Con muốn làm người bình thường!
Dương Phạm
Nhân
đọc loạt bài viết về ‘Bấm thói háo danh và vĩ cuồng của giới
trí thức’ cũng như về một thứ quốc nạn có tên là Bấm ‘loạn
chức danh, học vị’, tôi xin mạn phép đưa ra đôi ba dòng về
‘chứng nan y’ đang lan rộng không chỉ trong giới trí thức trưởng
thành mà còn cả một thế hệ trí thức mầm non của nước nhà.
Cách đây lâu lâu khi còn làm việc ở
Việt Nam, tôi được một chị bạn rủ đi mua sắm đồ cho con trai mới
vào lớp một. Nhân chuyện ra chuyện vào, chị vui mồm kể đã phải khó
nhọc thế nào mới ‘chạy’ được cho con vào một trường điểm có tiếng
ở Hà Nội, mà theo lời chị là ‘một ngôi trường không vừa đâu, toàn
con cháu người nổi tiếng và các vị to học ở đây’. Chưa hết, chị
còn cho biết phải dùng ‘kế’ và tiền thế nào để vào được lớp chuyên,
lớp chọn, mặc dù theo tôi biết thì nhà nước đã bỏ chế độ trường
chuyên lớp chọn từ khá lâu rồi.
Vào được trường tốt đã khó, để con lọt vào ‘top 10’
học sinh giỏi của lớp mới là việc đau đầu. Tuy là vào lớp một, nhưng
chị khoe cháu đã học xong gần hết chương trình học lớp một để vào
cái là bứt được lên ngay so với các bạn. ‘Anh ấy là nhà thơ hẳn
hoi, bây giờ mà con nó học không ra gì thì chỉ có nước chui xuống
đất’, đấy là lời giải thích cho mọi nỗ lực cố gắng với chuyện học
hành của đứa con nhỏ của chị.
Thực ra tôi cũng chẳng ngạc nhiên. Chị chỉ là một
trong số hàng triệu triệu bà mẹ trẻ có con và muốn con có được những
gì tốt nhất. Nhưng thực ra, đó là lý do hết sức hợp lý để che đậy
một nguyên nhân khác sâu xa hơn, thói hám danh không những đã ám
vào người lớn chúng ta mà bây giờ còn đang len lỏi vào cả những
thế hệ thơ bé.
Trẻ con bây giờ làm gì còn cái quyền được đi đá bóng,
đánh khăng, chơi búp bê cho đến lúc mệt nhoài rồi lăn ra ngủ? Như
một công dân 18 tuổi, quyền và nghĩa vụ của các cháu là phải ‘học,
học nữa, học mãi’ (mà một anh bạn tôi đã dám mạn phép nói lái đi:
‘học, học nữa, hộc máu’). Học chính khóa, học thêm, học đàn, học
múa, học hát, học vẽ, v.v… mà mục đích của sự học này là để bất
cứ khi nào có dịp, bố mẹ sẽ đem con mình ra khoe ngay lập tức.
Còn nữa, đã học là phải học giỏi, phải ‘top 10’,
không có quyền học kém hoặc chán học. Nhưng sức người có hạn, nên
bố mẹ lại phải giúp, gia sư chưa đủ thì đã có tiền để ‘chạy’ mong
thầy cô thông cảm. Còn trẻ con thì dưới sức ép phải là ‘nhất’ nên
cũng xoay xở mọi cách, từ chép bài cho đến quay bài rồi thi hộ.
‘Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome’, thôi thì kiểu gì cũng xong
được cho cái chức danh ‘học sinh giỏi’.
Dần dần, tỷ lệ học sinh khá giỏi càng tăng thì tỷ
lệ hạnh kiểm và đạo đức tốt càng giảm (đương nhiên là không có con
số thống kê cụ thể). Tôi biết nhiều ông bố bà mẹ, vì không muốn
bị mang tiếng là con ‘học kém’ với ‘thi trượt’ còn khuyến khích
con mang ‘phao’ vào phòng thi cho ‘yên tâm’, hoặc thậm chí thuê
người làm luận văn tốt nghiệp giúp. Thế là lại thêm một loạt các
dịch vụ ra đời phục vụ cho ngành giáo dục, tạo thêm biết bao công
ăn việc làm.
Rồi cơn lốc du học nước ngoài ào đến. Hình như thời
nào cũng giống nhau, cứ ‘ở bển’ về là oai. Thế là từ đại gia, doanh
nhân, nghệ sĩ, tri thức đều lo để con mình được hưởng một nền giáo
dục ‘được cả thế giới công nhận’, bất cần biết sức học của cháu
đến đâu. Không học được trong nước thì là do ‘chương trình chưa
chuẩn, ra nước ngoài kiểu gì cũng xong.’
Nhưng du học rồi mới thấy được nhiều chuyện dở khóc
dở cười. Tôi từng học cùng trường ở Anh với cậu ấm một vị cục trưởng
ở Việt Nam. Hai đứa cùng học Thạc sỹ nhưng khác ngành. Đến khi tốt
nghiệp, rành rành là cậu ấm này bị đánh trượt do luận văn không
đạt yêu cầu và chỉ được cấp một chứng chỉ là Postgraduate Certificate
(chứng nhận đã tham gia khóa học này nhưng chưa được tốt nghiệp,
khác với Master Degree – bằng Thạc sỹ) nhưng về đến Việt Nam thì
gia đình mở cỗ rất to mừng ‘Thạc sỹ về làng’.
Chưa kể trong gần 7 năm đại học ở đây (do trượt hai
năm), cậu ấm này luôn là khách hàng quen thuộc của bạn tôi do chuyên
đặt hàng viết các bài luận hoặc các bài tập về nhà. Bao nhiêu tiền
đổ ra cuối cùng chỉ để mua một thứ danh ‘hão’, nhưng lại rất thực
trong đời sống xã hội ở Việt Nam.
