Giáo
dục Việt Nam
Michael
Michalak - Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
Nguyễn Khoa
Thái Anh chuyển ngữ
Tháng Tư 2008
1. Tóm Lược:
Hệ thống giáo dục Việt Nam đang bị khủng hoảng và chuyện thiếu sót
một nguồn nhân lực có đủ trình độ và khả năng là một trong những
yếu tố lớn nhất làm trì trệ sự tăng trưởng của Việt Nam và ngăn
chận phát triển kinh tế ủa họ. Những quan chức cao cấp nhất của
Việt Nam, kể cả thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hiểu rõ sự thử thách
này và đã cụ thể kêu gọi sự tiếp tay của Hoa Kỳ trong việc giúp
thay đổi phong thói Việt Nam trong việc giáo dục con dân của họ.
Từ bỏ hệ thống giáo huấn lụn bại ngày hôm nay - một hệ thống hủ
lậu mà phần lớn gồm những nhà giáo dục không đủ điều kiện, nhưng
được bao che - không phải là dễ, tuy nhiên Hoa kỳ đang có một cơ
hội hiếm có để mang lại sự cải tiến và đánh dấu sâu đậm chuẩn mực
của mình lên nền giáo dục Việt Nam trong một tương lai khá xa. Để
bắt đầu, Thủ tướng Dũng hứa bỏ tiền xây dựng một khuôn viên đại
học với mô hình Hoa Kỳ, phía Hoa Kỳ sẽ cung ứng một viện trưởng
đại học, cộng với ban giảng huấn và khâu hành chánh. Ông Dũng cũng
yêu cầu Mỹ giúp khai giảng các khoa học tiến sĩ (Ph.D.) tại Hoa
Kỳ, có thể đào tạo ít ra là 2,500 sinh viên trẻ, với sự đồng thuận
là các nam nữ sinh viên này sẽ trở về Việt Nam theo dạng các hạt
nhân ưu tú trong các địa hạt chính trị và hàn lâm cho nhiều thập
niên tới. Phần lớn các sinh viên này sẽ được Việt Nam tài trợ.
2. Tôi tin rằng có lẽ cách đáp ứng tích cực với những
yêu cầu này đã đi đôi với cuộc gặp gỡ trong mùa Hè qua giữa Tổng
thống Bush và Thủ tướng Dũng, sẽ nằm trong chiều hướng ích lợi cho
Hoa Kỳ. Bằng cách hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Nam, chúng ta không
những sẽ bảo đảm cho hàng chục triệu sinh viên Việt mà còn giúp
cho phụ huynh hay bố mẹ hãy trân-quý-nền-học-vấn của con em, thấy
được Hoa Kỳ là đối tác then chốt trong tương lai cá nhân cũng như
tương lai chung của họ. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ được nhìn nhận
là gương mẫu "Tiêu chuẩn Toàn Cầu" mà Việt Nam đang cố
theo và sẽ vượt qua. Sự quan hệ tích cực ngay lúc này của chúng
ta sẽ tạo ra một cơ hội thuận tiện cho cả Sứ Mệnh của Hoa Kỳ (thông
qua Đại sứ quán) giúp người Việt có thiện cảm với Hoa Kỳ, cũng như
tạo hậu thuẫn cho một chính quyền dân chủ có sự tham gia đóng góp
của nhiều người trong nước (Việt Nam). Dùng những nguồn lực sẵn
có, chúng ta đã tham gia nhiều chương trình và những đề xướng nhằm
giúp Việt Nam hiện đại hóa hệ thống giáo dục của họ và đào luyện
cho một thế hệ lãnh đạo mới của Việt Nam. Gia tăng nguồn tài trợ
đối ngoại lúc này và nâng đỡ chuyện xây dựng những hợp tác có chiến
lược công và tư rộng lớn sẽ triển khai tối đa ảnh hưởng của Hoa
Kỳ trên nền giáo dục của Việt Nam và do đó định hướng tương lai
của xã hội Việt Nam. Những yêu cầu cụ thể cho các đề xướng với Bộ
Ngoại Giao mới, USAID (United States Agency for International Development
Cơ Quan Phát Triển Thế Giới của Hoa Kỳ) và Dịch vụ Thương Mại Đối
Ngoại (Foreign Commercial Service: FCS) được liệt kê trong đoạn
18.
