|
Thiếp kể chàng
nghe: Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương
Lý-Trần Anh
Thư
Cây
có gốc mới xanh cành nở ngọn
Nước có nguồn mới biển cả sông sâu.
(Ca dao)
Anh yêu, hôm nay mùng 10 tháng 3 âm lịch, ngày giỗ
Tổ Hùng Vương, chàng có biết thắp hương kính nhớ các ngài không?
Thứ Bảy vừa rồi, em và bạn hữu dự lễ giỗ Vua Hùng
do hai hội đoàn, một của Hội Đền Hùng, một của Hội Cao Niên Á Mỹ
tổ chức cùng ngày tại quận Cam, Little Saigon. Tuy người tham gia
không đông như đi trẩy hội ở quê nhà, nhưng buổi lễ rất trang trọng;
cũng tế lễ cổ truyền, cũng phèng la chiêng trống, cũng được hưởng
lộc Tổ khiến em đỡ thấy nhớ quê hương. Nhưng phải chi, các cụ thực
hiện đơn giản hơn, hay sử dụng tiếng Việt thay cho tiếng Hán trong
lúc hành lễ, hoặc ít ra có đôi lời giải thích thì giới trẻ mới ham
thích tham dự. Còn nữa, em thích bàn thờ được đặt ngay trung tâm,
mọi người qui tụ chung quanh kính cẩn theo dõi thì không khí trang
nghiêm hơn. Dù sao, đây là những cố gắng gìn giữ và bảo tồn văn
hóa dân tộc rất đáng hoan nghênh.
Em có ghé thăm các gian hàng triển lãm, trong đó
có gian hàng của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam Cali, được tiếp
chuyện với Mai-Vy Hoàng, Á Khôi II, và KimThi Phạm, Á Khôi Thân
Thiện của giải Hoa Khôi Liên Trường hôm tết vừa rồi. Dĩ nhiên, sắc
vóc thiếp của chàng làm sao dám sánh với nét đẹp tuyệt vời của các
cô á khôi, và dù các cô chưa hiểu hết ý nghĩa của ngày giỗ Tổ cũng
như không rành tiếng Việt, nhưng sự hiện diện của các cô và một
số bạn trẻ khác rất đáng tuyên dương, làm gương cho giới trẻ biết
mà tìm về cội nguồn.
Anh ơi, thế sự nhiễu nhương của đất nước chúng ta
trong thế kỷ vừa qua do cảnh nồi da xáo thịt đã làm lòng người rã
rời, con cái không những hư đốn với tổ tiên, lại còn chia rẽ đánh
phá nhau thay vì thương yêu nhau như cha ông đã dạy. Em thấy có
nhu cầu để kể cho anh ý nghĩa câu chuyện để lại từ thời Hùng Vương
và về đứa con ngỗ nghịch đó. Hôm tết em đã kể chuyện bánh Dày bánh
Chưng, hôm nay thiếp kể chàng nghe chuyện Dưa Hấu, hay chuyện An
Tiêm (1). Chàng kiên nhẫn lắng nghe nha.
Chuyện xưa kể rằng:
An Tiêm là con nuôi của vua Hùng, nhưng bị đày
ra đảo hoang. Dầu An Tiêm ra công khai phá, đảo vẫn khô cằn, khiến
An Tiêm càng thêm khốn đốn.
Nhưng một hôm có con chim lạ bay tới và để rơi
mấy hạt giống. Và rồi, nhờ An Tiêm chuyên lo chăm sóc, các hạt giống
đó mọc thành loại dưa thơm ngon tươi mát.
An Tiêm liền ghi dấu trên dưa và thả xuống biển.
Nhiều người vớt được dưa nên tìm tới đảo và đảo hoang đã trở thành
làng xóm đông đúc.
An Tiêm gởi dưa về dâng vua. Từ đó dưa hấu được
dùng làm lễ vật cúng tế.
Anh có biết tại sao An Tiêm được cho là con nuôi
của vua Hùng không? Đó là để giới thiệu và phân định vị thế của
An Tiêm khác với Tiết Liêu và Tiên Dung. Chắc anh còn nhớ hai người
này chứ?
Trong truyện Tiết Liêu, chàng là hoàng tử và được
Tổ dạy sáng tạo bánh dày bánh chưng nên được làm vua. Đó là tổ tiên
để lại bài học an dân thịnh nước. Ở truyện Chử Đồng Tử, Tiên Dung
kết hợp với chàng không khố Chử Đồng để dạy dân việc phát triển
đất nước. Còn An Tiêm, vì là “con nuôi”, tuy làm việc chung nhưng
ở tầm mức khác, và chàng cũng có quyền thế và trách nhiệm tương
xứng. Theo quan niệm chính trị Việt, mọi người đều là con dân, là
“con đỏ” của vua nên vua quan đều phải lo lắng chăm sóc con cháu
mình. Như vậy, mọi người đều là con nuôi của vua Hùng và An Tiêm
chính là biểu trưng người dân trong nước.