Cùng thế hệ 8x, tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu
tài năng ở lứa tuổi mình vươn lên nhưng cũng không ít những ‘thùng
rỗng kêu to’. Tuy nhiên, chính những thế hệ đi trước đã góp phần
lớn xây dựng nên tính háo danh của một thế hệ trí thức trẻ. Từ những
lời động viên trở thành khen ngợi quá đáng rồi thành tâng bốc mù
quáng. Tài năng bé nhưng xé ra danh to.
Xưa, Nguyễn Công Trứ từng nói ‘đã mang tiếng ở trong
trời đất, phải có danh gì với núi sông’; nay, con cháu đều nhất
mực học theo ông, nhưng đánh tiếc, chỉ chạy theo ‘danh’ mà không
có ‘thực’.
Kết lại bài viết, tôi xin kể lại câu chuyện cười
ra nước mắt về đứa con anh bạn tôi. Hôm cháu ngủ gật trên bàn học
vì quá mệt, anh bạn tôi ra đánh thức rồi động viên:
‘Con có muốn làm siêu nhân không? Muốn làm siêu nhân
thì phải học giỏi nhất, đánh võ giỏi nhất, chơi đàn hay nhất chứ?
Không thì làm sao thành siêu nhân?’.
Thằng bé thẫn người ra một lúc rồi bật khóc:
‘Con không muốn làm siêu nhân đâu, con chỉ muốn làm
người bình thường thôi’.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả,
một sinh viên đang học tại London.
Diễn
Đàn BBC
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Cần giáo
dục về sự xấu hổ
Nguyễn Hưng Quốc
25/08/2009
Từ
năm 1945, đặc biệt từ năm 1954, người Việt Nam, nhất là ở miền Bắc
và sau đó, từ năm 1975, trong cả nước, không ngớt được/bị giáo dục
về lòng tự hào. Tự hào về bốn hay năm ngàn năm văn hiến. Tự hào
về tài đánh giặc, hết giặc Tống đến giặc Minh, giặc Thanh, giặc
Chiêm, rồi cuối cùng, giặc Pháp và giặc Mỹ. Ngoài ra, người Việt
Nam còn tự hào về tài trí của mình, bao gồm cả tài văn chương, với
những tên tuổi có thể làm lu mờ truyền thống lừng lẫy của thời Tiền
Hán và Thịnh Đường bên Trung Quốc.
Tự hào. Lúc nào cũng tự hào. Sách viết về đất nước
và con người Việt Nam lúc nào cũng ánh lên vẻ sự tự hào. Có những
điều tự hào có thực và cũng có không ít những điều chỉ do tưởng
tượng.
Câu nói “ra ngõ gặp anh hùng” hay “nhiều người ngoại
quốc mơ ước sáng ngủ dậy thấy mình là người Việt Nam” được lặp lại
lặp lại từ học đường đến các phương tiện truyền thông đại chúng.
Tuy nhiên, theo tôi, đã đến lúc nên có chính sách
giáo dục người Việt Nam về lòng xấu hổ.
Thật ra, nói “theo tôi” là một cách nói hơi cường
điệu. Rõ ràng, tôi không phải là người đầu tiên và càng không phải
là người duy nhất nói lên điều đó.
Trước, từ giữa thập niên 1980, đạo diễn Trần Văn
Thủy đã nhấn mạnh vào nhu cầu giáo dục lòng xấu hổ. Trong cuốn phim
tài liệu Chuyện tử tế nổi tiếng, Trần Văn Thủy đã so sánh việc giáo
dục tại Nhật và tại Việt Nam:
Trong khi ở Nhật, một quốc gia tiến bộ và giàu
mạnh nhất châu Á, trẻ em luôn được giáo dục là đất nước của họ rất
nghèo tài nguyên và bị thua trận một cách nhục nhã, thì tại Việt
Nam, một quốc gia thuộc loại lạc hậu và nghèo đói nhất trên thế
giới, trẻ em lại luôn được giáo dục một cách đầy tự hào: tài nguyên
thì giàu có, lịch sử thì trực rỡ, con người thì anh hùng, tài trí
thì vô song, v.v…
Cũng trong thập niên 1980, sau Chuyện tử tế một tí,
trong bài “Nhìn từ xa… Tổ quốc”, nhà thơ Nguyễn Duy cũng nói đến
hiện tượng “bội thực tự hào”, hơn nữa, “ngộ độc tự hào” của người
Việt Nam.
Ông chỉ ra những điều nghịch lý: “xứ sở thông minh
/ sao thật lắm trẻ con thất học”, “xứ sở thật thà sao thật lắm thứ
điếm”, “xứ sở cần cù / sao thật lắm Lãn Ông”, “xứ sở bao dung /
sao thật lắm thần dân lìa xứ”, “xứ sở kỷ cương / sao thật lắm vua
/ vua mánh - vua lừa - vua chôm - vua chỉa / vua không ngai - vua
choai choai - vua nhỏ”.
Nhưng trên tất cả là nghịch lý: Trong tuyên truyền,
lúc nào cũng “hát đồng ca”: “Ta là ta mà ta vẫn mê ta”, trong khi
đó, trên thực tế, ai cũng biết: “Thần tượng giả xèo xèo phi hành
mỡ / ợ lên thum thủm cả tim gan”.
Tuy nhiên, xin lưu ý: Trần Văn Thuỷ và Nguyễn Duy
không phải là những người đầu tiên phê phán bệnh tự hào và đặt vấn
đề về nhu cầu giáo dục lòng xấu hổ.
Ngay từ đầu thế kỷ 20, các nhà nho cấp tiến đã nhận
ra được điều đó. Trong các tác phẩm của mình, cả Phan Chu Trinh
lẫn Phan Bội Châu đều nhiều lần nhấn mạnh đến cái ngu và cái hèn
của người Việt Nam. Hãy thử đọc lại đoạn văn này của Phan Chu Trinh:
“Nhân dân nước Nam bây giờ, ngu xuẩn như trâu
như ngựa, tha hồ cho người ràng trói, cho người đánh đập, có miệng
mà không dám kêu, gần chết mà không dám than thở.” (Trích theo
Đặng Thai Mai, Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20, nxb Văn
Học, Hà Nội, 1974, tr. 85).