TÌNH TRẠNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
3. Việt Nam hiện đương đầu với một khủng hoảng trong
hệ thống giáo dục ở mọi tầng lớp, đe dọa sự tiến bộ về kinh tế và
hội nhập toàn cầu mà họ đang đeo đuổi. Quan chức bị thiếu đào tạo
về giáo dục hành chánh, giáo chức bị đào tạo kém cỏi với mức lương
thiếu hụt, tệ tham nhũng hoành hành ở khắp mọi tầng lớp trong ngành
giáo dục. Lại nữa, cơ hội vào đại học rất giới hạn, vì hệ thống
chỉ có thể tiếp nhận một tỉ số nhỏ so với lượng sinh viên đang tìm
cách nhập học. Năm 2007, các đại học Việt Nam có chỗ cho 300,000
sinh viên trên tổng số 1.8 triệu thí sinh đã thi vào đại học. Mặc
dù số sinh viên vào đại học đã tăng gấp hai từ 1990, con số giáo
viên gần như vẫn không thay đổi, một số liệu làm cho những chuyên
gia lo ngại. Bất kể con số sinh viên tăng trưởng, Việt Nam đứng
chót trong vùng, tính theo phần trăm số sinh viên theo học ở trình
độ thứ ba (đại học), chỉ có 10 phần trăm so với Trung quốc 15%,
Thái Lan 41% và Nam Hàn 89%, theo thống kê của Ngân Hàng Quốc Tế/World
Bank. Ngay cả đối với những sinh viên may mắn được theo học đại
học, họ phải đối đầu với một hệ thống mà giáo viên chỉ được trả
độc nhất theo từng lớp dạy mà không dựa trên một cơ chế tối thiểu
nào để đảm bảo cho một sự giảng dạy có chất lượng. Bằng tiến sĩ
được mua bán, và được bổ nhiệm vào một chân giáo sư chỉ là một thủ
tục giấy tờ rối rắm, không phải một danh dự có liên hệ đến một sự
nghiệp giảng dạy.
4. Tệ hại hơn nữa, tham nhũng tràn lan như ung thư,
xâm lấn cả một hệ thống giáo dục. Các hiệu trưởng và thầy giáo ít
lương phải mua chức vị của mình, rồi lại làm tiền phụ huynh, khi
họ phải trả tiền nhập học cho con, rồi phải trả thêm tiền cho giáo
viên chấm điểm cho con mình. Cho đến gần đây, gian lận bởi thầy
cô trong những cuộc thi toàn quốc là chuyện thường tình, nhất là
khi kết quả xấu mang lại phản ảnh không tốt cho "chế độ."
Thật dễ đoán khi Việt Nam bị bỏ rơi sau lưng các nước lân cận trong
công tác đào tạo kiến thức và phát minh. Năm 2006, hai đại học thuộc
hàng đầu Hà Nội -- Đại học Quốc Gia và Đại học Công Nghệ Hà Nội
- chỉ xuất bản được 34 luận án về khoa học so với 4.556 luận án
của Đại học Quốc Gia của Seoul, Nam Hàn và gần 3.000 luận án của
Đại học Bắc Kinh. Việt Nam cũng xếp hạng rất thấp trong chuyện đo
lường khả năng sáng chế, trong năm 2006, Việt Nam chỉ nộp võn vẹn
2 bản đơn xin cầu chứng bản quyền, so với 40.000 ở Trung quốc.
Sự lụn bại trong hệ thống giáo dục của Việt Nam cũng
đã mang lại hệ quả là các đại học không thể đào tạo nổi các giám
đốc và quản lý có đủ trình độ học vấn cần thiết cho một nền kinh
tế canh tân của đất nước. Chuyện thiếu hụt một nguồn nhân lực là
một nhân tố nghiêm trọng nhất, ngăn chận sự thăng tiến của quốc
gia cũng như sự phát triển của kinh tế họ, đây là một dữ kiện được
thị trưởng thành phố Sài gòn nhấn mạnh trong buổ họp ngày 17 tháng
4 với Tổng thư ký Y tế và Dịch vụ Con Người, Leavitt (Hoa Kỳ). Để
lấy thí dụ cho chuyện thiếu hụt này, một công ty công nghệ cao/hi-tech
Hoa Kỳ cho biết đã phỏng vấn 2.000 sinh viên mới ra trường - thành
phần sinh viên được kể là ưu tú và sáng giá nhất - thế mà họ phát
hiện chỉ có 40 người là hội đủ những đòi hỏi tối thiểu để được nhận
việc. Tình trạng này không phải là hậu quả thiếu hụt của nguồn tài
trợ cho nền giáo dục công lập, hiện nay là 4.3 % trên tổng sản lượng
quốc gia. Trong trường hợp này, mức đầu tư của Việt Nam cho hệ thống
gíáo dục cao hơn các nước láng giềng như Trung quốc, Hàn quốc, Phi
luật Tân, hay Thái Lan. Đây là một điều trớ trêu đáng buồn, vì rất
nhiều bậc cha mẹ trong xã hội Khổng học này có thể cầm cả linh hồn
họ để củng cố cho một nền giáo dục tốt đẹp con em có thể theo. Nếu
tính tất cả mọi khoản chi phí nhằm lo toan cho giáo dục của con
cái mình, phụ huynh ở Việt Nam đã tiêu pha khá rộng rãi với hy vọng
đẩy mạnh học vấn cho con em mình, nhưng thảm thương thay họ chẳng
thu nhặt được bao nhiêu.
