Bạch
Đằng Giang Phú
Trương
Hán Siêu
Trương Hán Siêu, tác giả bài Phú sông
Bạch đằng nổi tiếng là một nhân vật lớn đời Trần. Ông tên chữ Lăng
Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện An Khánh, Ninh Bình. Trương Hán Siêu
lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tham gia
cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba. Ông làm
quan trải bốn triều vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ
Tông), từng giữ các chức Hàn lâm học sĩ, Hành khiển, Tả gián nghị
đại phu, Tham tri chính sự. Trương Hán Siêu là một người học vấn
uyên bác, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, lại giàu lòng yêu
nước và có nhiều công lao đối với triều Trần, vì vậy ông được các
vua Trần tôn kính, xem như bậc thầy. Sau khi mất, Trương Hán Siêu
được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang
với các bậc hiền triết xưa. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vào
giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV nảy sinh cuộc tranh giành vị trí, ảnh
hưởng giữa Nho giáo và Phật giáo mà Trương Hán Siêu được coi là
người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo
tiến lên.
Bạch Đằng Giang phú là một kiệt tác trong văn chương
cổ Việt Nam. Về mặt nghệ thuật, đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao
của tài hoa viết phú. Về nội dung tư tưởng, Bạch Đằng Giang phú
là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh
thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi
nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh
giặc giữ nước.
白藤江賦
客有﹕
掛汗漫之風凡,拾浩蕩之海月,朝戛舷兮沅湘,暮幽探兮禹穴。
九江五湖,三吳百粵。
人跡所至,靡不經閱,胸吞雲夢者數百,而四方壯志猶闕如也。
乃舉楫兮中流,從子長之遠游。
涉大灘口,溯東潮頭,抵白藤江,是泛是浮。
接鯨波於無際,蘸鷂尾之相繆。
水天一色,風景三秋。
渚荻岸蘆,瑟瑟颼颼。
折戟沉江,枯骨盈邱。
慘然不樂,佇立凝眸。
念豪傑之已往,嘆蹤跡之空留。
江邊父老謂我何求?
或扶蔾杖,或掉孤舟,楫余而言曰﹕
此重興二聖擒烏馬兒之戰地,與昔時吳主破劉弘操之故洲也。
當其﹕
舳艫千里,旌旗旖旎。
貔貅六軍,兵刃蜂起,雌雄未決,南北對壘。
日月昏兮無光,天地凜兮將毀。
彼必烈之勢疆,劉龔之計詭。
自謂投鞭,可掃南紀。
既而﹕
皇天助順,兇徒披靡。
孟德赤壁之師,談笑飛灰。
苻堅合淝之陣,須臾送死。
至今江流,終不雪恥。
再造之功,千古稱美。
雖然﹕
自有宇宙,固有江山。
信天塹之設險,賴人傑以奠安。
孟津之會,鷹揚若呂。
濰水之戰,國士如韓。
惟此江而大捷,由大王之賊閑。
英風可想,口碑不刊。
懷古人兮隕涕,臨江流兮厚顏。
行且歌曰﹕
“ 大江兮滾滾,洪濤巨浪兮朝宗無盡。
仁人兮聞名,匪人兮俱泯。
” 客從而賡歌曰﹕
“ 二聖兮垂明,就此江兮洗甲兵。
胡塵不敢動兮,千古昇平。
信知﹕
不在關河之險兮,惟在懿德之莫京。
張漢超
Bạch Đằng giang phú - Bản diễn
Nôm
Khách hữu:
Quải hãn mạn chi phong phàm,
Thập hạo đãng chi hải nguyệt.
Triều kiết huyền hề Nguyên Tương,
Mộ u thám hề Vũ Huyệt.
Cửu Giang Ngũ Hồ,
Tam Ngô Bách Việt.
Nhân tích sở chí,
Mi bất kinh duyệt,
Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách,
Nhi tứ phương tráng chí do khuyết như dã.
Nãi cử tiếp hề trung lưu, tòng tử trường chi viễn du.
Thiệp đại than khẩu, tố đông triều đầu, để Bạch Đằng giang, thị
phiếm thị phù.