Việt Nam hiện nay là một quốc gia độc lập. Tuy nhiên,
trên rất nhiều phương diện, so với mặt bằng chung của thế giới cũng
như so với chính tiềm năng và tiềm lực mà chúng ta có, có rất nhiều
điều khiến chúng ta phải xấu hổ.
Cần xấu hổ về trình độ phát triển của Việt Nam hiện
nay vốn rất thấp không những so với thế giới mà còn so với cả các
quốc gia láng giềng của chúng ta ở châu Á.
Cần xấu hổ về khoảng cách giàu nghèo phi lý và bất
nhẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa cán bộ và người lao động
bình thường không có quyền thế và thân thế.
Cần xấu hổ về tinh thần vô kỷ luật, thậm chí, rất
kém văn hoá nhan nhản khắp nơi, từ công tư sở đến ngoài đường phố,
từ cách làm việc đến cách đi lại.
Cần xấu hổ về sự hoành hành của nạn tham nhũng ở
mọi cấp.
Cần xấu hổ về những cách hành xử của nhà cầm quyền:
nhu nhược đối với nước ngoài, đặc biệt với Trung Quốc, nhưng lại
độc tài và tàn bạo ngay với những người tha thiết nhất đối với chủ
quyền và sự toàn vẹn của Việt Nam.
Theo tôi, không chừng xấu hổ nên được xem là một
đức hạnh cần thiết nhất hiện nay.
Trong chừng mực nào đó, có thể nói, người Việt Nam
hiện nay nên được chia thành hai loại: Loại biết xấu hổ và loại
không biết xấu hổ.
Giận thay, chính những kẻ không biết xấu hổ ấy lại
đang không ngừng rao giảng chân lý, công lý và đạo lý.
Nguyen Hung Quoc's Blog
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Quốc nạn
loạn chức danh, học vị
Nguyễn Văn Tuấn
Mấy
năm đầu khi mới về Việt Nam, tôi để ý thấy trên tivi người ta rất
trịnh trọng khi giới thiệu một chuyên gia nào đó, người ta thường
“đi trước” với một loạt danh xưng, chức danh như GS TS, PGS TS,
BS CKI, BS CKII, NSUT, NSND, v.v… Mới đây, có người còn ghi trước
tên họ là “Dr. Dr. ABC”, ý nói là TS BS ABC. Thử hỏi nếu một đồng
nghiệp nước ngoài đọc được cái danh hiệu Dr Dr đó họ sẽ nghĩ gì?
Họ sẽ mỉm cười.
Những danh xưng như “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân
dân”, “nhà giáo ưu tú”, “nhà giáo nhân dân”, v.v… thoạt đầu mới
nghe qua thì hơi lạ lùng. Tìm hiểu một hồi thì tôi biết là đây là
mấy danh hiệu của Trung Quốc thời bao cấp. Hóa ra, Việt Nam mình
bắt chước Trung Quốc từ cách đặt tên các cơ quan công quyền (như
“Ủy ban nhân dân”), đến đồng phục cảnh sát (cũng y chang TQ) và
những danh hiệu nghệ sĩ. Một dân tộc mà chỉ biết bắt chước y chang
người khác, thì chỉ có thể nói dân tộc đó lười biếng suy nghĩ và
thiếu sáng tạo, và đừng trách tại sao sao người ta không khinh mình.
Đến đồng phục mà còn bắt chước thì quả là hết ý!
Tác giả bài sau đây viết câu này: "Lịch
sử dân tộc ta đã chứng minh bằng máu và nước mắt một quy luật là:
những chính sách dập khuôn theo ngoại bang sớm muộn rồi cũng gây
những hậu quả xấu, thậm chí là những thảm hoạ dân tộc."
Tôi hoàn toàn đồng ý.
Thoạt đầu tôi rất ngạc nhiên, vì thấy mấy tước danh
này chẳng cần thiết mấy, thế nhưng một thời gian sau quen dần tôi
mới nhận ra là ở nước mình người ta sống vì danh xưng và chức danh
nhiều hơn là thực lực.
Tôi có rất nhiều danh thiếp từ đồng nghiệp trong
nước. Một vài đặc điểm chính của các danh thiếp này là: (1) Ngoài
chức danh ra, họ còn đề cả những chức vụ trong các hiệp hội chuyên
môn, có người ghi chi chít đến kín cả danh thiếp; (2) Người thì
đề “tu nghiệp” bên Tây, bên Singapore ngắn hạn, nhưng chẳng biết
ghi như vậy để làm gì; (3) Người thì liệt kê một đống bằng cấp này
nọ từ thời … trung học.
Đọc nhiều danh thiếp tôi có cảm tưởng như là đọc
một bản lí lịch khoa học trích ngang. Cũng vui vui. Tôi dám chắc
rằng nếu đồng nghiệp Tây phương đọc mấy danh thiếp này họ sẽ ôm
bụng cười, vì họ cảm thấy tội nghiệp cho người viết. Đó là chưa
kể những cách dịch sang tiếng Anh rất ngô nghê!
Nhưng không phải ai cũng thích trình bày mấy chức
danh đó đâu. Năm ngoái trong chuyến về công tác bên VN tôi gặp một
anh bạn mà tôi đã nghe từ lâu là một giáo sư (thiệt) ở Đại học Bách
Khoa TPHCM. Điều gây ấn tượng cho tôi là sau buổi gặp ở quán cà
phê, anh đưa cho tôi một danh thiếp rất đặc biệt. Tấm danh thiếp
màu trắng chữ xanh lá cây với những dòng chữ:
Không tên
Không bằng cấp, không chức danh
Không có việc làm
Không địa chỉ
Mặt sau của danh thiếp là phần tiếng Anh:
NO NAME
No degree, No position
Unemployed
No address
Có lẽ anh muốn làm một phát biểu trước tình trạng
mua quan bán tước như hiện nay. Đọc bài “Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay
quốc nạn loạn chức danh, học vị” dưới đây làm tôi nhớ đến một người
rất đặc biệt: đó là giáo sư CR Rao. Hồi đó là đầu thập niên 1990s,
khi ông sang Úc thuyết giảng ở ĐH Sydney, đến giờ giải lao, nhiều
người lại bu quanh hỏi han, trò chuyện. Tôi nhớ có người hỏi sao
ông chỉ kí “C R Rao” mà không có kèm theo học vị hay chức danh gì
cả, ông ấy có vẻ lúng túng một hồi rồi nói: Tôi nghĩ C R Rao là
đủ, vì đó là tên mà cũng là qualification của tôi; vả lại viết nhiều
quá chỉ tốn giấy mực.
