|
Nước Việt của
Việt Vương Câu Tiễn và Mân ngữ
Đỗ
Thành
Khảo cứu: Bằng chứng người Hoa là
Người Việt,
tiếng Hoa là tiếng Việt
LGT. Trân trọng giới thiệu với quí
vị và các bạn, anh Đỗ Thành là người Triều Châu ở Việt Nam, hiện
định cư tại Hoa Kỳ mà tôi vừa quen biết qua “mối tình văn hoá”.
Anh có hiểu biết sâu sắc về quan hệ Việt Hoa tuy anh không viết
tốt lắm tiếng Việt. Tôi đã khuyến khích anh cứ viết ra rồi tôi sẽ
sửa lại để người đọc hiểu được anh muốn nói gì. Tuy không có thời
gian để sửa chữa cho hoàn bị bài viết của anh, tôi chỉ sửa được
phần lớn những lỗi chính tả thông thường còn cấu trúc câu văn và
ý của tác giả được giữ nguyên vẹn. Kính mong quí vị dành cho Đỗ
Thành một tình cảm trân trọng để khuyến khích anh góp phần vào việc
làm sáng tỏ nguồn gốc dân tộc Việt.
Nước Việt thời Xuân thu chiến quốc
nhà CHU ở phía nam cuả nước NGÔ , kinh đô là 会稽 HỘI KÊ -ở vùng
THIỆU HƯNG -HÀN CHÂU ngày nay .
VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN : sinh năm 520 năm trước công
nguyên_và mất năm 465 năm trước công nguyên.
Có thể nói rằng đa số ai cũng biết câu chuyện
nổi tiếng trong lịch sử nầy , sử , truyện và phim của truyện
vẫn tiếp tục lôi cuốn khán giả .thời ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC có
nước Sở ở phía nam ngày càng lớn mạnh rồi xưng bá Trung Nguyên
ở Trung Quốc và không ngừng khuyêcht trương thế lực cũng như đất
đai , Sở là 1 đe dọa lớn thường tấn công nước Ngô , Sở và Việt
̣Đồng tông Đồng tộc. Việt thường giuṕ Sở khi mổi lần đem quân
chinh phạt Ngô. Nnăm Châu Kính vương thứ 23 -trước công nguyên 497
năm -Sở và Việt liên quân ̣đánh Ngô , vua Ngô HẠP LƯ cầm quân
̣ra trận đối địch với VIỆT VƯƠNG CÂU TIẾN ,bị vua Viêṭ bắn trúng
1 tiễn nên bị thương rồi chết , NGÔ PHÙ SAI lên ngôi thay cha
và luôn canh cánh mối lo và mối thù với nước Việt. Nhờ có tướng
tài là NGỦ TỬ TƯ , NGÔ vương đã trả được mối thù thật tàn khốc
, nước VIỆT bị mất vào nước NGÔ . nhưng , NGÔ PHÙ SAI không nghe
lời lão thần NGỦ TỬ TƯ , không giết VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN khi
vua Việt trá hàng đễ nuôi chí phục thù , vua Câu Tiễn nhờ có
2 quan ĐẠI PHU là PHẠM LÃI và VĂN CHỦNG thực hiện 10 kế hay cùng
mỹ nhân kế là dùng TÂY THI làm gián điệp mê hoặc NGÔ VƯƠNG ; Nhờ
vậy nên sau 1 thời gian nằm gai nếm mật , VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
̣đã tiêu diệt nước Ngô , giết NGÔ PHÙ SAI và thống nhất 2 nước
NGÔ và VIỆT , Từ đó ,nước Việt lớn mạnh hơn , lại đem quân vượt
sông Hoài lên phiá bắc xưng bá chủ Trung Nguyên , được CHÂU NGUYÊN
VƯƠNG 周元王sắc phong là Hầu Bác , tước vị là Tấn Bác vị , sau đó
vua Việt Câu Tiễn dời thủ đô đến Lang Nha 琅琊 hoàn thành bá nghiệp
.
Ghi chú : thời nhà Chu suy nhược thì vua Chu chỉ
là hưủ danh mà vô thực , chỉ có vua cuả nước chư hầu nào mạnh nhất
mới thực sự có thực lực và thực quyền và được xưng là BÁ CHỦ .
