|
Các hành động cứng
rắn của Trung Quốc tại Biển Đông tác hại đến ổn định trong khu vực
Trọng Nghĩa,
RFI, 26/11/2009
Nhân cuộc Hội thảo quốc tế về Biển Đông trong 2 ngày
26 - 27/11 tại Hà Nội, giáo sư Carlyle Thayer (Học viện Quốc phòng
Úc) đã trình bày tham luận mang tựa đề : ''Các diễn biến mới trên
Biển Đông : những tác động đến hoà bình, ổn định và hợp tác trong
khu vực''. Được sự đồng ý của tác giả, RFI công bố một số trích
đoạn của bản báo cáo.
Ảnh bìa bài tham luận của giáo sư Carl Thayer
tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội ngày 26-27/11/2009
(Ảnh : DR)
Tham luận của giáo sư Thayer tập trung trên các động thái mà ông
gọi là "quyết liệt" (assertiveness) của Trung Quốc tại
Biển Đông trong năm 2009. Trong phần dẫn nhập, giáo sư Thayer nêu
bật đà vươn lên của Trung Quốc về kinh tế, kéo theo nhu cầu cao
về năng lượng, và đặc biệt là sự lớn mạnh về tiềm năng quân sự.
Sức mạnh gia tăng của Trung Quốc về quân sự đã bị
nhiều nước trong khu vực, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, cho
là vượt quá mức cần thiết cho nhu cầu phòng thủ. Đối tượng mà Trung
Quốc nhắm tới, theo lời chính Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng
Tham mưu Trưởng Liên quân Mỹ, chính là lực lượng Hải quân Hoa Kỳ
và các căn cứ Mỹ trong vùng Châu Á Thái Bình Dương.
Các động thái có thể gọi là khẳng định tư thế của
Trung Quốc tại khu vực Biển Đông trong năm 2009 đã được giáo sư
Thayer lồng vào trong bối cảnh đó, và tham luận của ông lần lượt
phát triển 5 vấn đề : căn cứ hải quân Tam Á; hành vi xách nhiễu
tàu hải quân Mỹ; lệnh cấm đánh cá do Trung Quốc đơn phương ban hành
tại Biển Đông; đề nghi mở rộng thềm lục địa; Chính sách của Hoa
Kỳ và bốn cản lực gây ra cho Trung Quốc.
Căn cứ Hải quân Tam Á
Về căn cứ xây dựng trên đảo Hải Nam này, giáo sư
Thayer đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng chiến lược của nó trong việc
giúp Trung Quốc vươn ra Thái Bình Dương và vươn xuống Biển Đông.
Ông viết :
Lực lượng biệt động hải quân trên khu trục hạm Hải Khẩu Trung
Quốc, ngày 25/12/2008, căn cứ Tam Á
Ảnh: Reuters
'Để hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của việc xây
dựng căn cứ hải quân Tam Á, cần phải biết cả ý đồ lẫn năng lực của
Trung Quốc. Cho đến nay thì Trung Quốc không tiết lộ bất kỳ thông
tin nào về dụng ý của họ, nhưng về năng lực thì ta đã thấy cầu tàu
và bến cảng ở căn cứ này có thể được dùng cho nhiều chiến hạm và
một tàu ngầm nguyên tử. Một số công trình khác đang được thực hiện
để có thể tiếp nhận những chiến hạm lớn hơn, thậm chí hàng không
mẫu hạm.
Song song với căn cứ này, Trung Quốc cũng đã mở rộng
một sân bay trên đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, củng cố cơ sở trên đảo
Chữ Thập (Fiery Cross Reef) ở Trường Sa, đồng thời duy trì lực lượng
hải quân ở bãi đá Vành Khan (Mischief Reef), ngoài khơi bờ biển
phiá tây của Philippines.
Tóm lại Trung Quốc đang phát triển năng lực yểm trợ
cho những đòi hỏi chủ quyền của họ ở Biển Đông và bảo vệ những tuyến
lưu thông hàng hải mang tính chất sống còn cho Trung Quốc đi qua
qua các eo biển Malacca và Singapore. Từ các căn cứ đó, Trung Quốc
cũng có thể tung lực lượng của họ vào Biển Đông, giúp rút ngắn được
khoảng cách hậu cần. Nhìn rộng ra, Trung Quốc cũng sẽ có thể đe
doạ những tuyến hàng hải mà Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc phải
lệ thuộc vào''.
