|
Sau
sáu mươi năm lòng tin nhất thời ấy đã sụp đổ *
Nguyễn
Huệ Chi
Anh
Dương Trung Quốc là chỗ bạn bè với chúng tôi, là một trong những
Nghị sĩ “dám nói” giữa một Quốc hội mà nếu không bảo là “gật” –
chẳng ai dám mạo phạm gọi xách mé như thế cả – thì xét cho cùng,
sự thẳng thắn đóng góp những điều hữu ích tính đến nay quả cũng
chưa được bao lăm người. Tuy nhiên, có lẽ cũng vì ở tư cách một
Nghị sĩ Nhà nước nên trong vấn đề này, anh chưa dám nói hết mọi
điều cần nói. Bổ sung vào ý kiến của anh một đôi điều tưởng cũng
là cần thiết.
Chúng tôi nghĩ, đời sống tâm linh gắn với một cộng
đồng người nhất là cộng đồng người châu Á như Việt Nam, vốn có gốc
rễ lâu đời của nó. Truyền thuyết rùa thần ở Hồ Gươm phải nói đã
có từ lâu, từ thời Lê Lợi kia, hoặc muộn hơn chút ít, và mấy trăm
năm qua vẫn sống trong lòng dân tộc như một phản ánh sâu thẳm của
tâm thức yêu nước, yêu cuộc sống thái hòa, không thích gây sự, của
dân tộc chúng ta.
Nhưng từ khi những người làm cách mạng theo đường
lối mác-xít lên nắm quyền thì cái gọi là “tín ngưỡng dị đoan” bị
dẹp bỏ, trong đó có cả những truyền thuyết linh thiêng như truyền
thuyết rùa thần (dẹp bỏ ở đây là dẹp bỏ niềm tin hiện hữu về nó
chứ không phải dẹp bỏ ở trong sách vở).
Nhưng sự dẹp bỏ chỉ có giá trị nhất thời, khi người
ta đang ít nhiều xây dựng được một lòng tin khác, về một thể chế
mới sẽ dẫn con người Việt Nam đến một thế giới tươi đẹp, không còn
người bóc lột người, và thể chế ấy là do toàn dân vùng lên chống
ách đô hộ của ngoại bang giành lại độc lập toàn vẹn thiết lập ra
nó.
Nhưng sau sáu mươi năm trải nghiệm, rõ ràng lòng tin nhất thời ấy
đã bị sụp đổ. Một xã hội công bằng, dân chủ, tự do, hạnh phúc không
những không hề có mà một đất nước hoàn toàn độc lập không phải luồn
cúi nước ngoài hóa ra cũng không.
Mà khi lòng tin từng được hồ hởi truyền bá bởi những
vị khai quốc công thần khai sáng ra thời đại mới bị thực tế làm
cho tắt ngấm cùng với lớp người khai quốc ấy – một “thế hệ vàng”
như anh Dương Trung Quốc nói – thì cái cũ đương nhiên lại sống dậy.
Người ta lại phải trở lại gửi gắm ước vọng vào một thế giới huyền
bí, xem đó là sự cứu rỗi cho mọi nỗi đau hữu hình và vô hình đang
diễn ra chồng chất trên cõi đời này.
Về phương diện cá nhân, dân chúng không còn chỗ nào
bấu víu hơn là đi tìm các đình chùa được tiếng “thiêng” xưa nay
để lễ bái, cầu cúng, mong cho vợ chồng con cái có chút tài lộc và
giữ được sức khỏe cũng như sự yên ấm gia đình, trong thời buổi khắc
nghiệt của kinh tế thị trường định hướng XHCN mà trong đó chỉ có
một phần may còn chín phần là rủi (do chỗ nền kinh tế này thực chất
dựa trên “quy hoạch” đất đai của dân và buôn bán đầu cơ bất động
sản cũng như vay tiền nước ngoài để lập ra các dự án… không có lãi,
nên đại bộ phận nhân dân đều ở vào tình cảnh bất hạnh), giáo dục
và an sinh xã hội thì xuống gần đến đáy.
