Lịch
sử tên gọi Thanh Hóa: Từ thành Tư Phố
đến
thành Chim Hạc
"Có ai về là về Thanh Hóa...Dô
ta dô huầy!"
Nhịp chèo khỏe khoắn cùng điệu hò sông Mã đang đưa du khách về với
mảnh đất Xứ Thanh bên dòng sông Mã hiền hòa. Lịch sử đã ghi nhận
mảnh đất ấy với rất nhiều tên gọi khác nhau qua các thời kỳ lịch
sử: Châu Ái, trấn Thanh Đô, thừa tuyên Thanh Hóa, Thanh Hoa, và
rồi lại Thanh Hóa. Đến Thành phố Thanh Hóa hôm nay, chúng ta sẽ
được biết đến rất nhiều những địa danh, những tên gọi mang đậm dấu
ấn của một tòa thành cũ: Bến Ngự, cửa Tả, cửa Hữu, Đông Phố, Nam
Phố, Thọ Hạc, Hạc Thành, Cốc Hạ, Hàng Đồng, Hàng Than, Hàng Hương,
kênh nhà Lê...
Để hiểu hơn về thành phố chim Hạc này, xin mời các bạn theo dõi
những thông tin sau, hy vọng sẽ giúp các bạn vén mở một phần nào
đó những huyền bí về một thành phố mang tên một loài chim: thành
phố chim Hạc.
(Nguồn trích dẫn: http://lichsuvn.info)
Trong hệ thống thành quách Việt Nam,
thành Tư Phố - Thủ phủ của xứ Thanh xưa (ở làng Giàng xã Thiệu Dương,
huyện Thiệu Hoá, Thanh Hoá) có bề dầy năm tháng chỉ đứng sau Loa
Thành nơi An Dương Vương định đô đời Chu Noãn Vương Tần Thuỷ Hoàng
(Năm 257 tr CN). Theo sách Thuỷ Kinh Chú, một bộ sách có ghi chép
về địa lý thời ấy trong thư tịch cổ Trung Quốc thì từ thành Tư Phố
xuất hiện từ năm Nguyên Đỉnh thứ 6. Đối chiếu với niên biểu, Nguyên
Đỉnh là niên hiệu của Vương triều Tây Hán, đời Hán Vũ Đế, năm thứ
6 là năm 116 Tr CN. Cũng giống như Loa Thành nơi khởi đầu cho những
mạch nguồn truyền thuyết chảy cùng thời gian lưu vào hậu thế (Truyền
thuyết về Thần Kim Quy, về chiếc nỏ thần với mối tình Trọng Thuỷ
- Mỵ Châu day dứt). Thành Tư Phố cũng in ngấn vào thời gian nhiều
câu chuyện bi hùng, nhiều truyền thuyết lấp lánh các ánh vàng lịch
sử. Đạo quân xâm lăng nào đầu tiên đặt chân vào quận Cửu Chân xưa
(Thanh Hoá ngày nay).
Người Xứ Thanh đã đương đầu với những
tên giặc xâm lăng đầu tiên ấy như thế nào? Vẫn theo sách Thuỷ Kinh
Chú thì “Năm kiến Vũ thứ 19 tháng 10, Mã Viện vào quận Cửu Chân
ở phương nam… Đến huyện Cư Phong, tướng giặc không đầu hàng đều
chém mấy chục đến mấy trăm người… Cửu Chân bèn yên”. Đó là cuộc
viễn chinh của Mã Viện. Mùa hè năm 43 Mã Viện kéo quân đến Lãng
Bạc. Đạo quân của hai Bà (Trưng Trắc, Trưng Nhị) chặn giặc không
thành, tan vỡ. Một cánh quân Cửu Chân do Chu Bá, Đô Đương chỉ huy
lui về thành Tư Phố tiếp tục kháng chiến. Tháng 11 năm 43 Mã Viện
cùng 2000 chiếc thuyền theo đường thuỷ tiến đánh Cửu Chân. Chúng
chỉ đoạt được thành Tư Phố khi “tướng giặc không hàng, đều chém
đến mấy trăm người”. Thành Tư Phố đã ngân khúc bi hùng ca đầu tiên
trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của người xứ Thanh như thế. Hai
ngàn năm, trải qua bao vương triều thành Tư Phố thiêm thiếp trong
đêm dài Bắc Thuộc. Năm 1804 (năm Gia Long thứ 3) Thế tổ Nguyễn Phúc
Ánh quyết định rời thành Tư Phố. Xã Thọ Hạc được chọn đặt Trấn lị
của Trấn Thanh Hoa với tên mới: Hạc Thành (Thành chim Hạc).