Theo giáo sư Thayer, sự hiện diện của căn cứ Tam
Á với các phương tiện chiến tranh hiện đại như tiềm thủy đỉnh trang
bị đầu đạn hạt nhân và hoả tiễn liên lục địa sẽ có ảnh hưởng rất
lớn đến tương quan lực lượng trong vùng...
''Việc Hải quân Trung Quốc hiện đại hoá là một thách
thức và cũng là mối đe doạ tiềm tàng cho tất cả vùng Đông Nam Á
và đặc biệt cho Việt Nam. Trung Quốc là một cường quốc quân sự thống
trị trong vùng khi so với hải quân các quốc gia ASEAN. Trung Quốc
cũng là một thách thức ngày càng lên đối với Hải quân Ấn Độ nếu
nước này cứ tiếp tục mở rộng hoạt động qua phiá Tây eo biển Malacca.
Ấn Độ đã từng bày tỏ nỗi quan ngại trước khả năng
Trung Quốc phát triển đội tàu ngầm nguyên tử của họ. Hải quân Úc
sẽ cảm thấy là ưu thế kỹ thuật của họ sẽ không chỉ bị thách thức
mà còn bị xói mòn nữa là khác. Tuy nhiên, cho dù họ đang phát triển
những phương tiện thích hợp để thách thức Hoa Kỳ ở vùng Tây Thái
Bình Dương, nhưng Hải quân Trung Quốc vẫn chưa sánh được với sức
mạnh của Hoa Kỳ vào lúc này cũng như trong cả một thập niên tới
đây''.
Trung Quốc xách nhiễu tàu hải quân Mỹ
Hai chiếc tàu Trung Quốc dừng lại ngay trước
mũi quân hạm USNS Impeccable hôm 08/03/2009, buộc tàu Mỹ phải ngừng
khẩn cấp để tránh va chạm.
(Nguồn : US Navy)
Trong phần này, giáo sư Thayer điểm lại hai sự kiện
nổi bật vào tháng Ba và vào tháng Sáu năm 2009. Sự cố thứ nhất xẩy
ra vào thương tuần tháng Ba khi không quân và hải quân Trung Quốc
đã hăm dọa quân hạm Mỹ Impeccable được phái đến khu vực cách đảo
Hải Nam 75 dặm về phiá Nam với nhiệm vụ tìm hiểu về hoạt động của
tàu ngầm Trung Quốc tại căn cứ Tam Á. Tai nạn suýt xẩy ra khi tàu
Trung Quốc không ngần ngại cản đường quân hạm Mỹ.
Sự cố thứ hai xẩy ra vào trung tuần tháng Sáu, khi
một chiếc tiềm thuỷ đỉnh của Trung Quốc va vào một chiếc ăng ten
máy sonar do chiến hạm Mỹ USS John S. McCain kéo theo. Chiếc tàu
này lúc ấy thuộc số 3 chiến hạm Hoa Kỳ tham gia tập trận với hải
quân sáu quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Philippines và Malaysia.
Đối với giáo sư Thayer : ''Hai sự cố trên đây đã
làm khơi dậy lại những mối quan ngại trong vùng Đông Nam Á là sự
đối chọi chiến lược Mỹ - Trung có thể tác hại đến sự ổn định của
khu vực [...] Không thể loại bỏ những sự cố trên biển tong tương
lai, khi nào mà Trung Quốc vẫn cố gạt qua một bên Công ưóc về Luật
biển của Liên Hiệp Quốc với cách diễn giải đơn phương về luật quốc
tế của mình.''
Lệnh đơn phương cấm đánh cá của Trung Quốc
Tháng 5/2009, Trung Quốc thông báo lệnh cấm đánh
cá trong vòng 3 tháng ở Biển Đông (khu vực phiá trên vĩ tuyến 12)
từ ngày 16/05 cho đến 01/08, để bảo vệ nguồn cá, chống đánh cá trái
phép và bảo vệ ngư phủ Trung Quốc. Thời điểm đó lại là mùa cao điểm
của ngư dân Việt Nam. 8 chiếc tàu hiện đại của Cơ quan Ngư nghiệp
Trung Quốc đươc phái xuống Biển Đông để củng cố việc thực thi lệnh
cấm này.