-Lang nha 琅 琊 , Lang Nha quận là đất thuộc về
phía đông nam cuả bán đảo SƠN ĐÔNG , bán đảo SƠN ĐÔNG có ngọn núi
là Thái Sơn 泰山 nổi tiếng hùng vĩ toàn TRUNG QUỐC , khảo cứu câu
chuyện trên thì không ai lấy làm lạ là taị sao trong ca dao VIỆT
NAM ngày nay có câu :
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chử hiếu mới là đạo con
Thử tìm hìểu chữ Viết và tìếng nói của dân Việt
cuả Việt Quốc thời
VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN :
Năm 1965 tại tỉnh HỒ BẮC 湖 北 , vùng
Kinh Châu (GIANG LĂNG ) ở VỌNG SƠN , Người ta đào được từ dưới đất
cuả 1 khu di tích lịch sử , lăng miếu thuộc triều đại nhà Sở
1 thanh bảo kiếm cổ xưa cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN , Trên kiếm
có khắc 8 chữ VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN TỰ TÁC DỤNG KIẾM "越 王
鸠 浅 自 乍 用 剑 " ,chữ CÂU TIỄN thời tiền Hán là 鸠浅 và ngày nay
viết là 勾践 , chữ Tác khi xưa là 乍 và bây giờ là 作 . Hiện giờ thanh
bảo kiếm được trưng bày và bảo quản ở bảo tàng viện Hồ Bắc. Đây
là một bảo kiếm qúi hiếm tự cổ chí kim , với khoa học tiến
bộ cuả ngày nay mà người ta vẫn chưa biết làm sao để đúc được
thanh kiếm bị chôn vùi dưới đất hơn 2 ngàn mấy trăm năm mà không
bị rỉ sét và hư hại , kiếm vừa đào lên khỏi mặt đất thì người
ta kinh ngạc bỡi sự toàn vẹn mà còn lấp lánh hào quang , thử rạch
nhẹ 1 cái là xuyên đứt hơn 16 lớp giấy , để cọng tóc thổi thử
là đứt ngay , quả là 1 bí ẩn cuả phương pháp đúc kiếm cuả người
VIỆT thời xưa mà hiện giờ không ai làm được . Qúi vị có thễ xem
phần thử kiếm cuả 1 thanh kiếm tại trang youtube nầy:
http://www.youtube.com/watch?v=pvs5V_RXefs&feature=related
Và biết rằng so với VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN KIẾM
thì là 1 trời 1 vực , không thễ so sánh được . qúi vị có thễ xem
nơi khảo cổ tìm ̣được và thanh bảo kiếm ở trang nầy:
http://www.youtube.com/watch?v=oeSFeBgb3sE
Mân ngữ -闽语 : 8 chử "越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑 "
DĨ nhiên đó là chữ VIỆT , Bảo kiếm nạm ngọc và chém sắt như chém
bùn cuả Vua 1 quốc gia thì làm sao mà dùng chữ cuả dân tộc khác
được , chữ xưa là tượng hình rồi biến đỗi dần , chỉ có chuyên
gia nghiên cứu đọc quen mới nhìn ra. Đó là chữ viết mà ngày nay
người ta goị là TRUNG VĂN hay là chữ HÁN VIỆT ,trong khi từ hơn
2500 năm về trứơc thì chữ đó đã là chữ VIỆT , của nước Việt ,cuả
người VIỆT nói tiếng VIỆT ; Tiếng Việt thời đó cuả Nước Việt
phải là rất giônǵ như tiếng VIỆT NAM bây giờ , bởi vì sau nầy
nước Việt cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN bị nước Sở xâm chiếm và thôn
tính , thì con cháu cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN chạy về hướng nam
tiếp tục triều Việt ở tỉnh PHÚC KIẾN là MÂN VIỆT , và tiếng
VIỆT ở vùng giang đông nầy goị là tiếng MÂN VIỆT -vẫn tồn
tại cho đến ngày nay và phát triễn theo chiều di dân xuống phía
nam theo hơn 2 ngàn năm lịch sử kễ từ khi VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
ra đời..., tự điễn hiện giờ và văn khố ngày xưa đều ghi rõ MÂN
là VIỆT là MÂN VIỆT , tiếng MÂN VIỆT trải dài từ HÀN CHÂU ngày
nay xuống phiá nam đến vùng PHƯỚC KIẾN , TRIỀU CHÂU , đến bán
đaỏ LÔI CHÂU , qua biễn đến đảo ĐÀI LOAN , đảo HẢI NAM , ...và
nước VIỆT NAM , và đảo quốc Singapore ; hiện nay MÂN NGỮ là 1
ngôn ngữ địa phương mạnh nhất trong 8 phương ngữ ở TRUNG QUỐC
, MÂN NGỮ "qúa lớn" nên không tránh khỏi nhiều giọng
bắc trung nam như tiếng VIỆT NAM , Cho nên lại chia ra MÂN ĐÔNG
NGỮ -vùng Hàn Châu , Triết Giang -, và MÂN NAM NGỮ là vùng Phước
kiến xuống phía nam ..., MÂN NAM NGỬ lại có nhiều giọng khác
nhau chút đỉnh là tiếng PHƯỚC KIẾN , tiếng TRIỀU CHÂU , tiếng
LÔI CHÂU , tiếng HẢI NAM. MÂN VIỆT NGỮ sau hơn mấy ngàn năm "chia
cách " LỊCH SỬ với dân GIAO CHỈ mà ngày nay vẫn tương đương
giống nhau với tiếng VIỆT NAM. Bây giờ MÂN NAM phát âm giống
tiênǵ Việt Nam hơn MÂN ĐÔNG , và PHƯỚC KIẾN hay TRIÊÙ CHÂU là
còǹ giống như Việt , đặc biệt nhất là tiếng TRIỀU CHÂU .