DỰ HOẠCH VÀ MỤC TIÊU GIÁO DỤC VIỆT-NAM
6. Lãnh đạo tối cao của Việt Nam nhận diện ra vấn
đề, họ muốn cải thiện phạm trù giáo dục hiện nay. Người được Thủ
tướng Dũng chọn để đẩy mạnh chuyện này là phó thủ tướng Nguyễn Thiện
Nhân, đồng thời cũng là Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo, một học giả
trong chương trình Fulbright. Ông Nhân đã vạch ra một chương trình
to lớn để tái thiết nền giáo dục quốc gia nhằm đương đầu với những
khiếm khuyết lớn lao hiện nay. Ưu tiên được dành cho chuyện mở rộng
giáo dục toàn diện (đề cao chuyện ghi danh cho nữ giới, dân tộc
thiểu số và những kẻ bị khốn khó, những người cho đến nay vẫn thiếu
vắng trong hệ thống giáo dục), tu bổ lại chương trình huấn luyện
giáo chức, sửa đổi toàn diện gíáo trình quốc gia trong mọi môn,
mọi trình độ, phát triển một chương trình thẩm định và thừa nhận
giáo trình một cách nhất quán, chính thức và toàn diện, thiết lập
một nền học vấn ở môi tầng thứ ba, một đại học được quốc tế công
nhận, cũng như cải tổ phẩm lượng của giáo chức bằng cách cho họ
tu bổ, theo học một chương trình học vấn tiếp nối và cạnh tranh.
Ông ta cũng nhấn mạnh chuyện thu thập một nguồn sinh ngữ - nhất
là Anh văn - cho học sinh, bắt đầu từ tiểu học, cũng như tăng thêm
phần hiệu năng về Tin học. Nhằm thực thi hữu hiệu những cải cách
này, ông cũng nhấn mạnh sự huấn luyện cho các hiệu trưởng, viện
trưởng và phân khoa trưởng và ông cũng yêu cầu nhà nước đầu tư một
ngân sách lớn ở mọi trình độ giáo dục và tăng lương một cách đáng
kể cho giáo chức.
7. Bộ trưởng Nhân cũng bày tỏ một ước muốn không
có tiền lệ: mở rộng nền giáo dục Việt Nam nhờ Hoa Kỳ tham gia trong
quá trình cải tổ. Ông đề nghị cải thiện theo một số mô hình và đường
lối thực thi của Hoa kỳ kể cả có pháp lệnh bắt buộc học sinh phải
đi học, thiết lập một tiêu chuẩn giáo án có chất lượng tối thiểu,
lập phương án thẩm định và phê chuẩn giáo trình toàn quốc, lập kế
hoạch phát triển giáo trình và dự án, thiết lập một hệ thống giáo
dục tổng quát ở cấp đại học bằng cách ấn định hệ số cho các môn
học và thời gian theo học bằng tín chỉ (credit). Hơn nữa, các giám
đốc ở Đại học Quốc Gia Việt Nam đã tìm ra mục tiêu khẩn thiết cho
viên chức và ban giáo sư trẻ của họ, nhất là trong những phạm trù
như quản trị cao học, phương pháp giảng dạy, và Anh văn. Bộ Giáo
dục và Đào tạo cũng đã vạch rõ những mục tiêu tương tự cho lãnh
đạo các trường trung học và đại học. Quan chức cũng cho chúng tôi
biết họ mong muốn các chương trình này được thực thi ở Mỹ.
8. Một thí dụ cho thấy sự cởi mở của Việt Nam, mong
áp dụng mô hình thực hành phương pháp giáo dục của Hoa Kỳ: Bộ Giáo
Dục và Đào Tạo đã cho phép mười phân khoa trong chín trường đại
học được áp dụng toàn bộ chương trình giáo dục của Hoa Kỳ từ trên
xuống dưới, kể cả chương trình giáo khoa, cách thiết lập các môn
học, giáo khoa và ấn phẩm, các phương pháp giảng dạy lấy sinh viên
làm chuẩn, và tất cả các môn học được dạy bằng tiếng Anh. Thí dụ
như đại học Cần Thơ đã rập khuôn áp dụng chương trình Sinh vật phân
tử học cũng như các môn Sinh Hóa học của Đại học Michigan State,
và Đại học Kinh Tế học Quốc gia đã lập Phân khoa Tài Chánh của họ
dựa theo chươmg trinh của Đại học California State ở Long Beach.