Thành hình lục lăng, chu vi dài tới 360 trượng (một trượng bằng
10 thước ta, một thước ta bằng 0,4m) có hào sâu bao quanh chân thành,
có hành cung dành riêng cho nhà vua mỗi khi đi thị sát, có dinh
thự cho ba vị quan đầu tỉnh: Tổng đốc, án sát, Tuần phủ lại có cả
trại giam dành cho kẻ phạm tội. Ngoài thành các chợ, các phố dần
định hình. Chợ có chợ Vườn Hoa lớn nhất tỉnh, các phố mang tên nghề
như phố Hàng Đồng chuyên bán đồng, phố Hàng Hương chuyên sản xuất
và buôn bán hương… Năm Đinh Mão (1807) chỉ sau ba năm thành Chim
Hạc được xây dựng người dân phố thị lần đầu tiên được trông thấy
bóng dáng những nho sinh lũ lượt kéo đến thành dự cuộc thi hương
đầu tiên tổ chức tại Tỉnh nhà. Rồi những buổi hoàng hôn tiếng trông
thu không từ thành Chim Hạc vang vọng đổ xuống ngõ quê. Tưởng như
lịch sử đã lặng bình qua thời đao lửa. Nhưng không, thành Chim hạc
không đầy 140 năm sau đã trở thành đống gạch đổ nát chìm sâu vào
sắc cỏ thời gian.
TRUYỀN THUYẾT VỀ THÀNH CHIM HẠC
Truyền thuyết kể: Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, tháng 6 năm Nhâm
Tuất 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua lập ra vương triều Nguyễn (Triều
đại phong kiến quân chủ cuối cùng trong lịch sử Trung đại Việt Nam)
lòng vẫn không yên với đất Bắc Hà, nơi có nhiều cựu thần nhà Lê.
Sau ngày đăng quang vua Gia Long bàn bạc chia đặt quan chức để cai
quản 11 trấn Bắc Thành, bàn phép khoa cử thu hút nhân tài, vỗ về
sĩ phu đất Bắc. Trước khi xa giá hồi loan, ông về Nguyên miếu ở
trong thành Triệu Tường, thuộc địa phận Quý Hương, Quý Huyện (Quý
Hương: Gia Miêu ngoại trung. Quý Huyện: tức huyện Tống Sơn, Hà Trung,
Thanh Hoá ngày nay) bái yết tiên tổ.
Đêm ấy, một đêm mùa thu se lạnh nơi
huyện Tống Sơn. Mưa thu như lưới giăng câu móc ngoài cửa sổ, gió
núi ràn rạt thổi về nhà vua bồn chồn không yên. Một suy nghĩ bám
riết trong ông: Chọn địa điểm nào để rời thành Tư Phố đặt trấn lị
Cho Trấn Thanh Hoa? Đất Thanh Hoá là đất thang mộc, núi sông ngùn
ngụt linh khí. Phía Tây bắc Trấn có đất An Tôn, có thành Tây Đô
nhưng là nơi đất chật hẹp, hẻo lánh, nơi đầu non cuối nước, hợp
với loạn mà không hợp với trị. Phía tây nam có đất Đông phố (huyện
Đông Sơn) nhà Tuỳ (589) đã từng chọn đặt quận trị, phía Đông Bắc
có đất Duy Tinh (huyện Hậu Lộc) đời Lý (1012) chuyển về nhưng đều
không có gốc vững bền.
Thao thức mãi đến tận canh ba nhà vua
mệt mỏi, chập chờn đi vào giấc ngủ. Đột nhiên cửa hành cung mở xịch.
Một người, mặt mũi khôi ngô, tay dài quá gối, mình như mình hạc,
vóc như vóc tiên, toàn thân áo quần trắng muốt tiến đến sụp lạy
trước mặt vua tâu: “Biết Bệ hạ đang trăn trở tìm địa điểm dời thành
Tư Phố, Thần Bạch Hạc phái tôi đến giúp bệ hạ việc này. Ngày mai
khoảng giữa giờ Thìn xin bệ hạ theo tôi định đất. Đó là nơi bền
vững muôn đời, loạn có thể giữ, bình có thể trị, dẫu sau này có
lần đổ nát nhưng lại hoàn như châu về Hợp Phố”. Nhà vua toan hỏi
thì người đó chẳng thấy đâu chỉ thấy một ánh hào quang trắng mềm
mại tựa ánh trăng ngàn uyển chuyển bay qua rèm cửa. Dìu dịu mùi
hương thơm kỳ lạ lan toả khắp nhà. Giật mình tỉnh giấc nhà vua mới
biết mình vừa qua một giấc chiêm bao. Nửa mừng nửa sợ nhà vua tự
hỏi: Thần Bạch Hạc là vị thần nào, phải chăng đây là thần Chim Lạc,
cha ông xưa đã thờ là Chim Tổ, loài linh điểu giang cánh bay trên
trống đồng? Như vậy linh khí của núi sông này đã giúp ta tìm ra
nơi trấn lỵ cho trấn Thanh Hoa. Sáng hôm sau nhà vua kể lại chuyện
trong giấc chiêm bao cho các cận thần, truyền lệnh sẵn sàng xe ngựa
chờ Thần linh ứng. Nhà vua còn dặn giữa giờ thìn hễ có người mặc
áo trắng đến lập tức phải đón vào bái kiến.