Việt Nam đã gởi công hàm phản đối. Báo chí, truyền
thông Việt Nam tường thuật là tàu Trung Quốc đã chặn tàu đánh cá,
lên tàu, tịch thu cá đánh bắt được và xua đuổI những tàu khác của
Việt Nam ra khỏi vùng biển bị cấm. Có trường hợp tàu đánh cá Trung
Quốc đâm thủng và đánh chìm một tàu Việt Nam. Ngày 16 /06, Trung
Quốc đã chận bắt 3 tàu Việt Nam, vớI 37 thủy thủ ở vùng biển gần
Hoàng Sa. Sau khi trả tự do cho 2 chiếc tàu và thủy thủ đoàn, Trung
Quốc giử lại chiếc thứ 3 cùng 12 thuyền viên, đòi tiền phạt 31.700
đôla.
Hành động Trung Quốc đã khiến chính quyền điạ phương
Quảng Ngãi, nơi xuất xứ của ngư phủ bị bắt, bất bình, và họ tuyên
bố không chấp nhận trả phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gởi văn kiện
phản đối đến Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội, yêu cầu trả tự do
cho ngư dân bị bắt giữ...
Trong bối cảnh đó, một bài viết của bộ Thương mại
Trung Quốc chỉ trích đòi hỏi của Việt Nam đã xuất hiện trên một
website chung của 2 bộ Thương mại Trung Quốc và Việt Nam. Điều này
đã khiến Việt Nam tạm thờI đóng Website này.
Tàu đánh cá Việt Nam bị hải quân Trung Quốc chặn
lại
Trong tháng 8, khi hai chiếc tàu đánh cá Việt Nam vớI 25 ngư phủ,
đã tìm nơi trú ẩn ở vùng Hoàng Sa để tránh bão, đã bị Trung Quốc
bắt giữ. Việt Nam không những đòi phả trả tự do cho tàu của mình
mà còn tăng sức ép, đe doạ hủy bỏ một cuộc họp đã đươc dự kiến để
thảo luận về các vấn đề trên biển. Trung Quốc trả tự do cho ngư
phủ Việt Nam và cuộc họp được tiến hành ở cấp thứ trưởng từ ngày
12 đến 14/08/2009 ở Hà Nội.
Mở rộng thềm lục điạ
Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Ranh giới Thềm Lục điạ (UNCLCS)
đưa ra thờI hạn ngày 13/05/2009, là hạn chót để các quốc gia gởi
đề nghị về việc nớI rộng thềm lục điạ của mình vượt ra ngoài mức
200 hải lý quy định trong luật về Biển của Liên Hiệp Quốc. Ngày
06/05, Malaysia và Việt Nam đã đưa một đề nghị chung và cũng cùng
ngày Việt Nam đưa một đề nghị riêng rẽ khác.
Trung Quốc đã lập tức phản đối, nhưng không đưa một
đề nghị chính thức. Theo quy định của UNCLCS thì không thể xem xét
những đề nghị bị nước khác phản đối. Việt Nam đã phản ứng bằng cách
đưa ngay bằng cách đệ trình lên phần phản đối riêng của mình.
Để bảo vệ cho các đòi hỏi của mình, Trung Quốc đã
trưng ra một bản đồ vớI '9 đường kẻ hay đường gián đoạn kèm theo
lời phản đối của họ, 9 đường này tạo thành một vùng chữ U, bao trùm
gần như toàn bộ Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chính
thức công bố cụ thể đòi hỏi của mình.