Xin mời xem qua 1 số từ ngữ cuả tiếng VIỆT NAM
với tiếng TRIỀU CHÂU ngày nay sau đây :
-tiếng VIỆT nói NAM BẮC thì tiếng TRIỀU CHÂU
nói là NAM PẮC . GHI CHÚ : đọc theo giọng bắc Hà Nội mới giống
tiếng TRIỀU CHÂU.
LONG ĐONG LONG TONG
YÊU QUÁI YEU KUẠI
KINH THIÊN ĐỘNG ĐỊA KEA THIA TONG TI
KHAI TRƯƠNG KHAI CHEANG
THIÊN HOÀNG THIEN HOANǴ
LÔI CÔNG LUI COON
CÔNG VỤ COONG VỤA
CÔNG PHU CONG HUA
. NAM ĐẾ NAM TIẠ
Á CHÂU A CHIU , Á CHỊU
ÁC ÁC
Ô Ô
Ô GIANG Ô KANG
U ÁM Ô ÀM
. AN NAM AN NÁM
. AN ỦI AN OÈ
AN BÌNH AN PENǴ
AN CƯ AN KUA
ẤN BẢN ÍN PANǴ
ÂN HUỆ EN HỤI , ANH HUI
ÂN ÁI EN ẠI
ÂN TÌNH EN TSINH
ÂN NGHĨA EN NGHỊA
BÁO PÓ , PỌ
IN ỊNG
XUÂN TSUAN
HẠ HEA
CẬU KUẠ , CỦA
CHỊ CHIÁ ,CHÉ
SƯ PHỤ SUA HỤA
BÁO CÁO PÓ CẠO
CẢNH BÁO CÀNH PỌ
THÔNG CÁO THONG CẠO
QUẢNG CÁO QUÀNG CẠO
QUẢNG LÝ QUÀNG LÝ , QUẠNG LÍA
TƯƠNG TƯ SEANG SƯA ,SEANG SUA ,
MỶ NHÂN MUỲ DÍN
AN TÂM-TIM AN XIM , AN XỊM
BÌNH AN HẠNH PHÚC PENG AN HENG HỌK
BÌNH TÂM PENG XỊM
BẢO VỆ PẠO UY , PỌ UY
BAN GIAO PAN CAO
BIẾN THỂ PIẾNG THÍA
BIẾN ĐỘNG PIẾNG TOỌNG
BIẾN HÓA PIÊNǴ HOE
CA ĐOÀN KO THOANǴ
CA VỦ KO VÚA
TAM CANH SA CANH
TỨ HẢI SÍ HÁI
HẢI PHÒNG HÀI HOONG
ĐẠI PHONG TAI HOONG , TOA HUAN
KÉM KÉM
TRỘI CHÔI
CAO CAO
CAO KIẾN CAO KIẸNG
HÔN NHÂN HUÔN EN
XUNG PHONG TSOONG HOONG
TRIỆU QUANG PHỤC CHIÊU KUANG HỤK , (HỌK)
ĐINH BỘ LỈNH TENG PỌ LENǴ
HÀ ĐỒ , LẠC THƯ HO TỐ , LO CHƯA
LAI VẢNG LAI OANǴ
KHÁN GIẢ KHÁN CHIÉA
MẮT MẮT
MAỲ Bai
NHÂN ĐẠO DIN TẠO
THỐI BỘ THỐI PO
TIẾN BỘ CHÍNH PO
HUÊ KỲ HOE KHIÁ
NAM KỲ NAM KHIA
THÌ KỲ , THỜI KỲ SIA KHIA
KỲ HẠNG KHIA HẠNG
QÚA KHỨ QUÉ KHƯẠ
KỸ NIỆM KÝ NIẸM
CÔNG LỘ CONG LÔ
HÀN HẢI HAN HÁI
HOA NGHIÊM KINH HOA NGHIEM KENH
NI CÔ NIA CÔ
TRIẾT LÝ TÉK LÝ
THÁI SƠN THÁI SOA
.PHẦ̀N trên là 1 số ví dụ , nghĩ đến đâu thì tôi
viết đến đó -vì tôi là người TRIỀU CHÂU -không thễ viết nhiều
ở đây ...vì bao nhiêu cho đủ ? đễ chỉ là ví dụ , nếu viết hết
thì sẽ thành 1 quyển tự điễn VIỆT NAM-MÂN VIỆT , ĐIỀU ĐÓ LÀ
PHẢI CÓ ĐỦ KINH PHÍ VÀ THỜI GIAN THÌ MỚI LÀM NÔĨ . Đây là bằng chứng
những tiếng Hoa là tiếng Việt , nước NGÔ cuả NGÔ PHÙ SAI cũng
dùng tiếng VIÊṬ. Ngày nay tiếng đó chính thức mang tên là NGÔ
VIỆT NGỮ , gọi tắt là NGÔ NGỮ , HIỆN giờ NGÔ NGỮ vùng Giang Tô
, Thượng hải khi nói HOÀ BÌNH thì vẫn đọc là "Hòa pình"
, Ô Đề _Nguyệt lạc ô đề sương mản thiên ...- vẫn đọc là "
Ô đề " như người Việt nam , Chị là "chì chị" v
v...