An Tiêm là hình ảnh của “dân”, không phải con người
đơn độc mà là con người trong xã hội, bị ảnh hưởng bởi môi trường
sống nên có lúc giữ được đạo trung, có lúc thái quá, có lúc bất
cập. Chính vì không giữ được chuẩn mực, vì ngỗ nghịch nên chàng
bị đày ra đảo hoang. Chàng phải tự lực cánh sinh, phải biết quyền
biến, tự quyết định mọi việc lớn nhỏ và gánh chịu mọi trách nhiệm.
Đây chính là bài học về chế độ làng xã Việt Nam xa
xưa đó anh.
Mô hình làng xã hạch-tâm-thể
Cha ông dùng chuyện An Tiêm khẩn hoang lập ấp là
dạy việc làng, kể chuyện bánh dày bánh chưng và chuyện Chử Đồng
Tử để dạy cháu con việc nước.
Đối với triều đình, mỗi làng đều được quyền tự trị,
vua quan chẳng những không can thiệp vào sinh hoạt làng xã mà đến
cả đời sống từng người dân cũng không. Tuy vậy, sinh hoạt làng nước,
vua tôi ăn khớp nhau, phân công, hợp tác với nhau trong công việc,
ai lo chu toàn việc người nấy nên bộ máy chính quyền sinh hoạt nhuần
nhuyễn, không phải bộ phận này lãnh đạo bộ phận kia. Mọi người,
mọi cơ cấu đều lo lắng đến quyền lợi chung, lấy quyền lợi chung
làm quyền lợi của mình cho nên xã hội đầm ấm, vua tôi hòa hợp tương
đắc. Sinh hoạt xã hội như thế tựa như hoạt động của một nguyên tử,
nên ngày nay có nhà tư tưởng Việt gọi là sinh hoạt hạch tâm hay
xã hội hạch tâm thể (Lý Đông A). Anh có thấy từ xa xưa tổ tiên ta
đã biết áp dụng quy luật của tự nhiên giới vào đời sống con người
để tạo xã hội hạnh phúc chăng, ở đây là mô hình hạch tâm nguyên
tử, các cơ năng sinh hoạt điều hòa với nhau, không như những dân
tộc khác lấy mô hình kim tự tháp “trên đè dưới” làm chuẩn, như một
số xã hội hiện tại. Mô hình hạch tâm này không chỉ tạo sinh hoạt
sống động hài hòa cho dân nước, mà còn có thể áp dụng được cho cả
tầng cấp quốc tế nữa đó anh.
Làng xã khi xưa tự lập, có ban quản trị riêng do
dân làng bầu ra, có cả những điều lệ riêng cho hệ thống hành chính
của làng. Làng có một ngôi đình để thờ vị Thành Hoàng với những
nghi thức truyền thống riêng. Làng còn có tổ chức trị an riêng với
những tiêu chuẩn thưởng phạt do làng quy định. Và dĩ nhiên, làng
cũng có tài sản riêng, được toàn quyền sử dụng theo yêu cầu. Tuỳ
hoàn cảnh và ý, tình, chí của dân làng mà họ có những điều lệ đặc
biệt, một bộ hương ước riêng mà ngay cả quyền phép của vua cũng
phải kiêng nể.
Ngày nay, chúng ta gọi đó là một tổng thể, kết hợp
bởi các bộ phận (2). Muốn cho thực thể này sinh hoạt đều hòa, cần
tôn trọng sự hiện hữu của các cơ phận, chứ không phải lấy đông hiếp
ít, hay tệ hơn, lấy một nhóm cực nhỏ, gom mọi quyền lực vào đấy
rồi bảo là chuyên chính, ức hiếp toàn thể xã hội.
Anh yêu, tưởng không có chế độ nào người dân được
trực tiếp tham gia và có thể dân chủ hơn được nữa. Đây không phải
chỉ là nếp sống tự phát mà đã được tổ tiên ta biến thành định chế
chính trị. Vẫn biết thời nào những kẻ có ưu thế cũng muốn củng cố
quyền lực riêng mình, nhưng tổ tiên ta vẫn luôn quyết tâm dựa vào
thực tại và ý chí dân chúng để bảo vệ và kiện toàn định chế này
qua mấy ngàn năm lịch sử.
