|
Hoàng Sa, Trường Sa
chưa từng xuất hiện
trong lịch sử địa đồ hành chính Trung Quốc
Phạm Hoàng Quân
TTCT - Trung Quốc là nơi có truyền
thống lâu đời về sử học nói chung và địa đồ nói riêng, ngành khảo
cổ từng phát hiện vài tấm địa đồ vẽ những địa phương nhỏ có niên
đại rất sớm, như vào năm 1986 phát hiện tại Cam Túc bảy bức Bãi
thả ngựa sông Thiên Thủy có niên đại thời Chiến Quốc (năm 299 trước
Công nguyên), năm 1974 phát hiện tại gò Mã Vương (tỉnh Hồ Nam) ba
bức có niên đại thời Hán (năm 168 trước Công nguyên).
Đến nay, địa đồ được xem là thể hiện cương vực quốc gia hoàn chỉnh
sớm nhất xuất hiện vào năm 1121 (đời Tống), là bức Cửu vực thú lệnh
đồ (hình 1) được khắc trên đá, phát hiện năm 1960 tại huyện Vinh
(tỉnh Tứ Xuyên). Phiến đá khắc địa đồ này cao 175cm, rộng 112cm,
phần địa đồ cao 128cm, rộng 101cm, hiện đặt tại Viện Bảo tàng tỉnh
Tứ Xuyên. Cửu vực là cách gọi biến dạng từ “Cửu châu”, hai cách
gọi này ám chỉ cương vực toàn quốc. Cửu vực thú lệnh đồ có thể hiểu
là “địa đồ toàn quốc dùng để điều phối các quan trấn nhậm”.

Hình 1: Cửu vực thú
lệnh đồ
Giới hạn cương vực nhà Tống trong
Cửu vực thú lệnh đồ về phía nam đến Quỳnh Châu (Hải Nam). Hình trạng
đảo Hải Nam như ta thấy ở góc dưới, bên trái của địa đồ này được
vẽ khá chuẩn xác, gần giống với hình thể đảo Hải Nam trên bản đồ
hiện đại, trong khi vài tấm địa đồ có niên đại muộn hơn Cửu vực
thú lệnh đồ lại không mô tả chính xác bằng.
Có một điểm cần lưu ý: trước nay giới
nghiên cứu địa đồ Trung Quốc vẫn ghi nhận Vũ tích đồ và Hoa Di đồ
(cùng khắc trên một bia đá, niên đại 1136) là hai bức có niên đại
sớm nhất và dẫn dụng theo sách Lịch sử khoa học kỹ thuật Trung Quốc
(quyển 3) của J. Needham. Tuy nhiên sách này ấn hành năm 1959, lúc
chưa phát hiện Cửu vực thú lệnh đồ, nên bức này không được khảo
tả và học giả phương Tây còn ít đề cập.
Các địa đồ sau này trải qua các đời
Nguyên, Minh như Quảng dư đồ của La Hồng Tiên, hoàn thành năm 1541,
khắc in năm 1555; Hoàng triều chức phương địa đồ khắc in năm Sùng
Trinh thứ 9 (1636); Dư địa đồ của Dương Tử Khí khắc in năm 1526...
là những địa đồ hành chính toàn quốc, được thực hiện theo chủ trương
của chính quyền trung ương các đời. Những địa đồ này thực hiện dưới
sự ảnh hưởng phần nào của kỹ thuật vẽ địa đồ phương Tây, điểm cực
nam của Trung Quốc trong cương vực tổng thể vẫn không quá đảo Quỳnh
Châu (Hải Nam).
Ngoài ra, còn một số địa đồ hành chính
và quân sự tiêu biểu trong tập Quảng Châu lịch sử địa đồ tinh túy
xuất bản năm 2003, do Phòng lưu trữ hồ sơ lịch sử số 1 thuộc Tổng
cục Lưu trữ trung ương Trung Quốc phối hợp Cục Lưu trữ thành phố
Quảng Châu công bố. Toàn tập tuyển chọn 97 bức, gồm địa đồ thế giới,
địa đồ hành chính toàn Trung Quốc, địa đồ hành chính tỉnh Quảng
Đông, thành phố Quảng Châu và các phủ, huyện... do giới quan chức
hành chính, quân sự soạn/vẽ/in vào triều Thanh và thời Dân Quốc.
Qua khảo sát, chúng tôi thấy đa số
các bức địa đồ này chưa được giới học giả Trung Quốc dẫn dụng trong
các công trình nghiên cứu về biển, đảo phía nam Trung Quốc đã in
thành sách. Mặt khác, cũng chưa thấy giới học giả Việt Nam dẫn dụng
trong các nghiên cứu về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa hoặc các nghiên cứu chung về biển Đông. Để góp thêm tư liệu,
xin giới thiệu sơ lược vài bức tiêu biểu trong tập địa đồ nêu trên:
a/ Loại địa đồ hành chính tỉnh Quảng
Đông gồm mười bức có niên đại sớm nhất là Quảng Đông tổng đồ, kích
thước 295x196cm, vẽ màu trên lụa, khoảng năm 1685 (đời vua Khang
Hi năm thứ 24) (hình 2). Phần trên của địa đồ là nội dung thuyết
minh (Quảng Đông toàn tỉnh đồ thuyết), giới thiệu tổng quan về tỉnh
Quảng Đông, nói rõ về tứ chí (bốn hướng giáp giới) cùng các đơn
vị hành chính. Địa đồ này và chín bức cùng loại cho thấy cương giới
tỉnh Quảng Đông chỉ đến hết phủ Quỳnh Châu (Hải Nam).