Chưa đến giờ thìn các quan hầu cận đã
dõi mắt chăm chú quan sát những con đường dẫn đến Nguyên miếu. Rồi
giờ thìn cũng tới. Những lối mòn thấp thoáng trên rặng núi xa xa
vẫn chẳng thấy bóng vị thần hay vị tiên nào xuất hiện. Đúng giữa
giờ thìn bỗng từ trên không vang vọng xuống tiếng chim lạ. Nhà vua
cùng các quan ngửa mặt trông lên. Một con chim Hạc trắng to lớn
khác thường cứ bay lượn trước sân nhà vua ngự như có ý đợi chờ.
Nhà vua hiểu ra liền lên xe ngự giá. Chỉ chờ thế chim Hạc kêu to
liền mấy tiếng rồi bay trước dẫn đường. Đến một vùng đất mới có
rất nhiều đầm nước xanh biếc chim Hạc ngừng cánh bay hạ xuống trước
xe nhà vua gật gật đầu. Vua chưa kịp đáp lời cảm tạ thì chim Hạc
đã vụt bay sang một đầm nước kế bên, thân hình đột nhiên cứ nhỏ
dần nhỏ dần hoà lẫn vào các loài chim khác đang tung tăng bơi lội
trên mặt nước. Nhà vua phóng tầm mắt bao quát khắp vùng. Quả là
nơi sơn thuỷ hữu tình. Núi sông như đặt bày trên đồng xôi bãi mật.
Phía đông có dãy Linh Trường và dãy Trường Lệ làm án. Tả có long
sơn long thuỷ, hữu có hổ phục hổ chầu. Đây chính là vùng đất vua
trông đợi bấy lâu nay. Vui mừng khôn xiết nhà vua chỉ tay xuống
đất dõng dạc bảo các quần thần: Ta sẽ dựng thành ở chính nơi này.
Toà thánh đó gọi là thành Chim Hạc.
Vùng đất mà nhà vua quyết định dựng thành bây giờ là Thành phố Thanh
Hoá, tỉnh lị của xứ Thanh ngày nay.

Ảnh: Thành Thọ Hạc

Ảnh: Một đoạn tường thành cũ của
Thành Thọ Hạc

Ảnh: Thành phố Thanh Hóa chụp từ
vệ tinh
Cách đây hơn 200 năm (tháng 5-1804), theo Chỉ dụ
của vua Gia Long, Trấn thành Thanh Hóa được dời từ làng Dương Xá
(xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa) về làng Thọ Hạc (huyện Đông Sơn)
để xây dựng Trấn lỵ. Đầu năm 1828 quân dân Thanh Hóa bắt đầu xây
dựng Trấn thành. Trấn thành Thanh Hóa hình lục lăng, có chu vi 630
trượng (gần 2,6 km), cao 1 trượng (4 m), có hào bao quanh mặt ngoài,
Thành mở 4 cửa: Cửa tiền phía Nam, cửa hậu phía Bắc, cửa tả phía
Đông Nam, cửa hữu phía Tây Nam. Trong Thành là nơi ăn ở vị trí của
các quan trị đầu tỉnh.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Nhưng gần
30 năm sau (tháng 11 - 1885) quân xâm lược Pháp mới đổ bộ vào Thanh
Hóa nói chung và tỉnh lỵ Thanh Hóa nói riêng. Để nắm toàn quyền
cai trị tỉnh lỵ, ngày 22 tháng 7 năm 1889, vua Thành Thái ký đạo
dụ thành lập thị xã Thanh Hóa bao gồm 7 làng: Đức Thọ Vạn, Cẩm Bào
Nội, Cốc Hạ, Phủ Cốc (thuộc Tổng Bố Đức); Thọ Hạc, Đông Phố, Nam
Phố (thuộc Tổng Thọ Hạc) (1)
Năm 1918, thị xã Thanh Hóa tổ chức thành 10 phường:
Tả Môn (cửa Tả), Bắc Môn (cửa Hậu), Nam Môn (cửa Tiền), Đông Lạc,
phường Thành Thi, phường Nam Lý, phường Phú Cốc, phường Vạn Trường,
phường Bào Giang, phường Đức Thọ (Lò Chum) (2). Ngày 31 tháng 5
năm 1929, toàn quyền Đông Dương ký Nghị định nâng cấp thị xã Thanh
Hóa lên thành phố Thanh Hóa. Bốn tháng sau, ngày 11 tháng 9 năm
1929, Đốc lý thành phố điều chỉnh lại địa giới hành chính: Phía
Bắc giáp làng Thọ Hạc, phía Nam giáp làng Mật Sơn, phía Đông giáp
Bến Ngự và phía Tây giáp Phủ Đông Sơn. Cũng theo Nghị định trên,
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1930, thành phố được chia thánh 6 đơn
vị hành chính, từ phường Đệ nhất đến Đệ lục.