Chuyện nọ xọ chuyện kia. Nói đến chức danh làm tôi
liên tưởng đến viết cho báo Việt Nam. Mình đâu có bao giờ đề mấy
cái học vị này nọ phía trước tên, nhưng khi đọc bài báo thì thỉnh
thoảng thấy nó sờ sờ đó. Bực mình. Gửi email phàn nàn: sao đặt cho
tôi mấy cái chức danh đó ? Ban biên tập lúc nào cũng lịch sự trả
lời là họ cần phải “nâng trọng lượng” nên phải đề mấy cái danh xưng
linh tinh đó phía trước tên. Ba tôi mà sống lại ông rất giận chuyện
này, vì lúc sinh tiền, Ba tôi vẫn ghét mấy chức danh trước tên mà
ông cho là đe dọa người đọc. Ý kiến của người phát biểu quan trọng
hơn là cá nhân người phát biểu.
Tuan
's Blog
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thói háo
danh và vĩ cuồng của trí thức
Vương Trí Nhàn
Lời
TS: Trí thức là một thành phần quan trọng, đóng vai trò định
hình tư tưởng, dẫn dắt xã hội. Tuy vậy, theo nhà nghiên cứu Vương
Trí Nhàn, không phải toàn bộ nhưng ít nhất một bộ phận trong số
họ có những nhược điểm cố hữu. Tuần Việt Nam xin giới thiệu một
số bài viết của ông về chủ đề này với mục đích tự nhìn lại mình,
phản tư để thấu hiểu và thay đổi chính mình.
Bệnh sùng bái danh hiệu, chức vụ... trong giới trí
thức vừa được Đặng Hữu Phúc xem như một quốc nạn. Chỉ có thể chia
sẻ với một khái quát như thế nếu người ta nhận ra những gì đứng
đằng sau cái căn bệnh có vẻ dễ thương đó là sự liên đới của nhiều
“chứng nan y“ cùng là sự tha hoá của giới trí thức cũng như của
nhiều lớp người khác.
Bài viết Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn
chức danh, học vị gợi tôi nhớ tới một câu chuyện trong sử cũ.
Nhìn người bằng... chức danh
Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc
là Chu Thuấn Thuỷ trên bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần
đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu
mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng
ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài
năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều
vào viêc phát triển xã hội Nhật.
Chu không phải là loại người đọc sách xa lánh sự
đời. Một học giả Nhật đã viết về Chu “Cái học của tiên sinh nhấn
mạnh về "kinh bang tế thế". Giả sử nếu cần biến một vùng
đất hoang thành phố thị, phải tập hợp sĩ nông công thương, thì một
tay tiên sinh có thể cáng đáng để xây dựng nên phố thị. Thay vì
“ thi thư lễ nhạc” tiên sinh thích nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc
về cách canh tác ruộng nương và cách xây dựng nhà cửa, cách làm
rượu làm tương... Tiên sinh có thể dạy người ta bất cứ việc gì”
.(1)
Riêng chuyện bộ máy chính quyền Đàng Trong không
thể chấp nhận một người như trên, đủ cho ta hiểu trình độ của bộ
máy đó là như thế nào.
Trong tập ký sự của mình, Chu Thuấn Thuỷ kể khi trình
diện nhà cầm quyền địa phương, gặp chuyện buồn cười là người Việt
Đàng Trong bắt ông ứng khấu ngay một bài thơ rồi viết trên giấy.
Tiếp đó câu đầu tiên bị hỏi là “Cống sĩ với cử nhân và tiến sĩ,
bên nào hơn ?“.
Khi biết Chu chỉ là cống sĩ, viên quan địa phương
có ý xem thường, cho học lực của Chu không thể nào đọ được các vị
khoa bảng nhà mình.
Từ câu chuyện về Chu Thuấn Thuỷ tới câu chuỵên về
nghệ sĩ Nga Vladimir Ashkennazy mà Đặng Hữu Phúc vừa kể, như là
có sự nối tiếp. Hoặc có thể nói cả hai phối hợp với nhau làm nên
một đôi câu đối khá chỉnh. Một bên thì không thể hiểu người nổi
tiếng lại không có một chức danh nào, còn bên kia thì không cần
biết trước mặt mình là người đã được hoàng đế nhà Minh mời ra giúp
nước, chỉ nghe cái bằng cống sĩ đã bĩu môi chê bai - giữa người
ngày xưa với người ngày nay, sao mà có sự ăn ý đến thế!
Từ háo danh tới vĩ cuồng
Đặng Hữu Phúc đã nói tới cái khó chịu khi phải nghe
đám người “mở miệng là họ nói tới chức tước “ - tức đám người háo
danh - trò chuyện với nhau. Ai đã sống trong giới trí thức ở ta
hẳn thấy chuyện đó chẳng có gì xa lạ.
Anh A và anh B vốn cùng nghề và cùng cơ quan, họ
cùng dự buổi họp nhỏ, chứ không phải đăng đàn diễn thuyết trước
bàn dân thiên hạ gì.
Thế mà cứ động phát biểu thì từ miệng anh A, vang
lên nào là “như giáo sư B đã nói” (gọi đầy đủ cả tên họ), nào là
“tôi hoàn toàn đồng tình với các luận điểm giáo sư B. vừa trình
bày“ (Thực ra có luận điểm khoa học gì đâu mà chỉ là mấy nhận xét
vụn). Và B cũng đáp lại bằng cách nói tương tự.