Nhưng có một đám giàu nổi mới phất lên nhờ vào vô
khối hành vi chạy chọt chức quyền, xí phần quy hoạch, dự án này
nọ…, chủ yếu là quan chức và các doanh nhân thì trong tâm lý lại
thường lo sợ theo một hướng khác: họ lúc nào cũng ngơm ngớp lo bị
mất chức, mất hết tiền tài, nên cứ thảng thốt không yên, như ngồi
trên đống lửa. Về mặt tư tưởng, họ lại cũng chính là đám người sớm
hơn ai hết từ bỏ cái chủ nghĩa duy vật biện chứng mà thế hệ cha
chú từng truyền dạy, mặc dù ngoài miệng họ vẫn luôn luôn tuyên truyền
học tập chủ nghĩa Mác, học tập tấm gương đạo đức của cụ Hồ.
Cứ xem những việc như phá gần hết di tích Điện Biên
Phủ để xây phố xá, khách sạn, phá di tích Hội trường Ba Đình và
rất nhiều di tích khác chứng tỏ họ đã đi đến chỗ “hoàn toàn thất
học” (sự suy xét lý tính trong họ nhường chỗ cho những tín điều,
tín niệm hết sức thực dụng). Vì thế, không phải họ theo đuôi nhân
dân đi lễ bái cho an dân đâu.
Phải nói chính họ đã đầu têu ra những chuyện xây
chùa chiền đồ sộ cực kỳ tốn tiền (kéo theo hàng đám “sư sãi chức
sắc” cũng lập hết dự án này dự án kia, ngồi ô tô, che lọng vàng,
tiền của không để đâu cho hết), những chuyện lễ bái cầu cúng, cầu
an, mừng sinh nhật… tốn kém không thể nào kể xiết (mà đi đến đâu
ta đều nghe dân gian đàm tiếu), cốt cầu thần thánh “ban” cho mình
được leo lên những “cái ghế” cao hơn, vững chãi hơn cái ghế mình
đang ngự trị, và làm sao cho núi tiền của mình ngày một đầy hơn
hoặc đã đầy rồi thì không suy suyển đi.
Vậy thì, từ cái cực duy vật máy móc đến chùa chiền
nào cũng đập, bia đá nào cũng ghè, sách Nho nào cũng đốt… chuyển
sang một cực trái ngược hẳn như hôm nay trong xã hội chúng ta, phải
đâu là do chính quyền nể nang dân chúng mà sinh ra thói tệ ây. Nói
thế e có phần oan uổng cho người dân đấy, thưa anh Quốc.
Còn về một phương diện khác, phương diện xã tắc –
tức niềm tin vào vận mệnh dài lâu của đất nước – trước đây, với
hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và đánh Mỹ, trong nhân dân ai cũng
nghĩ rằng dân tộc này quả thật đã làm nên lịch sử, tự mình giành
lại được nền độc lập tự chủ của mình.
Nhưng mỗi ngày, lịch sử lại lộ ra một phần sự thật
bị giấu giếm, những sự thật ghê gớm không ai ngờ được – rằng vào
năm 1974 chúng ta đã mất Hoàng Sa về tay Trung Quốc; rằng vào năm
1988 chúng ta lại mất thêm một phần Trường Sa; rằng từ sau 1979,
sau chiến thắng oanh liệt đánh đuổi đội quân xâm lược hung ác của
Đặng Tiểu Bình tiến sang triệt phá nhiều tỉnh biên giới, những tưởng
chúng ta đã có thể ngẩng cao đầu, thì có ngờ đâu lại phải ngậm cay
nuốt đắng chấp nhận một đường biên giới thua thiệt, có nhiều phần
bị bọn đại Hán ngoạm sâu vào lãnh thổ mà không dám lên tiếng tranh
cãi (đặc biệt là các cuộc giao tranh đẫm máu vào năm 1984, chúng
ta mất thêm cao điểm quan trọng 1509 vùng núi Đất, bây giờ kẻ ăn
cướp gọi đó là Lão Sơn).
Không những thế, khi một thế hệ thanh niên Việt Nam
cảm thấy bất bình, đứng lên biểu tình chống Trung Quốc, đòi công
khai việc giành lại quyền tự chủ trên vùng biển Hoàng Sa và Trường
Sa, thì bất nhẫn thay, họ lại bị chính quyền đương nhiệm giải tán,
thậm chí bắt bớ, đưa vào tù. Thế là niềm tin vào chính sức mạnh
của dân tộc cũng lung lay – do một bọn đớn hèn cứ dùng dùi cui và
roi điện để bịt miệng dân chúng.