Một trích dẫn khác lại cho rằng:
- Về tỉnh Thanh Hóa ( Thanh Hoa), ông Phan Huy Chú
từng khen ngợi:
Thanh Hoa mạch núi cao vót ; sông lớn lượn quanh, biển ở phía đông,
Ai Lao sát phía tây, bắc giáp trấn Sơn Nam, nam giáp đạo Nghệ An.
Núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu. Các
triều trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng. Đến Lê lại là nơi
căn bản. Vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương
tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho. Đến những
sản vật quý, cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thiêng thì người giỏi
nên nảy ra những bậc phi thường; vượng khí chung đúc nên xứng đáng
đứng đầu cả nước. (Lịch triều Hiến Chương Loại Chí)
Việc đổi tên tỉnh: vì kiêng húy mẹ vua Thiệu Trị (Hồ Thị Hoa), tên
tỉnh phải đổi. Ban đầu đổi là Thanh Ba. Sau vua thấy không ổn mới
nói “Những chữ huý ở Thái miếu rất là tôn trọng, theo lễ phải nên
cung kính mà kiêng tránh. Nhưng đối với cái nơi phát tích nghìn
muôn đời, cũng phải nên còn lại sự thực. Xét các sử sách của nước
Nam, tỉnh Thanh đời cổ là Thanh Hoá. Vậy chuẩn cho lấy lại tên cổ.".
Thiển nghĩ, lúc Nguyễn Kim dấy quân phò trợ nhà Lê, tên đã là Thanh
Hoa. Khi Nguyễn Hoàng dẫn con em Gia Miêu đi lập giang sơn mới,
tên cũng là Thanh Hoa. Vì vợ của cháu chắt mà đổi tên đất phát tích
của tổ tiên thì có hợp lễ hay không? (Cầu Hoa ở Gia Định cũng đổi
thành cầu Bông vì chuyện này), đó là năm 1843, đời Thiệu Trị thứ
nhất.
- Về Hạc Thành, Đồng Khánh Dư Địa Chí viết: Thành
tỉnh ở địa phận xã Thọ Hạc huyện Đông Sơn. Thành xây bằng gạch đá,
chu vi 630 trượng (Có lẽ 2960m), cao 1 trượng (Có lẽ là 4.7m), có
4 cửa, hào rộng 9 trượng 3 thước (Có lẽ 43.7m) sâu 7 thước (Có lẽ
3.3m). Các vệ Tuyên Vũ, Hùng Vũ, Nhuệ Vũ bao vòng phía trước; Quảng
Vũ, Nghĩa Vũ bao vòng phía sau; Túc Vũ, Công Vũ bao vòng bên trái;
Trang Vũ, Kiện Vũ, Cương Vũ bao vòng bên phải. Đồn thuỷ quân ở địa
phận Nam Ngạn, hai vệ Tả,Hữu đóng ở đây. Đàn Xã tắc ở phía tây bắc
thành. Đàn Tiên Nông ở phía đông nam thành. Đàn Sơn xuyên ở phía
tây nam thành. Văn miếu ở phía đông bắc thành. Miếu Hội đồng ở phía
nam thành. Vũ miếu ở phía tây thành. Học xá ở phía nam thành. Trường
thi ở phía đông bắc thành.
Giống như bao hào lũy xây dựng đầu triều Nguyễn Gia Miêu, thành
có kiến trúc Vauban. Kiểu cấu trúc phòng ngự lợi hại, từng được
thử thách ở Diên Khánh trước quân Tây Sơn (và ở Quy thành Sài Gòn
trước chính quân đội Nguyễn)
Source: Internet
|