Mở cửa Trung quốc, Thưở ấy và Bây
giờ
Richard Holbrooke - Project Syndicate
Dịch thuật:
Trịnh Bảo Ngọc - 31.12.2008
WASHINGTON,
DC - Chính sách mở cửa của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng trong các năm
1971-1972 của Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissingger là một
sự xuyên phá mang tính chất lịch sử. Tuy it nổi tiếng hơn, nhưng
cùng tầm vóc quan trọng, là bước nối tiếp đáng kể được thực hiện
bởi Tổng Thống Jimmy Carter cách đây đúng 30 năm, đó là việc thiết
lập mối quan hệ ngoại giao toàn diện giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ.
Nếu như không có hành động này, mà đã được công bố ngày 15-12-1978,
thì các mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung Cộng đã không thể nào vượt quá
một mối quan hệ cao cấp, mong manh, kèm với một chương trình nghị
sự hạn chế.
Khi rời nhiệm sở vào năm 1977, Tổng Thống Gerald
Ford và Kissinger đã để lại phía sau mối quan hệ với Hoa Lục còn
dở dang và đương nhiên là chưa vững chắc. Khi ấy Hoa Kỳ vẫn còn
công nhận Đài Loan, dưới cái tên Cộng Hòa Trung Hoa, là chính phủ
duy nhất và hợp pháp của Trung Quốc. Kể từ năm 1972, Hoa Kỳ và Trung
Hoa lục địa đã duy trì "các văn phòng liên lạc" nhỏ, không
được chính thức công nhận, tại thủ đô của mỗi nước. Liên lạc chính
thức còn rất hạn chế, và mậu dịch song phương hàng năm chỉ dưới
1 tỉ đô la. (Ngày nay, nó là con số đáng kinh ngạc với 387 tỉ đô
la).
Carter nhậm chức Tổng Thống với hy vọng bình thường
hóa các mối quan hệ với Trung Cộng. Điều này buộc Hoa Kỳ phải chuyển
hướng công nhận từ Đài Loan sang đại lục. Có người cho rằng đây
chỉ đơn thuần là sự thừa nhận một hiện thực, nhưng thực sự đó là
một bước đi với những hệ quả quan trọng đòi hỏi đảm lược về phương
diện ngoại giao và chính trị.
Một lộ trình cần phải vạch ra cho Hoa Kỳ, khi công
nhận Hoa Lục, để tiếp tục dàn xếp với chính phủ Đài Loan việc không
công nhận tư cách đại diện Trung Quốc của họ; điều quan trọng nhất,
là Hoa Kỳ phải giữ quyền bán vũ khí cho Đài Loan. Về quan điểm chính
trị, thì có cuộc lobby cho Đài Loan rất nổi tiếng, một trong những
lobby mạnh nhất ở Hoa Kỳ, hiện vẫn được khống chế bởi cánh bảo thủ
trong chính giới Hoa Kỳ.
Dẫn đầu bởi "Ông Bảo Thủ" của Hoa Kỳ, Thượng
nghị sĩ Barry Goldwater, và ứng cử viên dẫn đầu cuộc đề cử của Đảng
Cộng hòa năm 1980, Ronald Reagan, nhóm lobby cho Đài Loan đã chống
lại việc bình thường hóa (với Trung Cộng) đến cùng. (Goldwater đã
đưa chính phủ Hoa Kỳ ra Tòa án Tối cao để lật ngược quyết định của
Carter, nhưng không thành công; Reagan, trong chiến dịch vận động
tranh cử tổng thống năm 1980, đã hứa trong chừng mực nào đó là sẽ
hủy bỏ việc bình thường hóa, ông chỉ từ bỏ lập trường đó sau khi
đã đắc cử.)
Câu chuyện ly kỳ được phơi bày ra trong hai năm đầu
của chính quyền Carter, và hoàn toàn nằm ngoài tầm mắt của công
chúng, ngoại trừ hai chuyến đi quan trọng đến Hoa Lục, một chuyến
của Ngoại trưởng Cyrus Vance, và chuyến kia của Cố vấn An ninh Quốc
gia Zbigniew Brezinski. Thật khó có thể tin được, là các anh em
chúng tôi những người từng tham gia vào qúa trình này (lúc đó tôi
là Thứ Trưởng Ngoại Giao phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương Sự
Vụ) đã lèo lái để giữ các cuộc thương thảo căng thẳng ấy hoàn toàn
bí mật.
Trung Cộng đã đòi hỏi phải cắt đứt mọi quan hệ chính
thức giữa Đài Loan và Hoa Kỳ, kể cả việc bán vũ khí. Biết rằng một
nước cờ như thế sẽ kích động nên một phản ứng ngược dữ dội trong
nước, vì vậy chúng tôi đã tìm một phương thức duy trì các mối liên
lạc chính thức và việc mua bán vũ khí với Đài Loan ngay cả sau khi
chúng tôi không còn công nhận họ và chấm dứt hiệp ước an ninh song
phương được phê chuẩn dưới thời của Eisenhower.
