Mới
phát hiện tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng
ở vùng
châu Ô châu Lý cũ
TS Nguyễn Việt
Pho tượng đồng chúng tôi được chiêm ngưỡng quả là
một phát hiện hiếm có. Tượng mô tả một người ngồi trên bệ ngai hai
tay đeo tràng hạt nắm vào nhau theo tư thế bắt quyết, mặt hơi ngẩng
thể hiện dung nhan đày đặn, sáng sủa, tươi tắn, khoan dung với cặp
môi cười mỉm và đôi mắt mở to. Điều mới mẻ của pho tượng là phong
cách thể hiện phối trộn những yếu tố nghệ thuật trang trí đồ đồng
truyền thống ở Tây Nguyên, nghệ thuật Chăm Pa và nghệ thuật làm
tượng Đại Việt.
Đây là một pho tượng ngồi với tổng chiều cao khoảng
hơn 60cm. Phần thân người được khoác bộ trang phục nhà quan với
chiếc áo khoác ngoài có phần cổ cánh sen trang trí hoa văn, trước
ngực sẻ hình chữ T ngược thường thấy trong các tượng làm bằng gỗ
hay đất thời Lê. Đoạn thắt lưng có ngấn đai với vạt phủ thả giữa
hai chân. Phía sau lưng thể hiện rõ đai áo và tấm đỡ lưng hình chữ
nhật, đặc biệt là hai cánh nách áo cạnh lưng rất tiêu biểu của trang
phục đời Lê đã được khai quật trong các mộ hợp chất thế kỷ 17,18
và thường mô tả trong các tượng vua quan trong các đền chùa đồng
bằng Bắc bộ. Phần chân ngồi thể hiện khá rõ hai lớp trang phục,
phía trên là phần áo dài khoác ngoài, phía dưới bên trong là gấu
quần thụng phủ lên đôi hài mũi cong nhẹ. Đôi hài cũng mang phong
cách trang trí tượng đồng bằng Bắc bộ.
Nếu chỉ nhìn bức tượng từ phần cổ trở xuống, ta dễ dàng nhận ra
sự quen thuộc với các tượng trong các đền chùa miền Bắc nước ta
ở thời Lê, Trịnh. Tuy nhiên, cách trang trí bệ ngồi và nhất là cung
cách thể hiện nét mặt và chiếc mũ cánh chuồn phản ánh tính địa phương
rõ nét của nghệ nhân làm tượng.
Chân dung tượng Trần Hưng Đạo
Bức tượng thể hiện một người đàn ông không có râu,
không lông mày, mắt rộng hơi nhếch cười nhưng không có con ngươi
và nếp mí, mang phong cách chân dung tượng Chăm rất điển hình. Trên
đầu bức tượng đội mũ cánh chuồn, nhưng không giống các mũ cánh chuồn
miền Bắc mà được tạo một bản hình tròn ở trên và hai cánh cong như
lá cây ở hai bên. Chính giữa bản tròn phía trên là đồ án trang trí
gồm hai hình chữ C soắn hai đầu úp lưng vào nhau tương tự đồ án
điển hình của những chiếc “hộ tâm phiến” bằng đồng trong văn hóa
Đông Sơn. Phía dưới là một bông hoa đào bốn cánh ở giữa có gắn một
viên đá quý màu xanh đen. Viền trang trí trên mũ cánh chuồn thống
nhất chung với mọi băng viền trang trí trên bệ ngai tượng, đó là
viền băng hình quấn thừng đối xứng giống như các nhánh đôi của bông
lúa mạch. Băng trước trán cũng được trang trí tương tự, nhưng được
bổ sung thêm một băng phía trên tạo bởi những hình chữ C soắn hai
đầu nằm ngửa. Cách trang trí hình soắn thừng (hay hình bông lúa)
và hình sợi dây cuốn chữ C và chư S soắn hai đầu là phong cách điển
hình của nghệ thuật Tây Nguyên.

Ảnh (Internet): Tượng đồng Trần Hưng Đạo được
đào lên trong một am gạch ở miền Trung.
Trên cổ bức tượng là một vòng hạt chuỗi gần giống
tràng hạt của tăng lữ. Tràng hạt như vậy còn thấy được đeo trên
hai cổ tay bức tượng tôn thêm vẻ thánh thiện mộ đạo của nhân vật.
Bức tượng được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tuy nhiên khi xem xét
kỹ chúng tôi nhận thấy hai bàn tay bắt quyết trước ngực dường như
cầm nâng một vật gì đó đã bị gẫy từ trước. Có thể đó là một thanh
kiếm. Như vậy, xét trang phục, mũ đai có thể nhận ra tư thế của
một vị quan, nhưng cách thể hiện khuôn nét mặt lại như một vị thánh.
Điều này đã được giải mã nhờ những dòng chữ khắc chìm sau lưng bức
tượng.
Những dòng minh văn khắc sau lưng bức tượng
Phía sau bức tượng, nghệ nhân đã khắc chữ thành 4
dòng với tổng số 9 chữ. Dòng trên cùng có 4 chữ Đại Vương Thượng
Thần khắc ở phía trên tấm đỡ lưng hình chữ nhật. Điều đáng lưu ý
là chữ Đại sai chính tả. Đó là chữ Đại mang nghĩa Đời, Thời Đại
chứ không phải chữ Đại là to lớn, vĩ đại trong nghĩa đúng của chữ
Đại Vương. Dòng thứ hai gồm ba chữ Trần Hương Đạo được khắc ở chính
giữa tấm đỡ lưng, ngay trên đai thắt lưng. Lưu ý là Hương chứ không
phải là Hưng. Dòng thứ ba có một chữ Trần khắc ở bên dưới đai thắt
lưng. Dòng thứ tư có một chữ không đủ nét, có thể là chữ Thần (?)
khắc ở chính giữa phía dưới bên ngoài tấm đỡ lưng.