Khi phải dự những cuộc hội thảo ở đó cách xưng hô
và nói năng giữa các thành viên theo kiểu như thế này, tôi chỉ có
cách ráng chịu một lúc rồi lảng. Tôi không sao nhớ nổi họ nói với
nhau điều gì. Và tôi đoán họ cũng vậy. Vì mỗi người trong họ có
vẻ còn mải để ý xem người phát biểu đã gọi người khác đúng chức
danh chưa, hay để sót, chứ đâu có chú ý tới nội dung các phát biểu.
Không khí nhang nhác như những buổi họp quan viên trong các làng
xóm xưa, mà Ngô Tất Tố hay Nam Cao đã tả.
Tại sao chúng ta khó chịu với lớp người háo danh
này? Đơn giản lắm, ta thấy họ ấu trĩ, non dại, thực chất họ thấp
hơn cái vị thế mà họ chiếm được, không xứng với chức danh họ nhăm
nhăm mang ra khoe.
Ai đã thử quan sát tình trạng tinh thần của đám người
mê tín hẳn biết, người càng thiếu lòng tin, thì khi vào cuộc mê
tín càng cuồng nhiệt.
Giới trí thức cũng vậy, cái sự thích kêu cho to chẳng
qua là một cách để xoá bỏ mặc cảm. Kẻ yếu bóng vía lấy cái mã bên
ngoài để làm dáng che đậy cho sự trống rỗng bên trong.
Mấy thói xấu mà Đặng Hữu Phúc nêu lên chỉ đáng để
người ta cười giễu, ghét bỏ, thương hại. Song ác một nỗi chính nó
lại là dấu hiệu đầu tiên của nhiều chứng nan y khác chẳng hạn căn
bệnh mà Cao Xuân Hạo trong một bài viết ở cuốn Tâm lý người Việt
nhìn từ nhiều góc độ (2) gọi là bệnh vĩ cuồng ( me’ganomanie).
Cao Xuân Hạo kể một chuyện mà thoạt nghe chắc chẳng
ai dám tin. Hàng năm cơ quan lưu trữ nước mình thường phải thanh
lý hàng tấn những hồ sơ “sáng kiến phát minh“ gồm toàn đề nghị viển
vông do người trong nước ùn ùn gửi tới. Cao Xuân Hạo nói thêm điều
đáng lo là ở chỗ phần đông chúng ta khi nghe những điều quái gở
ở đây đều thấy bình thường, cùng lắm thì là loại sai lầm dễ tha
thứ; còn ai tỏ ý kinh hoàng thì bị mọi người coi là bệnh hoạn vô
đạo đức vì đã không tin vào khả năng sáng tạo của những người bình
thường.
Cần phải gộp cả thói háo danh và bệnh vĩ cuồng nói
trên để phân tích vì giữa chúng có một điểm chung là đều xuất phát
từ những người và nhóm người sống trong tình trạng cô lập, không
có khả năng tự nhận thức, đứng ngoài nhịp phát triển tự nhiên của
thế giới.
Tình hình lại cần được xem là tệ hại bởi nó bám rễ
vào bộ phận tinh hoa của xã hội.
Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của
những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó. Những nhược điểm của
trí thức chẳng qua chỉ là phóng to nhược điểm của cộng đồng. Và
nếu như những nhược điểm này đã thâm căn cố, đế trở thành một sự
tha hoá, thì tình trạng của người trí thức sẽ là một phòng thí nghiệm
hợp lý để nghiên cứu về tình trạng tha hoá nói chung. Phải nghiên
cứu kỹ lưỡng thì may ra mới có cơ hội chữa chạy hay ít nhiều cũng
giảm thiểu tình hình nguy hại.
Ghi chú:
(1) Chu Thuấn Thuỷ Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch
kỷ sự), Vĩnh Sính dịch và chú thích, Hội khoa học lịch sử Việt Nam
1999, tr.11
(2) Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc -- Tâm lý Người Việt nam
nhìn từ nhiều góc độ, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,2000, tr.82-87
Nguồn: TuanVietNam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tôi chỉ là Ashkenazy
Đặng Hữu Phúc
Tôi
xin được bắt đầu bài viết này bằng một câu chuyện có thật xảy ra
ở TP Hồ Chí Minh vào năm 1995. Chuyện như sau: Trong một chuyến
đi bằng đường hàng không, do trục trặc, nghệ sỹ Piano lớn của thời
đại chúng ta là Vladimir Ashkenazy đã phải dừng lại ở TP HCM hai
ngày. Tất nhiên một nghệ sỹ lớn như Ashkenazy khó lòng mà không
bị phát hiện ra trong thế giới nhiều thông tin này. Và ông đã được
mời tổ chức một buổi hoà nhạc nho nhỏ cho những người hâm mộ. Với
sự khiêm tốn vốn có ở những người vĩ đại, ông chỉ muốn biểu diễn
ở phòng nhỏ trong Nhạc viện TPHCM và chủ yếu dành cho một công chúng
hẹp, trong giới nhà nghề. Việc này tất nhiên được nhạc viện thành
phố chú ý ngay và họ muốn biến chuyến thăm bất đắc dĩ này quảng
cáo thêm cho uy tín của nhạc viện.
Người lãnh đạo nhạc viện lúc đó là một giáo sư, tiến sỹ, nghệ sỹ
nhân dân đã dẫn đầu một nhóm giáo sư, tiến sỹ của nhạc viện TPHCM
đón tiếp Ashkenazy.
Trong buổi tiếp, sau khi trân trọng giới thiệu với Ashkenazy từng
thành viên của ta với đầy đủ chức danh, học vị, thì việc mà phía
ta muốn hỏi ông ta, để đưa vào programe (tờ in chương trình) và
giới thiệu khi biểu diễn là: Ashkenazy là gì? Thạc sỹ, tiến sỹ,
giáo sư hay là gì gì hơn thế nữa ? Và câu trả lời là: Tôi chỉ là
Ashkenazy.