Còn chỗ nào để “phát tiết” tinh hoa của dân tộc nữa
đây nếu không là những huyền thoại như huyền thoại rùa thần Hồ Gươm
vốn nổi tiếng linh ứng từ hàng mấy trăm năm? Truyền thuyết Cụ Rùa
dẫu có âm thầm “ngủ kín” trong tâm khảm người dân một thời gian
nào đấy, do chiến tranh hay vì lẽ gì đi nữa, thì đâu phải đã là
chết hẳn. Bỗng chốc nó lại sống dậy, nổi bật lên trong vòng mấy
thập kỷ qua, cũng chính vì sự hẫng hụt nói trên.
Anh Dương Trung Quốc hãy nhớ lại xem, tiêu bản “Cụ
Rùa” hiện còn ở đền Ngọc Sơn chẳng gắn với lời đồn về việc cụ Hồ
tạ thế năm 1969 là gì. Nếu cần hiểu thêm về sức sống của truyền
thuyết rùa thần ở cái hồ trung tâm thủ đô này anh nên tìm tập truyện
ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu – một người đã từng nương náu tại Hồ
Gươm trong nhiều năm – mà đọc, sẽ còn biết thêm vô khối huyền thoại
khác nhau về nó.
Ở đây chỉ xin nêu một câu hỏi: Chẳng lẽ cái nơi ẩn
náu cuối cùng sức mạnh tinh thần của người Việt là Cụ Rùa cũng bị
Nhà nước “quét sạch” đi nốt? Mà “quét sạch” đi thì chính ông cầm
quyền phải sợ trước chứ đừng nói ai! Chính đó, theo tôi, đó mới
là cái lý do sâu xa để chính quyền Hà Nội phải long trọng hóa một
việc như việc cứu “Cụ Rùa” Hồ Gươm.
Nói về việc bảo vệ môi trường, phải nhìn thẳng vào
sự thật, Hà Nội là thành phố yếu kém nhất trong mọi thành phố ở
Việt Nam. Có một hồ nước nào ở Hà Nội đạt tiêu chuẩn giữ gìn nước
sạch và môi trường không bị lấn chiếm hay không? Tuyệt đối không.
Ngay Hồ Tây to lớn và đáng giữ gìn biết bao nhiêu,
vậy mà cứ lên Hồ Tây mà xem, Hồ Tây và hồ Trúc Bạch nay còn lại
được mấy phần so với trước đây hơn nửa thế kỷ? Số liệu quá khứ chắc
còn nguyên vẹn để ta so sánh.
Có những khách sạn nay đã đóng cọc ra ngoài Hồ Tấy
đến gần 1/2 km, thử hỏi ai được hưởng những món “lại quả” kếch xù
vào đấy? Lại còn hồ Thủ Lệ nữa, ngày xưa hồ này dài rộng đến thế
nào, ai mà chẳng nhớ, thế mà sau một nhiệm kỳ của ông Hoàng Văn
Nghiên lên làm Chủ tịch thành phố, cho Hàn Quốc lấp Hồ để xây khách
sạn Daewoo (mà nghe nói hình như một vài quan chức vào cỡ ông có
cổ phần đáng kể ở trong đó?), nay hồ Thủ Lệ chỉ còn là một lạch
nước nông choèn, không đủ chỗ cho trẻ em chơi vui trong ngày Chủ
nhật.
Giá thử không lo cứu “Cụ Rùa” và làm sạch nước Hồ
Gươm, hẳn giải đất hình chữ S này sẽ không còn cái gì để mà nhắc
nhở, và chính quyền này sẽ không còn cái gì để “nói” với dân. Ấy,
vấn đề gọi bằng tâm lý xã hội nó là sâu xa như vậy chứ không phải
giản đơn. Phải chi nếu không có truyền thuyết “Cụ Rùa” thì chắc
việc làm sạch Hồ Gươm cũng sẽ còn lâu lắm đấy. Các vị ngồi trên
biết rằng chẳng ăn cái giải gì khi làm cho một thủ đô thật sự xanh,
sạch, đẹp. Vài nhát sơn để bôi phết lại các tường nhà ở các khu
phố Hà Nội lâu năm, hay phá ra để lát lại các lối đi vừa mới lát…
sẽ là những dự án còn “thực”… tế hơn gấp nhiều lần.
@boxitvn
11.03.2011
(*): Ban Báo Chí NTHF đặt tựa
|