Bài viết nầy nêu bằng chứng người Hoa và tiếng
Hoa là Việt , đề tài "qúa lớn "... , sẽ còn phải viết
thêm rất nhiều bài nưã , qúi vị nào có thể đọc chử Hoa , Hán
-Việt và Nôm thì tha hồ đọc nhiều tài liệu bằng Hoa văn và đọc
Sử Ký cuả TƯ MÃ THIÊN bằng Nguyên Văn ..., dù là
Người Việt hay là Hoa thì xin quí vị haỹ công tâm
mà để ý 1 điêù là ...tất cả sử saćh xưa và nay thường chối bỏ
nguồn gốc Hoa cuả người Việt , và Hoa thì chối bỏ nguồn gốc
là Việt cuả BAĆH VIỆT ; NGÔ và VIỆT đều là VIỆT , đều là cháu
chít cuả THIÊÚ KHANG nhà CHU , vậy nhà CHU cũng là Việt , và ĐỨC
KHỔNG PHU TỬ dùng tiếng VIÊṬ để giảng bài khi dạy học sinh ,
đó là những bài viết cần phải thêm sau cho bài nầy. Xxin qúi
vị nào có bằng chứng đúng sai từ nguồn tài liệu nào cũng đem ra
đóng goṕ chung và thảo luận rỏ ràng mới vui , mới hợp lý ...khi
đưa ra bằng chứng viết bởi Sử xưa thì quí vị hãy đễ ý là ...khi
nào thì có tên dân tộc HOA ? và Hán ? và những người đã xưng là
Hoa hay Hán viết "sử" thì ôi thôi ...ví dụ: họ giaỉ thićh
SỞ quốc là KINH SỞ , KINH MAN cuả người MAN (man di mọi rợ)...NHƯNG
củng là họ ...họ giaỉ thićh và ghi chú rỏ ràng trong sử sách SỞ
BÁ VƯƠNG -HẠNG VỎ và LƯU BAN -HÁN CAO TỔ ...củng là người cuả nước
Sở ...thì họ ghi là HÁN TỘC
Những điều diễn giaĩ như vậy đầy dẫy trong lịch
sử TRUNG HOA , và "HOA " hay là "Hán" cứ cho
là Việt tộc trong cổ sử Trung Hoa là BÁCH VIỆT .thì phaỉ là
người dân tộc MÈO , BỐ Y , LÊ , ĐỒNG , DAO , CHOANG , LÀO , MIẾN
ĐIỆN V V....; Hỡi những vị được làm quan và viết sử , hỡi những
chuyên gia cao thâm xưa và nay ...56 dân tộc "anh em "
còn đó taị TRUNG QUỐC , VIỆT NAM và ĐÔNG NAM Á ...tôi có 1 câu
hoỉ : Có người ĐỒNG ,MÈO , DAO , CHOANG , THÁI , LÀO V V....chiụ
nhận mình là người Việt Nam hay là Việt không ??? có lịch sử
nào chứng minh họ là người Việt và nói tiếng Việt ??? không thể
nào đem vài chục , hoặc 100 hay 1 ngàn từ ngữ khmer trong tiếng
Việt để nói và ghi trong tự điễn rằng tiếng Việt là ngữ hệ
MÔN -KHMER ..., tôi không tin và rất nhiều người không tin ...,
tiếng Việt có cả 100 ngàn từ hoặc nhiều hơn gấp mấy lần nưã...nêú
tính chung VIỆT NAM , VIỆT , MÂN VIỆT , NGÔ VIỆT , DƯƠNG VIỆT
, VU VIỆT , ÂU VIỆT v v....xà phòng , ô-tô , sếp (theo PHÁP NGỮ
); con trai tiếng (CỐNG -SỞ VÙNG ĐỘNG ĐÌNH HỒ )haỹ, tim CHOANG
NGỮ ; yêu , chuà ,kém ,trội TRIỀU CHÂU-MÂN NGỮ ; long đong MẢ
LAI NGỮ , bụt ẤN-PHẠN ,buồn QUÀNG ĐÔNG-VIỆT , chị ,hoà bình (
NGÔ VIỆT ), tam , tứ (HAỈ NAM ),tuần (THÁI )tay ,chân ..rồi đếm
một , hai , ba , bốn là theo tiếng khmer ...TẤT CẢ nhưñg từ
nêu trên là bình thường vì qua tiếp xuć và vay mượn nhau cuả các
dân tộc ...nói xin lỗi với những chuyên gia ...kỳ cục rằng ...nếu
tiếng VIỆT thuộc hệ khmer thì có lẽ ngày xưa...câu ca dao đả
đổi thành "công cha như núi ANGKO ...nghiã mẹ như nước Biển
Hồ chảy ra ...!!!" và không bao gìơ có chuỵên người KHMER
ở miền tây nam bộ đã từng ..buồn buồn là hú baṇ ơi ..đi cắt
...giết Việt "CÁP DUỒN ... BÒN ƠI ! "
Người Việt cũng ...không phải là dân tộc thiêủ
số ngày nay ; ai có thể chứng minh cho thiên hạ xem ..người Việt
đả dùng trống đồng như người dân tộc thiêủ số hiện giờ vẩn
còn dùng trong ca hát cúng tế ..., có triêù đại , vua quan , cộng
đồng dân Việt nào đã dùng trônǵ đồng trong lịch sử ...và hiện
giờ ...đâu ???