Tưởng khách không hiểu. Chủ lại hỏi lại và gợi ý thêm cho dễ hiểu
hơn: chắc một nghệ sỹ lớn như ông thì phải có tham gia giảng dạy,
vậy khi đó chức danh và học vị của ông là gì? Câu trả lời vẫn không
thay đổi: Tôi chỉ là Ashkenazy.
Ô hay! Lạ cái ông này, cỡ như ông ta ít nhất cũng phải có một chức
danh gì chứ? hay ông ta giấu? Và cuộc gặng hỏi vẫn tiếp tục. Tuy
vậy, truy mãi, cuối cùng, dù đông người, ta đã phải chịu thua một
mình ông, vì câu trả lời vẫn chỉ có thế, dù đã được pha thêm chút
khó chịu: Tôi chỉ là Ashkenazy!
Cách giới thiệu một cuộc hoà nhạc ngày nay
và cái tên cha sinh mẹ đẻ
Trên thế giới thì hàng trăm năm nay, khi giới thiệu một buổi biểu
diễn nhạc chuyên nghiệp (hoặc in trên bìa CD) chỉ đơn giản như sau,
ví dụ:
1/Về tác giả : Sonate số 2, giọng Si giáng thứ của F.Chopin.
2/Về biểu diễn: Piano : V.Ashkenazy
Cách đây khoảng trên hai chục năm, ở Việt Nam ta cũng tương tự như
vậy. Nhưng bây giờ thì khác xa rồi, thường họ sẽ giới thiệu theo
công thức như sau:
1/ Về tác giả: Tên tác phẩm, của + Chức danh (giáo sư, phó giáo
sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ
sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú). + Giải thưởng (giải
thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ
tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên tác giả
2/ Về biểu diễn: Độc tấu + tên nhạc cụ, do + Chức danh (giáo sư,
phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân
dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú) + Giải thưởng
(giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý
(Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên người +
biểu diễn
Mời bạn đọc thử lắp những chức danh, danh hiệu này trước những tên
tuổi như: Mozart, Beethoven, Chopin ….. hoặc: Karajan, Rubinstein,
Horowitz vv… bạn sẽ thấy nó hài hước tới mức nào ngay. Thêm bất
cứ cái gì trước những cái tên đó, đều là một sự xúc phạm khó tha
thứ. Bản thân nó đã là vàng mười. Sự sâu sắc luôn mộc mạc, giản
dị. Ngược lại với sự son phấn loè loẹt, hàng mã.
Và không chỉ dừng lại ở các cuộc biểu diễn, mà ngay cả trong các
cuộc họp hành, hiếu hỷ. Khi mời ai lên phát biểu, người ta cũng
luôn luôn phủ đầu làm tối tăm mặt mũi cử toạ bằng một tràng dài
các chức danh, học vị, chức vụ quản lý, chức vụ Đảng, cuối cùng
mới đến tên người. Điều này dần dần đã thành thói quen, gây sự thiếu
thân thiện và tủi phận với những kẻ chỉ có cụt lủn mỗi cái tên cha
sinh mẹ đẻ. Họ cảm thấy hẫng như mình thiếu hẳn một cái đuôi.
Cuộc họp nội bộ ngày xưa thì giản dị: “Mời anh Trí” hay “Mời chị
Tuệ” lên phát biểu. Chỉ vỏn vẹn có 3 từ thôi, mà sao thân mật, ấm
cúng và hiệu quả biết bao. Còn bây giờ thì phải khoảng trên dưới
30 từ. Cũng theo công thức trên, ta lại cùng nghép thử, ví dụ :
Xin kính mời + chức danh + học vị + toàn bộ danh
hiệu đã được phong + toàn bộ giải thưởng đã được tặng + toàn bộ
chức vụ quản lý, chức vụ Đảng đang có + Ông(Bà) + họ tên đầy đủ
+ lên phát biểu.
Mời bạn tham khảo thêm tên và tước hiệu của cụ Phan Thanh Giản (1796-1867)
một đại thần triều Nguyễn phong kiến như sau: Hiệp biện Đại học
sỹ, lãnh Lễ bộ thượng thư, kiêm quản Hộ bộ ấn triện, sung Kinh diên
giảng quan, sung Cơ mật viện đại thần, kiêm Quốc tử giám sự vụ,
kiêm quản Văn thần phò mã đô uý, Phan Thanh Giản, tự Tĩnh Bá, hiệu
Ước Phu. (50 từ)
Ôi, nếu cụ sống lại và đến dự một cuộc họp nội bộ của chúng ta ngày
nay, và được ta giới thiệu cụ với đầy đủ chức danh như trên, thì
chắc cụ rất hãnh diện. Vì lũ con cháu chúng ta sao mà giống thời
các cụ thế! tiếp nối được truyền thống cha ông xưa. Và vẫn đang
liên tục phát triển.
Đây là hiện tượng phổ biến trên toàn quốc khoảng hai chục năm nay
chứ không chỉ riêng ở một đơn vị nào, và nó vẫn còn đang phát triển
theo hướng rườm rà hơn nữa. Tôi sợ với đà này, một ngày nào đó,
ngay trong gia đình, bố mẹ, con cái, vợ chồng… hoặc bạn bè gặp nhau
ngoài phố, khi gọi nhau cũng phải kèm theo những danh hiệu rườm
rà đã kể trên thì thực là rồ dại.
Vậy bạn đọc nghĩ sao về những hiện tượng này? Bản chất của những
hiện tượng này là gì?
Một cuộc chạy đua chức danh trên toàn quốc “trồng lúa thu
hoạch khoai”
Ta tự hào về chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa (mà hiện nay chỉ có
người dân ở một số ít nước được hưởng là: Triều Tiên, Cu ba, Lào
và Trung Quốc) mọi người đều bình đẳng. Nhưng thực chất thì người
ta đang dựa theo chức quyền để phân chia đẳng cấp, quyền lợi, tất
nhiên chức càng cao, bổng lộc càng lớn.