Tiếp kình ba ư vô tế, trám diêu vĩ chi tương mâu.
Thủy thiên nhất sắc, phong cảnh tam thu.
Chử địch ngạn lô, sắt sắt sưu sưu.
Chiết kích trầm giang, khô cốt doanh khâu.
Thảm nhiên bất lạc, trữ lập ngưng mâu.
Niệm hào kiệt chi dĩ vãng, thán tông tích chi không lưu.
Giang biên phụ lão vị ngã hà cầu?
Hoặc phò lê trượng, hoặc trạo cô chu,
Tiếp dư nhi ngôn viết:
Thử trọng hưng nhị thánh cầm Ô Mã Nhi chi chiến địa, dữ tích thì
Ngô chủ phá Lưu Hoằng Tháo chi cố châu dã.
Đương kì:
Trục lô thiên lý, tinh kì ỷ ni.
Tì hưu lục quân, binh nhận phong khởi, thư hùng vị quyết, nam bắc
đối lũy.
Nhật nguyệt hôn hề vô quang, thiên địa lẫm hề tướng hủy.
Bỉ tất liệt chi thế cương, Lưu Cung chi kế quỷ.
Tự vị đầu tiên, khả tảo nam kỉ.
Kí nhi : hoàng thiên trợ thuận, hung đồ phi mi.
Mạnh Đức Xích Bích chi sư, đàm tiếu phi hôi.
Phục Kiên Hợp Phì chi trận, tu du tống tử.
Chí kim giang lưu, chung bất tuyết sỉ.
Tái tạo chi công, thiên cổ xưng mĩ.
Tuy nhiên:
Tự hữu vũ trụ, cố hữu giang sơn.
Tín thiên tiệm chi thiết hiểm, lại nhân kiệt dĩ điện an.
Mạnh Tân chi hội, ưng dương nhược lã.
Duy thủy chi chiến, quốc sĩ như hàn.
Duy thử giang nhi đại tiệp, do đại vương chi tặc nhàn.
Anh phong khả tưởng, khẩu bi bất san.
Hoài cổ nhân hề vẫn thế,
Lâm giang lưu hề hậu nhan.
Hành thả ca viết: "đại giang hề cổn cổn, hồng đào cự lãng hề
triều tông vô tận. nhân nhân hề văn danh, phỉ nhân hề câu mẫn."khách
tòng nhi canh ca viết: "nhị thánh hề thùy minh, tựu thử giang
hề tẩy giáp binh.
Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.
Tín tri:
Bất tại quan hà chi hiểm hề, duy tại ý đức chi mạc kinh.
Bản dịch
của Đông Châu
(Khảo về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong
tạp-chí, tập XIV số 8, tháng 6-1924).)
Khách có kẻ:
Chèo bể bơi trăng, buồm mây giang, gió. Sớm ngọn Tương kia, chiều
hang Vũ nọ.
Vùng vẫy Giang, Hồ: tiêu dao Ngô, Sở. Ði cho biết đây, đi cho biết
đó. Chằm Vân-mộng chứa ở trong kho tư-tưởng, đã biết bao nhiêu,
mà cái trí khí tứ phương, vẫn còn hăm hở!
Mới học thói Tử-trương:
bốn bể ngao du. Qua cửa Ðại-than sang bến Ðông-triều, đến sông Bạch-Ðằng,
đứng đỉnh phiến-chu. Trắng xóa sông kềnh muôn dặm, xanh rì dặng
ác một màu. Nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa thu. Ngàn lau quạnh
cõi, bến lách đìu-hiu. Giáo gậy đầu sông, cốt khô đầy gò. Ngậm ngùi
đứng lắng ngắm cuộc sống phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá,
mà đây dấu vết hãy còn lưu.
Kia kìa, bến sông, phu lão người đâu. Lượng trong bụng ta, chứng
có sở cầu. Hoặc gậy trống trước, hoặc thuyền bơi sau.
Vái tạ mà thưa rằng:
Đây là chỗ chiến địa vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu
của vua Ngô phá quân Lưu đây.