Bản đồ tranh chấp lãnh hải tại biển Đông
Nguồn: eia.doe.gov
Chưa bao giờ một tấm bản đồ như vậy đươc trưng ra và đính kèm theo
3 thông cáo quan trọng và một đạo luật mà Trung Quốc thường sử dụng
để hỗ trợ cho đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc về biển : Tuyên bố
về lãnh hải của Trung Quốc (tháng 09/1958), Tuyên bố của Cộng Hoà
Nhân Dân Trung Hoa về Lãnh hải và Vùng Lân cận (1992), Tuyên bố
của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về Đường cơ sở Lãnh hải (1996) và
Luật của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về Vùng Đặc quyền Kinh tế và
Thềm lục điạ (1998).
Hoa Kỳ đã dứt khoát bác bỏ các cơ sở đòi chủ quyền
của Trung Quốc ở Biển Đông. Điều trần trước tiểu ban Đông Á và Thái
Binh Dương của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, phó trợ lý ngoại
trưởng Mỹ, Scot Marciel đã bác bỏ những đòi hỏi về lãnh hải và vùng
biển không có xuất phát điểm từ một vùng đất nào đó. Ông khẳng định
: ''Những đòi hỏi như thế không phù hợp vớI luật quốc tế.''
Chính sách của Hoa Kỳ và 4 cản lực đối với
Trung Quốc
Về chính sách của Hoa Kỳ thời tổng thống Obama, giáo
sư Thayer đặc biệt nhắc lại cuộc điều trần tại Thượng Viện Hoa Kỳ
vào tháng 07/2009 trong đó Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Scot Marciel
đã nhấn mạnh đến quyền lợi thiết yếu của Hoa Kỳ trong việc duy trì
ổn định và quyền tự do lưu thông, quyền hoạt động thương mại hợp
pháp trên các tuyến đường thủy của vùng Đông Á. Một cách cụ thể
hơn, ông Marciel còn điểm lại các hành động hù dọa của Trung Quốc
nhắm vào các công ty dầu khí Mỹ làm việc với đối tác Việt Nam :
''Chúng tôi phản đối mọi mưu toan dọa nạt công ty Mỹ".
Về phần bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cũng thế, giáo sư Thayer
nhắc lại việc Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher nhấn mạnh
đến chiến lược duy trì ưu thế quân sự của Mỹ trong vùng, khẳng định
quyền tự do đi lại của chiến hạm Mỹ, củng cố quan hệ an ninh với
các đối tác khu vực, và tăng cường các cơ chế đối thoại ngoại giao-quân
sự với Trung Quốc để ngăn ngừa sự cố.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tiếp Phó chủ tịch quân
ủy trung ương Trung Quốc
Nhìn chung, theo giáo sư Thayer, chính quyền Obama đã cố gắng nâng
cấp quan hệ với Trung Quốc, thế nhưng về phiá Bắc Kinh, Phó chủ
tịch Quân ủy Trung ương Từ Tài Hậu đã nhấn mạnh đến 4 cản lực ngăn
chặn việc cải thiện quan hệ song phương :
''Trở ngại trước tiên và quan trọng nhất là quan
hệ quân sự Hoa Kỳ - Đài Loan... Kế đến là phải chấm dứt việc cho
phi cơ và tàu quân sự Mỹ xâm nhập vào vùng Đặc quyền Kinh tế trên
Biển của Trung Quốc... Thứ ba là còn một số luật lệ tại Mỹ hạn chế
việc phát triển quan hệ quân sự Mỹ - Trung... Một trở ngại khác
là Hoa Kỳ còn thiếu tin tưởng Trung Quốc về mặt chiến lược".
Kết luận
Trong thờI gian 2007-09, tranh chấp Biển Đông từ
hậu trường đã vươn lên mực trung trong các chủ đề an ninh Châu Á,
cho dù Bản Tuyên bố năm 2002 về các Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông
(DOC), đã kêu gọi các bên "tự kềm chế trong việc tiến hành
những hoạt động có thể khiến tranh chấp phức tạp thêm hoặc leo thang".
Các sự cố trên biển gần đây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc nêu lên khả
năng Biển Đông một lần nữa có thể trở thành điểm nóng hàng đầu nếu
không xử lý tốt.
Có nhiều cách giải thích về thái độ quyết đoán (assertiveness)
của Trung Quốc gần đây ở Biển Đông.