Lúc sống đã vậy, tận tới lúc chết chôn ở đâu cũng
có tiêu chuẩn dựa theo chức tước. Vì thế cả xã hội đều trọng chức
quyền. Mà muốn có chức quyền thì cần có bằng cấp, cộng thêm danh
hiệu Đảng viên, là người ta có thể tiến thân, có thể trở thành lực
lượng lãnh đạo với nhiều bổng lộc mà không cần phải có thực lực.
Đó là nguyên nhân sâu xa đã và đang dẫn đến việc
nhiều kẻ cơ hội đổ xô đi săn bằng cấp bằng mọi giá. Đua bằng cấp,
chức danh chứ không đua tài năng. Bởi đua tài năng, cuộc đua dưới
ánh mặt trời, thì khó hơn nhiều, dễ lộ chân tướng và dễ bị thua.
Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm
chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh
lấy bằng cấp. Nhìn vào con đường để trở thành thạc sỹ, tiến sỹ hiện
nay ở nước ta đã bị biến chất. Nhiều người có lòng tự trọng không
khỏi ngại ngùng và muốn lánh xa.
Bản thân bằng cấp và chức danh chân chính, lương thiện thì rất có
ích cho xã hội. Trước kia, số giáo sư, tiến sĩ ở ta không nhiều,
nhưng đó là những tên tuổi như: Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, Nguyễn
Mạnh Tường... Còn ngày nay thì đúng là “Ta tự hào đi lên. Ôi Việt
Nam” giáo sư nhiều đến mức có thể “ra ngõ gặp giáo sư”. Với thực
trạng này thì nền học thuật của nước nhà có nguy cơ trở thành hữu
danh, vô thực.
Trong lĩnh vực biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp, để chơi đàn, hát,
làm được concert thì khó quá, muốn thế phải rèn luyện hàng ngày,
phải hy sinh rất nhiều mà lại không oai bằng rẽ ngang đi làm tiến
sỹ, đơn giản hơn, chóng được thăng chức với nhiều bổng lộc hơn.
Kết quả là: mục đích cuối cùng và duy nhất của âm
nhạc là tiếng đàn, tiếng hát, những buổi concert và viết những tác
phẩm âm nhạc chuyên nghiệp thì dần dần không còn ai làm, thay vào
đó là rất nhiều tiến sỹ âm nhạc ra đời. Có được cái bằng tiến sỹ,
phần lớn không ai chơi đàn và hát nữa. Tiền của nhân dân bỏ ra đào
tạo họ để mang lại tiếng đàn tiếng hát cho đời đã trở thành vô ích
vì sai mục đích. Trồng lúa thì lại thu hoạch khoai!
Hướng dẫn làm luận văn tiến sỹ chéo ngành
chéo nghề
Ở
hầu hết các trung tâm đào tạo đại học của Việt Nam trên toàn quốc
hiện nay, để có được chức danh thạc sỹ, tiến sỹ, phải có người hướng
dẫn viết luận văn, luận án. Đó là các giáo sư, phó giáo sư. Nhưng
để đào tạo ra càng nhiều, càng nhanh và để “phổ cập” học vị thạc
sỹ, tiến sỹ, người ta đã sử dụng các giáo sư hoặc phó giáo sư nghề
này, hướng dẫn luận văn cho các thạc sỹ, tiến sỹ nghề khác.
Tuy cùng là một ngành, nhưng càng lên cao, càng phải
chuyên sâu, và cùng một ngành nhưng rất nhiều nghề hoàn toàn khác
nhau. Ví dụ như trong ngành thể thao thì môn cờ tướng với bắn súng
hoặc đấm bốc, không hề có liên quan đến nhau. Hoặc trong ngành điện
ảnh thì nghề viết kịch bản và nghề tạo khói lửa, cũng không hề có
liên quan. Nghề nào cũng vậy. Nên dù biện minh rằng, đó là “hướng
dẫn phương pháp luận” thì cũng chỉ là ngụy biện, và không thể chấp
nhận được.
Thử tưởng tượng trong cùng ngành y. Giáo sư chuyên nghề phụ khoa
lại đi hướng dẫn luận văn cho tiến sỹ chuyên nghề nha khoa thì có
được không? Bởi vì hai bộ phận này của cơ thể chúng ta là hoàn toàn
khác nhau, có những chức năng hoàn toàn khác nhau. Vậy mà chéo ngành
chéo nghề vẫn vô tư hướng dẫn đã trở thành bình thường từ lâu.
Vậy xin hỏi cấp trên có biết vấn đề này không? Với
những sự hướng dẫn như vậy, những bản luận văn đó có giá trị gì
không? Và trong việc này liệu có thể tránh được tiêu cực không?
Có được cái bằng cấp ấy, có đáng tự hào để mời mọi người đi khao
“rửa bằng” không? Có lẽ sự “rửa bằng” nghĩa đen lại chính xác hơn
vì nó vốn không được sạch sẽ cho lắm.
Theo chúng tôi, cấp bộ hãy cho dừng ngay kiểu hướng dẫn trái ngành
trái nghề như hiện nay ở hầu hết các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Và cho rà soát lại tất cả các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã có. Nếu
không phải do người hướng dẫn có cùng chuyên môn thì cho thu hồi
lại, và các luận văn đó phải được làm lại, với sự hướng dẫn của
các giáo sư cùng chuyên ngành và công khai việc này trong giới chuyên
ngành.
Các danh hiệu, giải thưởng, câu chuyện cười
ra nước mắt - Vườn hoa chỉ có 2 loại hoa
Định kỳ một hai năm gì đó, ta có những đợt phong tặng danh hiệu
nghệ sỹ ưu tú, nghệ sỹ Nhân dân và trao tặng các giải thưởng Nhà
nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Việc này
không phải do người Việt Nam ta nghĩ ra, mà do chúng ta học tập
từ Liên Xô cũ. Họ phong nghệ sỹ Công Huân, nghệ sỹ Nhân dân, giải
Xtalin, giải Lê Nin về văn học nghệ thuật ( ví dụ Giao Hưởng số
11 của Shotstakovich được giải Xtalin năm 1953 vv…).