Hình 2: Quảng Đông
tổng đồ
b/ Loại địa đồ hành chính toàn quốc
được tuyển hai bức Thiên hạ toàn đồ, kích thước 142x231,6cm và Hoàng
triều dư địa toàn đồ, kích thước 57x57,3cm, niên đại khoảng năm
1728, 1729 (hình 3). Hai địa đồ này cho thấy cương giới phía nam
Trung Quốc chỉ đến phủ Quỳnh Châu (Hải Nam).

Hình 3: Hoàng triều
dư địa toàn đồ
c/ Loại địa đồ thể hiện cương giới
biển có hai bức Duyên hải thất tỉnh khẩu ngạn hiểm yếu đồ (Các nơi
hiểm yếu ở bảy tỉnh ven biển), kích thước 30x36,7cm, niên đại khoảng
năm 1887 và Thất tỉnh duyên hải toàn dương đồ (Toàn bộ vùng biển
của bảy tỉnh duyên hải) (hình 4), kích thước 28x914,2cm, khoảng
năm 1862-1908 (đời vua Quang Tự). Hai địa đồ này cho thấy vùng biển
nam Trung Quốc không vượt quá 18 độ vĩ Bắc.

Hình 4: Quảng Đông
thủy sư doanh quan binh trú phòng đồ
d/ Loại địa đồ quân sự có bức Quảng
Đông thủy sư doanh quan binh trú phòng đồ (Các đồn biên phòng của
thủy quân Quảng Đông), kích thước 32x560cm, vẽ màu trên giấy, niên
đại ước sau năm 1866. Địa đồ quân sự này thể hiện chi tiết về núi
sông, đảo dư, cửa khẩu, doanh trại, pháo đài... (trên các đảo và
ven bờ biển), ghi rõ các nơi giáp giới vùng biển Giao Chỉ (hình
5, trích đoạn). Các chi tiết cho thấy không nhóm đảo hoặc hòn đảo
nào ứng với Tây Sa và Nam Sa (cách gọi của Trung Quốc đối với Hoàng
Sa và Trường Sa).

Hình 5: Quảng Đông
thủy sư doanh quan binh trú phòng đồ
Trong các công trình nghiên cứu về
Nam Hải, giới học giả Trung Quốc thường dẫn dụng khoảng 50 bức địa
đồ đời Minh, Thanh - là những bức địa đồ tổng quan thế giới - để
lý luận về chủ quyền lịch sử, đại ý rằng: “Địa đồ lịch sử Trung
Quốc đã ghi nhận về hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (bằng tên gọi
của thời đó, như Vạn lý Trường Sa, Thiên lý Thạch Đường...) chứng
tỏ các vương triều Trung Quốc đã xác định chủ quyền đối với những
đảo, quần đảo này”. Trong khi những bức địa đồ nêu trong bài viết
này là những địa đồ thể hiện cương vực Trung Quốc xưa (có giá trị
như bản đồ hành chính Trung Quốc ngày nay), là cơ sở pháp lý để
xác định chủ quyền cương vực quốc gia lại không được nhắc tới.
Phạm Hoàng Quân
(Nhà nghiên cứu độc lập tại TP.HCM, chuyên về cổ sử và cổ địa dư
Trung Quốc)
19.7.2010
@tuoitre.vn
|