Chưa hề có tiền lệ này trong luật pháp Hoa Kỳ hay
quốc tế. Với sự cố vấn của cựu Tổng Trưởng Tư pháp thời Tổng thống
Eisenhower, Herbert Brownell, các luật sư của Bộ Ngoại giao đã phác
thảo Bộ Luật Quan Hệ Đài Loan, một bộ luật không giống với bất cứ
bộ luật nào khác trong lịch sử Hoa Kỳ, cho phép chính phủ Hoa Kỳ
trực tiếp làm ăn với Đài Loan, kể cả việc bán vũ khí, mà không cần
phải công nhận sự hợp pháp của quốc gia này.
Thế nhưng khi chúng tôi giải thích với Trung Cộng
tại sao đó là điều thiết yếu để công nhận Hoa Lục, thì họ bỏ ngang
cuộc đàm phán. Họ muốn giao thương cùng với các quyền lợi khác qua
sự công nhận đó, điều này có lợi cho cả hai nước trong thời Chiến
Tranh Lạnh, lúc mà Trung Cộng còn thù địch ghê gớm với Liên Bang
Xô Viết, quốc gia mà họ gần như sắp đánh nhau chỉ trong một vài
năm trước đó. Dẫu vậy Đài Loan vẫn còn là một chướng ngại khổng
lồ, có vẻ như không thể vượt qua được.
Mũi xuyên phá đã đến vào cuối năm 1978, và thời điểm
được thận trọng ấn định bởi Tổng thống Carter sau các cuộc bầu cử
bán nhiệm kỳ của quốc hội. Yếu tố quan trọng nhất nằm trong sự xuyên
phá này có lẽ là sự xuất hiện đột ngột của Đặng Tiểu Bình người
được xem là nhà lãnh đạo tối cao mới của Trung Cộng. (Họ Mao mất
năm 1976).
Họ
Đặng, người đã bị buộc phải đội chiếc mũ lừa và phải tự đấu tố mình
trong thời kỳ quái đản của cuộc Cách Mạng Văn Hóa, đã hoàn tất công
cuộc phục hồi quyền lực vĩ đại nhất mà người ta có thể tưởng tượng
được, và vào mùa thu năm 1978, cuối cùng ông đã có đủ quyền lực
để thỏa thuận với Hoa kỳ: Trung Cộng không "đồng ý" về
việc bán vũ khí hay về các họat động khác của Hoa Kỳ với Đài Loan,
dù vậy nhưng họ sẽ xúc tiến việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Đó là một ví dụ cổ điển về lối thương thuyết của Trung Cộng: cứng
rắn trên nguyên tắc, uyển chuyển trong chi tiết.
Tôi đang bỏ qua nhiều tình tiết ở đây - vì đó là
một cuộc thương thảo rất phức tạp - nhưng đấy mới là cốt lõi của
cuộc đàm phán. Vào tháng Một năm 1979, Đặng đã thực hiện chuyến
đi lịch sử đến Hoa Kỳ, nó bắt đầu bằng một tiểu yến [1] tại tư gia
của Brzezinski nhưng lại đạt mức cực điểm của một buổi Quốc yến
[2] mà mọi người mong muốn nhất trong những năm của Tổng Thống Carter
(đây cũng là điểm son cho chuyến viếng thăm Washington đầu tiên
của Tổng Thống Nixon kể từ khi ông từ chức; tôi ngồi cùng bàn với
Nixon, và đã giữ lại cái thực đơn mà mọi người cùng ký vào tối hôm
ấy).
Tại nhà Brzezinski, Đặng đã nói đến những ước mơ
của mình về một Trung Quốc mà ông biết có lẽ ông không còn sống
để nhìn thấy. Ông tin rằng Trung Quốc có khả năng nhảy vọt để bù
đắp lại những năm tháng mà thế giới đã qua mặt họ, nhưng chỉ với
sự hỗ trợ của người Mỹ. Ông sẵn sàng hợp tác để kềm hãm Liên Xô,
thậm chí ông còn đồng ý việc thiết lập những trạm tình báo nghe
lén bí mật của Hoa Kỳ dọc theo biên giới Hoa Lục để theo dõi hỏa
tiển của Sô Viết.
Đặng đã tiên tri một cách chính xác sự trao đổi rộng
rãi về sinh viên, về kỹ thuật hiện đại, và về thương mại. Hơn bất
kỳ viên chức Hoa Kỳ nào khác, ông ta đã lường trước những gì sẽ
đạt được qua việc mở cửa của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng. Nhưng chính
Đặng cũng đã không hình dung ra hoàn toàn những gì sẽ được giải
tỏa bởi tuyên bố ngày 15-12-1978 - ngày nay không có gì bằng việc
phát triển mối quan hệ song phương quan trọng bậc nhất trên thế
giới.
Richard Holbrooke, nguyên là Thứ Trưởng Ngoại
Giao phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương Sự Vụ vào thời gian bình
thường hóa quan hệ với Hoa Lục năm 1978, ông viết ở chuyên mục nguyệt
san cho tờ The Washington Post.
Chú thích của Dịch giả
[1] Tiểu yến: "private dinner"
là bữa tiệc khoản đãi các thành phần như hoàng tử, công chúa, v.v...,
và không phải là nguyên thủ quốc gia. Chính phủ không trả chi phí
cho các tiểu yến.
[2] Quốc yến: "State dinner",
là đại tiệc khoản đãi nguyên thủ các nước do đích thân Tổng Thống
chủ tọa.
Nguyên tác Anh ngữ:
Opening
China, Then and Now
by Richard Holbrooke
Project Syndicate
|