Người Việt là người Việt , có nhiều Việt tộc
nên goị là BÁCH VIỆT , Chỉ cần nắm rỏ căng bản ngữ vựng cuả tiếng
VIỆT ngày nay là có thể học và hiểu ngay nhưng̃ tiếng VIỆT
khác trong Bách VIÊṬ một caćh không khó ...nếu không muốn nói
là dễ dàng....
-ghi chú : qúi vị nào dùng bàn phím không có cài
nhu liệu để đánh maý chử Hoa mà muốn Search trang chử Hoa để
đọc thì chỉ cần coppy chử Hoa rồi Paste vào khung ..rồi bấm
Search là được . :泰山 :Thái Sơn , ở tỉnh Sơn Đông山东省 , Trung Quốc
.
史記歷史學家司馬遷 có rất nhiều website đã có post Sử ký
cuả Tư Mả Thiên ...có nhiều chọn lựa đề xem , trang nầy không
dùng Cổ Văn VÀ DỂ ĐỌC....:http://zh.wikipedia.org/w/index.php?title=%E5%8F%
B2%E8%AE%B0&variant=zh-tw
琅琊所在地,在山东省诸城东南海滨,今属于胶南琅琊镇 Lang Nha ở tinh̀ Sơn Đông
, ngày nay thuộc NAM GIAO LANG NHA TRẤN。
会稽 : Hội kê hay là Hội kế giống nhau . là vùng
đất rất rộng bao gồm Giang Tô và Chiết Giang . xưa có vua Vủ
hội kế với Chư hầu tại đây trị thũy mà thành tên.
春秋 xuân thu
阖闾 Hạp Lư 夫差 Phù Sai 伍子胥 Ngũ tử Tư
.文种:Văn Chủng.
范蠡 PHạm Lải 西施 Tây Thi
Hoa ngữ
Hoa ngữ là tên gọi của tiếng phổ thông ̣để người
Trung Hoa dùng chung vì tiếng Hoa có qúa nhiều phương ngôn như
tiếng Triều Châu , Phước kiến , Quảng Đông , Thượng Hải , Hakka
v v..., Hoa ngữ còn có tên gọi là tiếng Bắc Kinh , tiếng Quan
Thoại , tiếng phổ Thông , Quốc ngữ hay là MANDARIN.
Từ ngày xa xưa , khi mà triều đại nhà HÁN hưng thịnh
và hùng mạnh thì người ta gọi tên người ở Trung Hoa là người Hán
, và người ở Trung Hoa đả hãnh diện và lấy làm vinh dự khi nhận
và tự xưng mình là người Hán ; Vì thế cho nên ngày nay có tên goị
là Hán Tộc , Hán ngữ , Hán ngữ phương ngôn...