Buồn thay, người cộng sản không hiểu, đã đem chủ
nghĩa cộng sản về phá nát văn hóa và truyền thống tốt đẹp làng xã
hạch tâm xa xưa để cào bằng mọi người mọi giới, đưa đảng cộng sản
ngồi xổm chót vót trên đỉnh, còn toàn dân nằm ngồi la liệt lê lết
dưới đáy. Và họ gọi đó là đỉnh cao trí tuệ loài người. Hỏi anh còn
dại dột ngớ ngẩn nào hơn chăng? Họ không hiểu rằng mọi cơ phận trong
xã hội đều cần thiết cho nhau, không cơ phận nào ra lệnh lãnh đạo
bộ phận khác, tựa như hoạt động của chiếc đồng hồ. Bất cứ một bộ
phận nào hư hỏng đều gây thiệt hại đến sự sinh hoạt thống nhất kia
với nhau. Nhà nước chỉ là cơ quan điều hợp, tạo điều kiện thuận
lợi cho các cơ phận sinh hoạt hài hoà với nhau, đất nước mới cường
thịnh, con dân mới hạnh phúc.
Tinh thần và vật chất hỗ tương nguyên nhân
An Tiêm ra đảo cũng như Chử Đồng ra biển, chính là
hình ảnh rồng vẫy vùng thi thố tài năng. An Tiêm khai phá đảo hoang
tức mở mang vùng đất mới, khai hoang lập ấp. Nhưng dầu An Tiêm gắng
sức đến mấy, đảo vẫn khô cằn, một mình trên đảo vắng, tựa như Chử
Đồng không khố khốn khổ ở ven sông, dù cả hai đã vận dụng toàn tài
toàn sức.
Cuộc sống đọa đày đó kéo dài cho tới khi An Tiêm
gặp con chim. Anh à, tại sao câu chuyện không diễn tiến như nhiều
chuyện phiêu lưu khác, ví dụ cho An Tiêm gặp được giống dưa quý
nơi hải đảo không người có phải... tiện lợi không? Tại sao phải
có chim bay tới cho thêm phiền phức?
Nhưng, cha ông ta hay và khác người ở chỗ đó. Tựa
rồng-Chử Đồng đói lạnh đơn côi cho tới khi nàng tiên-Tiên Dung ghé
lại, cuộc sống của rồng-An Tiêm cũng hoàn toàn thay đổi vào lúc
chim - hình ảnh của tiên - xuất hiện. Chàng được chim cho hạt giống
dưa hấu, ra công trồng cấy và được hưởng cuộc sống đầy đủ an vui.
Trước kia chỉ có rồng nên bơ vơ cằn cỗi. Nay thêm tiên, cuộc đời
đổi mới, thơm mát xanh tươi.
Anh ơi, như vậy theo văn hóa Việt, bất cứ công việc
gì thuộc về con người, ở đây là khai thác vùng đất mới, cũng phải
có đầy đủ rồng tiên. Hay nói khác đi, vật chất và tinh thần phải
hỗ tương nhau thì cuộc sống con người và xã hội mới chan hòa hạnh
phúc.
Vậy mà hai ông Tây nào đó, một ông bảo rằng tinh
thần mới quan trọng, mới quyết định mọi sự khiến ông nọ bất bình,
nói rằng vật chất mới là yếu tố chính, quyết định thượng tầng kiến
trúc, gây ra biết bao đau thương mất mát cho nhân loại thế kỷ vừa
qua. Trong khi đó cả ngàn năm xưa, cha ông mình đã nhận biết tầm
quan trọng của sự tương tác giữa tâm và vật, rút thành những bài
học bánh Dày bánh Chưng, Chử Đồng và An Tiêm cho cháu con ghi nhớ.
Ngày nay, con cháu quên lời tổ tiên, một bên tự cho là “tiền đồn
tự do” đi theo tâm, một bên hồ hởi làm “thành đồng cách mạng” nương
theo vật, muối mặt nồi da xáo thịt chém giết nhau, mạnh miệng lên
tiếng chỉ ta mới có chính nghĩa mà quên khuấy bài học thống nhất
tâm-vật của cha ông năm xưa để nhìn nhau là huynh đệ. Hỏi anh còn
cảnh nào bi tráng hơn chăng?