Đương khi:
muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm tuốt sáng lòe, cờ bay
đỏ khí! Tướng Bắc quân Nam đôi bên đối lũy. Đã nổi gió mà bay mây,
lại kinh thiên mà động địa. Kìa quân Nam-Hán nó mưu sâu, nọ Hồ-Nguyên
có sức khỏe. Nó bảo rằng: phen này đạp đổ nước Nam, tưởng chừng
có dễ.
May sao:
Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào như quân Tào Tháo bị
vỡ ở sông Xích-bích khi xưa, giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở
nọ. Ấy cái nhục tày trời của họ, há những một thời, mà cái công
tái tạo của ta lưu danh thiên cổ.
Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang-san. Trời đặt ra nơi
hiểm-trở, người tính lấy cuộc tồn-an. Hội này bằng hội Mạnh-tân,
như vương-sự họ Lã; trận nào bằng trận Dung-thủy, như quốc sĩ họ
Hàn. Kìa trận Bạch-Đằng này mà đại-thắng, bởi chưng Đại-vương coi
thế giặc nhàn. Tiếng thơm còn mãi, bia miệng hao mòn. Nhớ ai sa
giọt lệ, hổ mình với nước non!
Rồi vừa đi vừa hát rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê!
Cuồng to sóng lớn dồn về biển Đông.
Trời Nam sinh kẻ anh hùng.
Tăm kềnh yên lặng, non sông vững-vàng
Khách vừa đi vừa hát rằng:
Vua Trần hai vị Thánh-quân.
Sông kia còn dấu tẩy trần giáp-binh
Nghìn xưa gẫm cuộc thăng-bình.
Tài đâu đất hiểm, bởi mình đức cao.
Bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến
và Bùi Văn Nguyên
Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi
Lướt bể chơi trăng mải miết
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt
Cửu Giang, Ngũ Hổ
Tam ngô, Bách Việt
Nơi có người đi
Ðâu mà chẳng biết
Ðầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
Bèn giữa dòng chừ buông chèo
Học Tử Trường chừ thú tiêu diêu
Qua cửa Ðại Than
Ngược bến Ðông Triều
Ðến sông Bạch đằng
Rong chơi mái chèo
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Bập bềnh đuôi trĩ liền nhau
Nước trời: một sắc
Phong cảnh: ba thu
Ngàn lau xào xạc
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy
Gò đầy xương khô
Buồn vì cảnh thảm
Ðứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá?
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!
Bên sông, bô lão hỏi ta sở cầu
Có kẻ gậy lê chống trước
Có người thuyền nhẹ bơi sau
Vái ta mà thưa rằng:
- Ðây là chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị thánh bắt Ô Mã
Cũng là bãi đất xưa Ngô Chúa phá Hoằng Thao
Ðương khi ấy:
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới
Tì hổ ba quân
Gíao gươm sáng chói
Trận đánh thư hùng chửa phân
Chiến lũy Bắc Nam chống đối
ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổi
Kìa! Tất Liệt thế cường
Lưu Cung chước dối
Những tưởng gieo roi một lần
Quét sạch Nam bang bốn cõi
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người
Hung đồ hết lối
Khác nào như khi xưa :
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay
Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hòan tòan chết rụi
Ðến nay nước sông tuy chảy hòai
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi
Tái tạo công lao
Nghìn thu ca ngợi
Tuy nhiên;
Từ có vũ trụ
Ðã có giang sanh
Qủa là trời đất cho nơi hiểm trở
Cũng nhờ nhân tài giữ được điện an
Hội nào bằng Hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã
Trận nào bằng trận Duy Thủy, có quốc sĩ họ Hàn
Kìa trận Bạch đằng mà đại thắng
Bởi Ðại vương coi thế giặc nhàn
Tiếng thơm đồn mãi
Bia miệng không mòn
Khách chơi sông chừ ủ mặt
Người hòai cổ chừ lệ chan
Rồi vừa đi vừa ca rằng:
Sông Ðằng một dãi dài ghê
Luồng to sóng lớn tuôn về bể Ðông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
Anh minh hai vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan, muôn thuở thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.
|