| 夏朝 |
| 商朝 |
| 周朝 |
西周 |
| 東周 |
春秋 |
| 戰國 |
| 秦朝 |
|
| 漢朝 |
西漢 |
| 新朝 |
| 東漢 |
| 三國 |
魏
|
蜀 |
吳 |
| 晉朝 |
西晉 |
| 東晉 |
十六國 |
| 南北朝 |
宋 |
北魏 |
| 齊 |
| 梁 |
東魏 |
西魏 |
| 陳 |
北齊 |
北周 |
| 隋朝 |
| 唐朝 |
唐朝 |
| 武周 |
| 唐朝 |
| 五代十國 |
遼 |
| 宋朝 |
北宋 |
西夏 |
| 南宋 |
金 |
| 元朝 |
| 明朝 |
| 清朝 |
| Triều
Hạ |
| Thương |
| Chu |
Tây Chu |
| Đông Chu |
Xuân Thu |
| Chiến Quốc |
| Tần |
| Hán |
Tây Hán |
| Đông Triều |
| Đông Hán |
| Tam Quốc |
Ngụy |
Thục |
Ngô |
| Tấn |
Tây Tấn |
| Đông Tấn |
Thập Lục Quốc |
| Nam Bắc
Triều |
Tống |
Bắc Ngụy |
| Tề |
| Lương |
Đông Ngụy |
Tây Ngụy |
| Trần |
Bắc Tề |
Bắc Chu |
| Tùy Triều |
| Đường Triều |
Đường |
| Võ Chu |
| Đường |
| Ngũ Đại
Thập Quốc |
Liêu |
| Tống |
Bắc Tống |
Tây Hạ |
| Nam Tống |
Kim |
| Nguyên |
| Minh |
| Thanh |
Trước khi tên gọi Hán Tộc được hình thành thì Hạ
, Thương , Chu đều xưng là Hoa ; Hoa là tên xưng được bắt đầu
từ thời nhà Hạ , đó là thời kỳ các bộ tộc đã tiến lên trình độ
bắt đầu thành lập quốc gia với Vua là cha truyền con nối ,
từ đó đã sinh ra giai cấp thống trị là qúi tộc , qúi tộc sở
hữu nô lệ , và để phân biệt với nô lệ thì qúi tộc tự xưng là
Hoa , khởi thuỷ của Hoa với ý nghiã là ĐẸP , là HOA LỆ , là TIẾN
BỘ. Đối nghịch với nô lệ , nô tỳ ...không phải là qúi tộc ;
sau nầy thì chữ Hoa bị lạm dụng , ai cũng muốn và tự xưng mình
là Hoa ; thời đông Chu liệt quốc có thất Hùng là các nước NGỤY
, HÀN , TRIỆU , SỞ , YẾN , TỀ , TẦN đều xưng là Hoa và ̣được
gọi là CHƯ HOA -ví dụ :Yến Quốc được lập nên bỡi người từ Tây
Bá Lợi Á tràn xuống miền Yên -Kinh _Bắc Kinh , nhưng cũng xưng
và được gọi là Hoa. Nói chung "Hoa" không phải là tên
cuả dân tộc , mà chỉ là tên goị cuả giai cấp thống trị , cuả
qúi tộc , của các bộ tộc...không muốn thua người và tỏ ra muốn
hơn người ! ...tạo nên sự hãnh diện khi tuyên xưng : TA là HOA
! và lâu dần thì biến thành tên gọi là dân tộc HOA .
Hoa Ngữ hay Hán ngữ với tiếng Bắc kinh ngày nay
được chọn làm "Phổ thông " để dùng chung cho cả nước
Trung Hoa có rất nhiều khác biệt với cổ Hán ngữ ngày xưa. Khi
nghiên cứu cổ Hán ngữ thì thấy rõ là cổ Hán ngữ có nhiều nét
tương đồng với các phương ngôn Mân Việt , Ngô Việt và Việt cuả
tỉnh Quảng Đông hay là Việt cuả nước Việt Nam , bỡi vậy cho nên
những thư thi cuả Trung Hoa từ đời nhà Tống và Đường trở về trước
thì phải đọc theo các phương ngữ Việt thì mới suông sẽ , dễ hiểu
và đọc đúng vần được gieo trong thơ ! Đây là bằng chứng về ngôn
ngữ học là người Hoa hay người Hán chính là người Việt khi xưa
hình thành và xưng là Hoa hay Hán ! theo LỊCH SỬ của TƯ MẢ THIÊN
thì nước Việt và Ngô đều là con cháu của nhà Chu ( Nhiều người
phản đối hay không đồng ý điều nói trên -nhưng chỉ phản đối
suông mà không đưa ra bằng chứng) vậy , nhà Chu củng là dân tộc
Việt ? theo thuyết TAM HOÀNG , rồi đến NGỦ ĐẾ , rồi mới đến
TAM ĐẠI là nhà HẠ , THƯƠNG và CHU ...Khi nhắc đến ngũ đế ...tại
sao ngay cả Trung Văn củng vẫn theo tích xưa mà gọi là ĐẾ ĐOAN
HẠN , ĐẾ CẢO , ĐẾ NGU , ĐẾ THUẤN theo văn phạm cuả tiếng Việt
? -Thử hỏi tại sao người ta không ghi là ĐOAN HẠN ĐẾ , CẢO ĐẾ
, NGU ĐẾ và THUẤN ĐẾ -đây cũng là bằng chứng các vị trên là tộc
Việt !