Nhờ những chữ này mà việc giám định và định danh bức tượng được
dễ dàng hơn rất nhiều. Rõ ràng đây là một bức tượng Trần Hưng Đạo.
Theo chủ nhân bức tượng thì người dân ở một vùng Miền Trung đã đào
được báu vật này trong một am gạch. Nghiên cứu cách phát âm của
nhiều địa phương miền trung (kể từ Hà Tĩnh trở vào) cho thấy chữ
Hưng thường đọc là Hương. Việc khắc chữ Trần Hương Đạo thay cho
Hưng Đạo phản ánh rõ vùng đất đã đúc ra bức tượng này là vùng miền
Trung ở thời điểm còn mang đậm phong cách nghệ thuật Chăm Pa và
Tây Nguyên. Nét chữ khắc chân phương nhưng không nhà nghề lại sai
chính tả đã chứng tỏ tính dân dã của thợ tạo tượng. Vậy nguồn gốc
và niên đại bức tượng này thế nào?
Như đã phân tích ở trên về trang phục bức tượng ta
nhận thấy nhiều yếu tố phong cách trang phục Lê Trịnh đàng Ngoài.
Tuy nhiên cách thể hiện phần đầu, mặt người và trang trí ngai ngồi
lại phản ánh rõ nét tính địa phương miền Trung, đàng Trong. Thông
tin của chủ nhân bức tượng về nơi phát hiện là vùng Trung Bộ theo
tôi là khá phù hợp. Kích thước tượng chỉ phù hợp với những điện
thờ dòng họ. Và điều đó gợi ý hướng tìm tòi nguồn gốc bức tượng
từ những quan lại họ Trần đã theo chúa Nguyễn vào khai khẩn xứ Đàng
Trong ở thế kỷ 16-17.
Theo sách Ô Châu Cận lục của Dương Văn An, người
sống ở thế kỷ 16, thì từ cuối đời Trần, đặc biệt dưới thời khuynh
loát của Hồ Quý Ly cuối TK 14 đầu TK 15, vùng Thuận Quảng đã có
nhiều dòng tộc người Việt vùng Hoan Diễn (Nghệ An, Hà Tĩnh) vào
khai khẩn cùng người địa phương. Trong đó, họ Hồ và họ Trần chiếm
số đông và thuộc vào những danh gia vọng tộc trong vùng. Trong Ô
Châu Cận lục Dương Văn An đã liệt kê tới hàng chục nhân sĩ họ Trần,
nhiều người khi đó đã được lập đền thờ. Vào thời bắt đầu xưng vương
của chúa Nguyễn ở Thuận Quảng nổi lên vai trò của một viên quan
họ Trần làm Khám lý cai quản Phủ Hoài Nhân (vùng đất Quảng Ngãi,
Bình Định ngày nay), đó là Trần Đức Hòa. Chính vị quan này đã có
công lớn chiêu nạp Đào Duy Từ dưới trướng vào năm 1625 rồi hai năm
sau (1627) giới thiệu Đào Duy Từ với chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
Tương truyền, Trần Đức Hòa thuộc dòng dõi nhà Trần, làm quan và
theo chúa Nguyễn vào trấn thủ Thuận Hóa. Rất có thể gia tộc ông
có liên quan với dòng họ Trần Đức ở Nghệ An.
Phân bố đền thờ Trần Hưng Đạo dày đặc ở miền Bắc
nước ta. Tuy nhiên khá vắng bóng ở vùng châu Ô Châu Lý. Việc đưa
tượng Trần Hưng Đạo vào thờ ở vùng Chăm Pa cũ như một Thượng đẳng
thần rõ ràng gắn liền với những quan lại họ Trần trong vùng mà một
trong những nhân vật họ Trần có nhiều uy tín và thế lực nhất ở vùng
đất Thuận Quảng ở thế kỷ 17 là Trần Đức Hòa. Vì thế có cơ sở để
nghĩ rằng Trần Đức Hòa đã cho thợ địa phương đúc tượng này để thờ
vọng Đức Thánh Trần như cung cách người Việt ở Đàng Ngoài.
Đây là một phát hiện rất có giá trị cả về lịch sử
lẫn mỹ thuật. Gần như chúng ta chưa bao giờ phát hiện tượng đồng
Trần Hưng Đạo trong thời Phong Kiến. Đây lại là pho tượng phân bố
ở một vùng cách xa khu vực tập trung đền thờ Trần Hưng Đạo, được
tạo tác ở niên đại khá cổ xưa với phong cách mỹ thuật phối trộn
giữa phong cách thể hiện trang phục Lê Trịnh đằng Ngoài với phong
cách nghệ thuật truyền thống Chăm Pa và Tây Nguyên. Điều vô cùng
đáng quý nữa là bức tượng được bảo tồn khá nguyên vẹn. Trên thân
tượng phủ lớp patin gỉ đồng màu xanh đôi chỗ còn giữ được lớp tô
màu vàng phủ trên các nếp áo. Hy vọng trong một thời gian gần đây
chủ nhân bức tượng sẽ tạo điều kiện để đông đảo nhân dân cũng như
các nhà nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật có thể chiêm ngưỡng kiệt tác
vô giá này./.
11.1.2010
Source: drnguyenviet.com
|