Trước tiên có lẽ Bắc Kinh muốn gây sức ép để Hà NộI
chấp thuận một thỏa thuận thăm dò và khai thác chung đối với các
mỏ dầu khí nằm ngoài khơi Việt Nam, tương tự như thoả thuận tháng
06/2008, giữa Nhật Bản và Trung Quốc, cùng khai thác mỏ khí đốt
Xuân Hiểu trong vùng mà hai bên tranh chấp ở Biển Hoa Đông.
Nếu ý định của Trung Quốc là như thế thì có lẽ họ
sẽ không thành công, vì các mỏ dầu khí nói trên nằm ở phiá trong
hoặc ở sát đường ranh Vùng Đặc quyền Kinh tế 200 hải lý của Việt
Nam. Hơn nữa tinh thần dân tộc có thể khiến Hà NộI chống lại nỗ
lực của Trung Quốc muốn ép Việt Nam chấp nhận những thỏa thuận như
thế.
Trong chiến thuật nhằm đạt tới mục tiêu trên, Bắc
Kinh đã gia tăng sức ép lên các tập đoàn nước ngoài để họ không
ký kết thoả thuận năng lượng vớI Việt Nam. Bắc Kinh ngầm đe doạ
là những tập đoàn nào hợp tác với Việt Nam sẽ bị loại ra khỏi những
dự án về năng lượng trong tương lai ở Trung Quốc. Nhưng chiến thuật
này cũng vô hiệu, vì cả BP lẫn ExxonMobil đều cho biết ý định tiếp
tục những cuộc thương lượng hiện hành và Hoa Kỳ đã nói rõ ràng là
sẽ chống lại sự hù dọa như thế.
Quốc kỳ Việt Mỹ đã hai lần được thượng lên tại
phủ Chủ Tịch ở Hà Nội để đón tiếp các tổng thống Clinton và Bush
(Ảnh : RFI/Trọng Nghĩa)
Giải thích thứ hai, Trung Quốc có lẽ muốn cho Việt
Nam thấy là họ không tán đồng mối quan hệ sâu sắc hơn trên vấn đề
an ninh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ bình
thường hoá bang giao vào năm 1995, Hà NộI luôn tìm cách đo lường
một cách thận trọng quan hệ quân sự của mình vớI Hoa Kỳ sao cho
Bắc Kinh khỏi phật lòng. Tuy nhiên trong những năm gần đây, tốc
độ cải thiện quan hệ quân sự và an ninh Mỹ Việt đã nhanh hơn rõ
rệt. Vào tháng 06/2008, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã công du Hoa
Kỳ nơi ông đã hội đàm với Tổng thống George W. Bush và trở thành
thủ tướng Việt Nam đầu tiên từ năm 1975 đã ghé thăm Lầu Năm Góc.
Trong một bản Thông cáo chung sau cuộc gặp Bush-Dũng,
cả hai bên đồng ý duy trì các cuộc đối thoại cấp cao về an ninh
và chiến lược. Hơn thế nửa, Tổng thống Bush cũng ghi nhận là Hoa
Kỳ ủng hộ ''chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của
Việt Nam". Tuyên bố chưa từng thấy này của ông Bush có nhiều
cách lý giải vì không nêu rõ ràng vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên lới
nói đó đã củng cố tuyên bố trước đó vào năm 2008 của Bộ trưởng Quốc
phòng Mỹ Robert gates tại Singapore : Trong các chuyến đi của tôi
qua châu Á, tôi thường nghe phàn nàn về tác động của nhu cầu tài
nguyên gia tăng đối với vấn đề an ninh, và về kiểu ngoại giao mang
tính chất thúc ép, cũng như những áp lực khác có thể dẫn tới tình
trạng phức tạp gây nên đổ vỡ... Tất cả chúng ta ở Châu Á phải bảo
đảm sao cho các hành động của chúng ta không bị xem như là những
thủ thuật gây sức ép, kể cả khi chúng tồn tại song song với những
biểu hiện hợp tác được thấy rõ''.
Quan điểm của Hoa Kỳ là không công nhận yêu sách
chủ quyền của bất kỳ bên nào tại vùng Biển Đông; thế nhưng, nếu
nhận định của các ông Bush, Gates và Marciel được kết lại với nhau,
thì điều đó cho thấy là Washington cảnh cáo Bắc Kinh là không nên
bắt bí các công ty dấu khí Mỹ, buộc họ không hợp tác với Việt Nam.