Lại theo Sữ Ký cuả TƯ MẢ THIÊN :
Sở Bá Vương là Hạng Võ và Lưu Bang đều là người
cuả nước Sở khởi nghiã lật đổ nhà Tần ; nước Việt thôn tính
nước Ngô , rồi Nước Sở thôn tính Việt , Nhưng nước Tần gồm thâu
cả lục quốc rồi lập nên nhà Tần thống nhất Trung Hoa ...nhưng
sau đó chỉ tồn tại được có 15 năm thì mất nước về tay cuả quân
Sở khởi nghiã là Lưu Bang và Hạng võ ; Sở và Việt là 2 nước đồng
tông và đồng tộc , các triều đại vua Sở trước Sở Bá Vương Hạng
Võ đều xưng hiệu là Hùng Vương , họ là Mi thuộc bộ tộc họ HÙNG
, Việt Vương Câu Tiễn và tông thất sau nầy đỗi họ Lạc ; Mi
và LẠC đều là họ cuả Vua chúa người Việt ; ngay cả địa phương
nơi bắt đầu khỡi nghiã để đánh Tần cuả Lưu Bang là vùng Tứ Thuỷ
,và cuả Hạng võ là vùng Hội kê thì đều là vùng đất cuả người
Việt tập trung ở đó . Quân khởi nghiã ngay từ ngày đầu đều là
quân và tướng lãnh gốc Việt , Mân Việt vùng Phước kiến cũng
gửi quân giúp Hạng Võ và Lưu Bang. Khảo cứu lịch sử cho rõ ràng
thì thấy rõ là người Việt lập nên nhà Hán .
Nhà Tần là tộc gì ? và quân dân nhà Tần nói tiếng
gì ??? Triệu Đà là quan của nhà Tần , theo Nhâm Ngao cầm quân
chinh phạt BÁCH VIỆT ở phía nam , và xin vua Tần cho di dân 500
.000 ngàn người từ trung nguyên xuống ở vùng Bách Việt , khi nhà
Tần bị mất thì Triêụ Đà xưng vương , lập ra NAM Việt quốc ,
xưng Triệu Việt Vương , ngôn ngữ cuả nước Nam Việt cuả Triêụ
Đà cho đến ngày nay là tiếng Quảng Đông mà mọi người và người
Quảng Đông vẩn gọi đó là Việt ngữ , vậy 500.000 ngàn di dân đến
từ trung nguyên cuả thời nhà Tần là dùng Việt ngữ ? nếu không
dùng Việt ngữ thì là dùng tiếng gì ??? Bỡi vậy, cho nên , qua
khảo cứu lịch sử thì thấy sử Trung Hoa toàn là sử cuả Việt tộc
! Ngày nay khi người ta nghiên cứu cổ Hán ngữ và khi đọc thơ Đường
Luật hay Tống từ thì phải đọc theo "phương ngôn" là
Việt , Mân Việt , Ngô Việt ..thì mới hay và đúng !
Có 1 học thuyết "Vững chắc" từ xưa đến nay là tất cả
các phương ngôn Bắc kinh , Phước Kiến , Triều Châu , Quảng Đông
và Việt Nam v v..đều là bắt nguồn từ Trung Nguyên cuả Hán Tộc
mà hình thành ! Được ..., cứ đồng ý và không tranh cải ...nhưng
xin hỏi :
Nên nhớ là sau nầy ...và vì thế nào , từ khi nào
mới có được từ "HOA" và "HÁN" ?
và tại sao các ngôn ngữ nêu trên đều trở thành có tên là tiếng
nói và quốc gia là NGÔ VIỆT , MÂN VIỆT , NAM VIỆT , VIỆT NAM
v v...
Bài nầy chỉ khảo cứu tiếng Hoa và người Hoa là
người Việt và tiếng Việt ; chứ không phải là khảo cứu nguồn
gốc người Việt và tiếng Việt ! Có lẽ là nhiều tộc thiểu số
như người MẢ LAI ,THỔ , BỐ Y , TAM MIÊU , DAO , ĐỒNG , CHOANG
, THÁI , LÊ , KHMER ,MƯƠNG̀ v v...đã góp phần hình thành dân tộc
Việt ; mà cũng nên nhớ rằng dân tộc Việt chưa bao giờ xưng danh
bằng tên cuả các dân tộc trên và ngược lại thì các dân tộc trên
cũng không bao giờ tự xưng mình là người Việt !
