đường
ranh giới chữ U của Trung Quốc.
Hai là, biển ĐNA sẽ là một hồ nước
không thể chối cãi của Trung Quốc nếu đường ranh giới chữ U của
Trung Quốc được chấp nhận. Chấp thuận yêu sách của Trung Quốc về
quyền cấm tàu và máy bay quân sự nước ngoài đi qua vùng đặc quyền
kinh tế của Trung Quốc là chấp nhận rằng Trung Quốc có được quyền
lực quân sự hiếm có để kiểm soát Biển ĐNA.
Đằng sau đề nghị khai thác
chung
Để che dấu mối đe dọa đó, Trung Quốc
kêu gọi hợp tác trong việc khai thác chung các nguồn tài nguyên.
Lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra đề nghị với Philippines mà sau đó
Việt Nam cùng tham gia Thỏa thuận thăm dò địa chấn hải dương chung
ở một số khu vực của biển Nam Trung Hoa, gọi tắt là JMSU 7/2005.
Thỏa thuận ba bên này giữa Philippines, Trung Quốc và Việt Nam nhằm
thăm dò trữ lượng dầu và khí ở Biển Nam Trung Hoa đã hết hiệu lực
vào tháng 7/2007 khi Chính phủ Philippines phải đối mặt với sự phản
đối gay gắt từ phía Nghị viện và báo chí nước này.
Với mục tiêu đảm bảo cho tham vọng
kiểm soát biển ĐNA của Trung Quốc, Hải quân Trung Quốc PLAN đã xây
dựng căn cứ tàu ngầm tại đảo Hải Nam, năng lực quan trọng trong
việc gài mìn trong biển, chương trình chống tên lửa đạn đạo, và
phát triển và đầu tư công nghệ quân sự được thiết kế để thách thức
hải quân Mỹ tiếp cận vào vùng biển Đông Á, và kế hoạch xây dựng
các tàu sân bay.
Chiến lược được Trung Quốc đưa ra
rõ ràng nhằm bao quanh biển ĐNA như vùng lãnh thổ của Trung Quốc
và ngăn chặn những lực lượng bên ngoài xâm nhập vào vùng nước được
nước này yêu sách chủ quyền. Đồng thời, mục tiêu của chiến lược
là ngăn cấm các quốc gia như Việt Nam đánh bắt cá trong vùng hình
chữ U, và trên thực tế Trung Quốc đã triển khai thực hiện vào tháng
5/2009. Đây là hành động chuẩn bị cơ sở cho việc khai thác tài nguyên
tích cực trong đường ranh giới chữ U với sự bảo vệ của hải quân
Trung Quốc.
Cách diễn giải luật biển quốc tế "độc
nhất vô nhị" của Trung Quốc liên quan đến chính quyền của quốc
gia ven biển nhằm hạn chế hoặc ngăn cấm các hoạt động quân sự nước
ngoài ở vùng đặc quyền kinh tế là một phần trong kế hoạch nhắm tới
của Trung Quốc là thực hiện độc quyền kiểm soát quân sự của Trung
Quốc tại không gian biển bên trong đường chữ U. Sự kiểm soát này
tương tự như sự kiểm soát để thực hiện chủ quyền đối với lãnh hải
Trung Quốc"
Rõ ràng hơn, một đô đốc Trung Quốc
đã nói với Đô đốc Timothy Keating, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương
của Hoa Kỳ năm 2009 về mong muốn "chia đôi Thái Bình Dương"
giữa Mỹ và Trung Quốc.
Thật khó để hình dung Trung Quốc,
quốc gia đã phải chịu nhiều đau khổ từ chủ nghĩa đế quốc Nhật và
phương Tây có thể sử dụng cách tiếp cận tương tự để đe dọa các quốc
gia khác như cách Trung Quốc đã làm trước khi phương Tây đến châu
Á.
Sự khăng khăng được lặp lại nhiều
lần của Trung Quốc rằng Trung Quốc có chủ quyền "không thể
thương lượng" - "non-negotiable"16 và "không
thể tranh cãi" đối với các quần đảo ở biển ĐNA không nhất quán
với lời kêu gọi của Trung Quốc về việc khai thác chung ở vùng biển
ĐNA.
Trừ khi điều Trung Quốc thực sự muốn
là khu vực khai thác chung là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của
các quốc gia ĐNA, nơi mà vùng đặc quyền kinh tế của các nước này
chồng lấn với đường ranh giới chữ U do Trung Quốc tuyên bố vốn không
dựa trên cơ sở pháp lý nào.
Lúc này, không có gì có thể gây khó
khăn cho sự phát triển một cách hòa bình của khu vực Đông Nam Á
và toàn bộ lục địa châu Á hơn là sự can dự tích cực của quyền lực
Trung Quốc tại biển ĐNA.
05.04.2010
@tuanvietnam
|