Một nguyên nhân thứ ba khiến Bắc Kinh thay đổi thái
độ, trở nên quyết liệt hơn tại vùng Biển Đông, đó là vì họ ngày
càng thèm khát các trữ lượng dầu khí ngoài khơi, vì các tuyến lưu
thông hàng hải ở vùng Đông Nam Á càng lúc càng quan trọng đối với
Trung Quốc, và vì các tham vọng Đại Cường. Trung Quốc không chỉ
xúc tiến một chương trình quy mô nhằm hiện đại hoá lực lượng hải
quân của họ, mà còn xây đụng một căn cứ hải quân trọng yếu trên
đảo Hải Nam, để từ đó yểm trợ cho các đòi hỏi chủ quyền trên biển
và tung lực lượng xuống Biển Đông.
Đề xuất hợp tác
Sau phần phân tích, giáo sư Thayer đã gợi lên một
số hướng hợp tác nhằm bảo đảm an ninh ổn định cho khu vực.
- Mọi quốc gia trong vùng đếu có lợi khi Trung Quốc
vươn lên và quan hệ Mỹ Trung được xử lý một cách hoà bình. Các nước
cùng với các định chế an ninh đa phương khu vực phải tác động lên
hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc để họ giải quyết bất đồng thông
qua đàm phán và các biện pháp xây dựng niềm tin. Hai cường quốc
này cần phải duy trì các cuộc gặp gỡ cấp cao thường kỳ giữa quân
đội hai bên, và đề ra được một thỏa thuận hữu hiệu nhằm dự phòng
các sự cố trên biển.
- Khởi động cơ chế Hội Nghị Bộ Trưởng Quốc phòng
ASEAN Cộng (ADMM Plus) để giúp Diễn Đàn An ninh khu vực Asean ARF
hoạt động hữu hiệu hơn, đặc biệt trong lãnh vực minh bạch hoá vấn
đề quân sự, qua đó giải quyết được các mối quan ngại về các chương
trình cải tổ và hiện đại hoá quân đội của Trung Quốc.
- Trung Quốc và các nước hạt nhân khác nên ký kết
Hiệp định Khu vực Đông Nam Á Không Vũ khí Hạt nhân của Asean. Trung
Quốc từng ngỏ ý muốn tham gia Hiệp định này từ lâu, nhưng sự hiện
diện của tàu ngầm nguyên tử Trung Quốc tại Tam Á đòi hỏi làm sáng
tỏ phạm vi địa dư của Đông Nam Á.
- Trong khuôn khổ Bản Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử
trên Biển Đông, nều Trung Quốc lo ngại về nguồn cá tại Biển Đông,
họ cấn phải lôi kéo các nước tranh chấp khác (Việt Nam, Philippines,
Malaysia, Brunei) vào những công trình nghiên cứu khoa học chung
về quản lý nghề cá. Trung Quốc nên tránh việc đơn phương ra lệnh
cấm đánh cá rồi dùng võ lực buộc các nước khác tuân thủ [...]. Vào
năm 2009, khi Trung Quốc đánh đuổi táu đánh cá Việt Nam ra khỏi
khu vực, thì Đài Loan lại than phiền là ngư dân Trung Quốc lấn vào
vùng biển của họ. Nếu có một cơ sở khoa học cho việc tạm ngưng đánh
cá một thời gian, thì điều đó phải được áp dụng cho mọi quốc gia.
- ASEAN cần phải hậu thuẫn cho các nước ven biển
Đông để kéo Trung Quốc vào một vòng đàm phán ngoại giao mới để nâng
Bản Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông thành một Bộ Quy tắc
Ứng xử thực thụ.
Sau cùng, giáo sư Thayer còn đề nghị các nước
làm rõ những điểm còn mơ hồ hay gây tranh cãi trong khuôn khổ Công
ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, cũng như xem xét các đề nghị của
Úc hay Nhật Bản về việc liên kết với nhau trong một cơ cấu Châu
Á Thái Bình Dưong hay Đông Á rộng lớn.
|