Tiếng Việt ở Việt Nam ngày nay đã được dùng chử
LATIN A B C...để phiên âm từ lâu ; bây giờ thử haỹ dùng a b c đễ
phiên âm tất cả các tiếng Việt Nam , Việt (Quảng Đông ) Mân
Việt ( Triều Châu -Phước kiến) và Bắc kinh ...xem có giống nhau
không ? ví dụ :
Tiếng Việt nam Triều Châu/ hay/ Mân Việt
Quảng đông 粤/ Việt Tiếng Bấc Kinh/ Mandarin
歷史 Lịch sử le súa lịc sĩa li sừa
定義 định nghĩa tiea nghịa tình nghìa tíng ýa
發明 phát minh hoát meng phat ming phá mỉng
考古 khảo cổ khào cố hảo của khảo cùa
過渡 qúa độ qué tô ko tù quo túa
政治 chính trị chéng tia chinh chìa chưng chứa
失敗 thất bại sít bai sách bài sửa bái
古代 cổ đại cồ to của tòi cùa tái
農業 nông nghiệp nong nghép nùng diệp nủng dúe
開通 khai thông khai thong hoi thung khai thung
起步 khởi bộ khia bô hỉ bù tsìa bú
開放 khai phóng khai hoạng hoi phoong khai pháng
發展 phát triễn hoát tién phat chuyễn phá chànn
工業 công nghiệp cang nghépp cung diệp cung dué
聯盟 liên minh leng meng lỳnn mình lẽngg mỉnh
中原 trung nguyên tong nguań chung duyền chung duyển
岭南 lỉnh nam lenh nám lịn nàm lìn nản
增加 tăng gia cheng keaa chắng ká chứng chia
长期 trường kỳ tseang khía tsèng khì tsảng tsỉa
南海 nam hải nam hái nàm hỏi nản hài
主要 chủ yếu chụ yèu chuỷe dêu chùa dáo
厲害 lợi hại lia hai lì hồi lí hái
東方 đông phương tong hoang tung phoong tung phang
Thử lướt qua 1 số từ nêu trên thì chúng ta sẽ thấy
các ngôn ngữ nêu trên là cùng 1 gốc ..., chỉ là biến âm khi bị
ảnh hưởng cuả phong thổ của mổi địa phương hay lai căn khi tiếp
xúc với 1 nền văn hoá khác mà sinh ra sự khác biệt chút it́ .
TỪ XƯA ĐẾN NAY ...HẦU NHƯ MỌI NGƯỜI ĐỀU CHO RẰNG TIẾNG VIỆT
LÀ ĐƯỢC SINH RA TỪ TIẾNG HOA BỠI NGÀN NĂM BỊ HOA ĐÔ HỘ , BỠI LỊCH
SỬ ...VÀ BỠI QÚA NHIỀU BÀI NGHIÊN CỨU CHO RẰNG HOA ĐỒNG HÓA VIỆT
V V...; RIÊNG TÔI , TÔI NGHĨ NGƯỢC LẠI ..LÀ VỊỆT ĐỒNG HÓA HOA
, HAY HOA CHÍNH LÀ hậu duệ của VIỆT , VỚI TÀI HÈN VÀ SỨC MỌN
CUẢ 1 NGƯỜI THÌ QÚA LÀ "THIẾU THỐN" ĐỦ THỨ CHO 1 ĐỀ
TÀI "QÚA LỚN" CỦA VIỆC KHẢO CỨU NẦY ..., CHO NÊN TÔI
RẤT MONG CÓ SỰ TIẾP TAY CUẢ NHIỀU NGƯỜI ...; Muốn nhận định
đúng hay sai thì phải khảo cứu và chứng minh cho rỏ ràng như 1+1
là 2
Lấy ví dụ chử "KHẢO CỔ'' hoặc hàng ngàn chử
khác thì chúng ta thấy rằng tất cả đều chung 1 gốc và biến
âm thành "khào cố" , "hảo của " và "khảo
cùa" ..., Có những cách biến âm PHỨC TẬP HƠN ..ví dụ chử
牛 'NGƯU" thì tiếng TRIỀU CHÂU ngày nay ...đơn giản thành
"GU" , tiếng Quảng Đông ngày nay là "NGẦU"
, còn tiếng BẮC KINH là "NIỂU" ..., nên nhớ có rất
nhiều vùng đất mà người ta không phát âm vần "NG" được
, như những người ENGLISH ngày nay vẫn đọc họ NGUYỄN là "NEW_GEN"
...vậy "NGƯU" có trước rồi biến thành "GU"
phải không ? và "NGƯU" mà đọc thêm dấu huyền thành "NGẦU"
phải không ? và "NGƯU" phát âm theo giọng Bấc là NGHIÊU
...VÀ ...không phát âm "NG" được thì biến thành NIÊU
và lên giọng cao thì thành là "NIỂU" phải không ? Nếu
nghiên cứu cho rỏ ràng nhiều quy tắc cuả ngôn ngử học thì chúng
ta sẽ giải mã được nguồn gốc Hoa ngữ ngày nay chính là thế hệ
F2 < F4 v v...cuả F1 là tiếng Việt .
Bài Viết nầy chỉ là 1 Đại ý nói lên ý chính cuả
việc Khảo cứu mà tôi thích thú ...; Những bài sau thì tôi sẽ trình
bài chi tiết hơn và sẽ cập nhật thêm nhiều phần với những chứng
minh của sử , sách , phong tục , khảo cổ , văn học , dân ca , thơ
văn v v...với âm thanh và video clip cuả những bằng chứng...
Tham khảo 1 số website :
中國歷史 http://zh.wikipedia.org/w/index.php?title=%E4%B8%AD%E5%
9B%BD%E5%8E%86%E5%8F%B2&variant=zh-tw
史記 http://zh.wikipedia.org/w/index.php?title=%E5%8F%B2%
E8%AE%B0&variant=zh-tw
楚国 http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%A5%9A%E5%9B%BD
粤语 http://baike.baidu.com/view/10816.htm
Nguồn: anviettoancau
|