Sau khi Liên Xô tan vỡ, họ đã bỏ thói quen đã có
từ hàng chục năm này. Rất nhiều cách tổ chức dập theo kiểu Liên
Xô cũ như: nền kinh tế có kế hoạch, hành chính bao cấp, phân phối
theo tem phiếu v.v… ta đã bỏ. Nhưng không hiểu vì sao cái thói quen
trao những danh hiệu và giải thưởng văn học nghệ thuật học từ họ
thì ta lại vẫn duy trì, bởi nó là một phần đồng bộ trong tư duy
cấu thành chế độ bao cấp, cơ chế xin cho?
Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh bằng máu và nước mắt một quy
luật là: những chính sách dập khuôn theo ngoại bang sớm muộn rồi
cũng gây những hậu quả xấu, thậm chí là những thảm hoạ dân tộc.
Về việc phong danh hiệu nghệ sỹ, hãy để chính những nghệ sỹ, bằng
tài năng, họ làm nên tên tuổi riêng của mình (như Ashkenazy) thì
nó mới có giá trị thực, bền lâu và duy nhất. Không ai có thể ghen
tỵ với ai được, vì không ai giống ai. Hàng ngàn nghệ sỹ tài năng,
thì sẽ có hàng ngàn cái tên khác nhau, có giá trị khác nhau, giống
như vườn hoa với muôn hoa, muôn màu khoe sắc, chứ không phải chỉ
có 2 loại hoa ưu tú và nhân dân.
Mà muốn được hưởng các danh hiệu này, phải làm đơn
xin, cùng sự “vận động” để được phong (ban) tặng từ trên xuống.
Trong hoàn cảnh đất nước ta tệ nạn xã hội tràn lan. Khó có thể tránh
khỏi nhiều sự tiêu cực trong sự ban tặng danh hiệu, nếu vẫn giữ
kiểu cơ chế ban phát như cũ.
Về việc trao giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về
VHNT, đây cũng là một kiểu cơ chế xin cho với những thành phần Ban
giám khảo hoàn toàn được chỉ định từ trên, với những tiêu chí chấm
giải tuỳ hứng. Người xin trao giải cũng phải làm đơn và “vận động”.
Riêng trong ngành nhạc đã xảy ra những câu chuyện
cười ra nước mắt xung quanh việc trao giải thưởng này. Điển hình
là trong đợt đua tranh phong tặng năm 2006 (đây nên là đợt phong
tặng cuối cùng) cả nước đều biết tới những chuyện “đồng nghiệp tương
tàn” mà báo chí gọi là “cơn địa chấn trong làng nhạc”. Nếu ta lại
cứ tiếp tục trao giải thì không ai có thể khẳng định rằng những
cơn “địa chấn” sẽ không trở thành “động đất”!
Nói tóm lại: Nhà nước ta nên bỏ lối tư duy kiểu dập theo Liên Xô
cũ này!
Kết
Hãy để cho mọi người đánh giá tài năng và giá trị con người qua
công việc. Dù anh có độn vào trước cái tên của anh hàng trăm danh
vị đi nữa mà sản phẩm anh làm ra cho xã hội không có, hoặc tồi,
hoặc có hại, thì khác nào gỗ mục được sơn son thếp vàng?
Một xã hội lành mạnh và có tương lai, là một xã hội
biết tôn trọng những tài năng và những giá trị thực, bất kể họ có
hay không có bằng cấp danh vị cao, tiền của nhiều, chức tước lớn.
Đối với người làm nghề nhạc chuyên nghiệp, thì đó là tiếng đàn,
tiếng hát của người biểu diễn và tác phẩm của người sáng tác. Anh
hãy tự hào về điều đó, và hãy gắn nó với cái tên cha sinh mẹ đẻ,
chứ không phải là những thứ bằng cấp, danh hiệu (mà ở nước ta hiện
nay của rởm nhiều hơn thật) và chức vụ quản lý anh đang có, đó chỉ
là những thứ son phấn nhất thời.
Bảng giá trị tưởng như là chân lý đơn giản và hiển
nhiên này lại đang bị lật ngược. Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh
thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền. Nó đang làm
tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc
đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là:
diặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm? Với tiềm năng trí tuệ thế này,
rồi dân tộc Việt Nam ta sẽ đi đến đâu? “Một dân tộc dốt, là một
dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh)
Là một người hoạt động trong nghề nhạc, tôi thấy cần phải viết bài
này chỉ vì trách nhiệm công dân, với mong muốn nền học thuật nước
nhà - nhất là âm nhạc - ngày càng trở nên lành mạnh và thực chất
hơn. Tôi không nhằm vào bất cứ ai và cũng mong đừng ai giật mình
bởi tôi luôn luôn kính trọng sâu sắc những giáo sư, tiến sỹ, thạc
sỹ chân chính. Tuy không nhiều, nhưng họ có lương tri và trình độ
chuyên môn thực sự. Tôi chắc rằng những người này sẽ ủng hộ những
ý kiến trên của tôi.
Vì chúng ta đã nói dối quá nhiều và quá lâu rồi, nên những lời nói
tử tế bây giờ lại trở nên hài hước. Tuy vậy - dù chỉ nhỏ bé như
con Dã Tràng - tôi vẫn muốn nói rằng: Đừng sợ thay đổi vì chỉ nghĩ
tới quyền lợi của bản thân, hãy nghĩ tới một tương lai tốt hơn cho
tất cả. Đừng sợ ánh sáng, sợ thuốc đắng và sự thật.
Để kết bài viết này tôi xin mượn một câu Kiều của : [Giáo sư, tiến
sỹ] Nguyễn Du (xin tạ tội với bậc tiền nhân vì sự xúc phạm này):
“Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”
Chữ “Con đen” ở đây được hiểu là những người dân
bình thường
Nguồn: TuanVietNam, 26/06/2009
05:31 (GMT + 7)
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
|