Thêm nữa, trong truyện bánh dày bánh chưng, Tiết
Liêu dùng gạo làm bánh, tức phải đem tài trí và sức lực mà cải tiến
cuộc sống toàn dân ngày một ấm no hạnh phúc, trên bình diện nước;
ngược lại, ở phương diện làng, An Tiêm chỉ việc vun xới rồi chờ
kết quả, công việc nhẹ nhàng hơn. Trong việc nước, công tác chính
yếu là lo về cơm áo, tức nhu yếu căn bản của người dân; ở việc làng,
An Tiêm tìm ra loại dưa mới, không phải nhu cầu thiết yếu cho sự
sống mà chỉ làm cho đời thêm tươi mát và ngọt ngào. Hai truyện Chử
Đồng và An Tiêm, cha ông chỉ ra cho con cháu thấy rằng, việc làng
và việc nước khác nhau từ phần chủ động tới mức dấn thân và cả loại
nhu yếu. Cuộc đời Chử Đồng chỉ bừng sáng khi gặp mặt và chung sống
với Tiên Dung, một dùng của, một dùng tài để chung sức phát triển
cuộc sống dân nước. An Tiêm không thực sự chia sẻ cuộc sống với
tiên, mà chỉ nhận được từ chim, hình ảnh của tiên, có mấy hạt giống.
Tiên Dung và Chử Đồng phải để trọn tâm huyết và cuộc đời vào việc
phát triển việc nước; trong khi đó, An Tiêm chỉ việc vun xới để
những hạt giống dân dần biến đảo hoang thành làng xóm xanh tươi,
nên chỉ được tiên lướt qua.
Rồng nào, tiên đó; việc ai, phận nấy; nhu cầu nào,
công việc đấy. Như vậy, người dân có trực tiếp tham gia việc làng
nước mới thực sự có quyền để tạo lực cho nhà nước. Lực được dân
trao, chính quyền sử dụng nhằm điều hành việc nước cho xuyên suốt
và trôi chảy, sao cho cuộc sống toàn xã hội tương thông hài hòa,
không phải lạm dụng quyền lực rồi chèn ép người dân. Đây là bài
học về phân công và phân mệnh trong công việc cho hợp tình hợp lý
để đạt kết quả tối ưu theo mô hình hạch tâm, mà không là ra lệnh,
dễ gây lạm quyền của mô hình kim tự tháp Hán tộc và Tây phương trước
kia.
Sự hỗ tương nguyên nhân, đối lập mà thống nhất giữa
làng và nước, giữa cá nhân và tập thể đã được thể hiện rõ ràng trong
suốt dòng lịch sử dân tộc, cho tới khi chúng ta va chạm với “văn
minh” bên ngoài vài thế kỷ nay, phá vỡ toàn bộ hệ thống sinh hoạt
làng xã hạch tâm và hình thức phân công, phân mệnh của văn hóa Việt.
Từ xa xưa, tổ tiên ta luôn phân biệt rõ ràng hai
công tác chính trị: công tác làng và công tác nước. Người dân ai
ai cũng có thể tham dự vào việc tổ chức, điều hành, quyết định công
việc làng. Nhưng để đủ tầm vóc làm việc nước thì phải học hỏi thông
thạo chuyện an dân và phải được tuyển chọn, thi cử để xác định khả
năng. Ai như chủ nghĩa nọ, cứ công nhân là thỏa chí tiêu diệt các
giai tầng khác rồi nhân danh đảng, nhân danh ba đời bần cố, nhảy
phốc lên đỉnh lãnh đạo toàn dân! Còn gì khờ dại cho bằng phải không
anh.
Anh yêu, biết bao bài học dựng và giữ nước cha ông
truyền lại mà chúng ta ngày nay coi thường, cứ tưởng đi vơ của người
mới là hay.
Hôm nay ngày giỗ Tổ, thiếp kể chàng nghe lại ý nghĩa
một vài chuyện xưa, chàng hãy ghi nhớ và loan truyền rộng rãi nha.
Thời nay kỹ thuật hiện đại, chàng chỉ việc nhấp chú chuột điện là
bài học cha ông được truyền tải khắp nơi. Chàng làm ngay cho em
nhé.
Thiếp thương và nhớ chàng ghê lắm. Hôn chàng.
Lý-Trần Anh Thư
Ghi Chú:
(1) Viết và phỏng theo Kinh Việt của tác giả Nam
Thiên, Brisbane, Australia 1990. Hoa Tiên Rồng phổ biến.
(2) Trong bài, tác giả cũng sử dụng một số khái niệm
của nhà cách mạng Lý Đông A về Bản Vị học thuyết (mô hình hạch tâm);
phân công hợp tác; hỗ tương nguyên nhân; phân công, phân mệnh, phân
lợi theo lý thuyết Kinh tế Bình Sản (bình đẳng cơ hội về sự tạo
dựng và hưởng thụ tài sản trong nền kinh tế xã hội hóa) của ông.
11.4.2011
|