Ngoài ra, một chương trình tốt nghiệp với bằng Luật sẽ được khai
giảng tại Đại học Cần Thơ khoá mùa Thu này, chương trình sẽ có một
bước đi khai phá với đường lối, lý thuyết và cách học như vẹt hiện
đang được áp dụng tại các trường Luật ở Việt Nam bằng cách thu nhận
phương pháp học theo từng án lý (vụ án) như các trường Luật của
Tây phương. Chương trình Luật ở Đại học Cần Thơ sẽ được hình thành
nhờ những nỗ lực không ngừng nghỉ của một giáo sư tốt nghiệp Luật
khoa tại Harvard và một đại học ở Hà Lan. Một đại học khai phóng
nữa là Đại học Quốc Gia ở thành phố Hồ chí Minh (VNU-HCMC), một
nơi mà một "Đại học Quốc tế" đã được mở, dùng Anh ngữ
là ngôn ngữ giảng dạy và tất cả các ngành học đều theo mô hình của
Mỹ, Úc hoặc Âu châu. VNU-HCMC mướn nhiều giáo sư Việt kiều (kể cà
người Mỹ) và các giáo sư Việt có bằng quốc tế.
VIỆT-NAM TÌM TRỢ GIÚP Ở CÁC NƯỚC NGOÀI
9. Việt Nam phải đối đầu với sự thâm hụt ngân sách
khoảng $100 triệu Mỹ kim một năm trong việc tài trợ chương trình
giáo dục của họ và họ đang tìm cách thu hẹp khoảng cách bằng cách
tìm nguồn tài trợ quốc tế để trang trải và trợ giúp cho các khâu
cải cách giáo dục. Trong một cuộc họp với Đại sứ Michalak, phó thủ
tướng Nhân yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ giúp Việt Nam cụ thể trong hai
khâu chính, một điều mà ông cho sẽ có ảnh hưởng nhiều đến bang giao
giữa hai nước:
1) Thành lập một đại học Mỹ ở Việt Nam; và,
2) Đào tạo từ nay cho đến năm 2020, 2,500 tiến sĩ (Ph.D.) Việt Nam
tại Hoa Kỳ.
10. Đại học Hoa Kỳ sẽ là một đại học Mỹ xuyên suốt,
với ban quản trị, giáo án, phương pháp và đường lối giảng dạy hoàn
toàn Mỹ. Giáo sư Mỹ sẽ cho biết cần những thiết bị và máy móc gì
và sẽ đảm trách tất cả mọi quyết định về giáo lý và hành chánh nhằm
đảm bảo đại học sẽ hội đủ tiêu chuẩn của Hoa Kỳ. Viện trưởng của
Đại học sẽ là người Mỹ trong vòng 10 năm đầu, và tất cả mọi lớp
sẽ được giảng dạy bằng tiếng Anh. Đại học sẽ, ở một dung lượng tối
đa, thâu nhận từ 5.000 đến 10.000 sinh viên một năm, và sẽ có một
số chuyên khoa (có thể) là 7, kể cả Doanh thương, Quản trị Hành
chánh và Sinh học Công nghệ. Trong mô hình này, mỗi phân khoa hay
ban giảng huấn sẽ được một đại học Hoa Kỳ khác nhau đảm nhiệm. Để
thành lập Đại học Hoa Kỳ, ông Thủ tướng Việt Nam cho biết sẽ dự
tính vay khoảng $100 triệu để mua đất, xây cất các phòng ốc, và
trang bị các phòng thí nghiệm. Ông ta đang trông vào Hoa Kỳ trong
việc tuyển chọn và trả lương cho ban giáo sư và ban quản trị trong
10 năm đầu. Trong kế hoạch này, 80% ban giáo sư sẽ là Mỹ khi đại
học mới khai giảng, con số này sẽ giảm xuống 20 phần trăm sau 10
năm khi những thành viên Việt Nam hội đủ tiêu chuẩn sau khi được
đào luyện xong. Ước tính sơ khởi cho thấy phí tổn cho nhân lực Hoa
Kỳ trong 10 năm vào khoảng 100 triệu Mỹ kim.
11. Huấn luyện 2.500 tiến sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ
nằm trong một chương trình bao quát hơn nhằm đào tạo 20.000 tiến
sĩ, một nửa ở Việt Nam, một nửa ở ngoại quốc. Hoa Kỳ, xuyên qua
Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF: Vietnamese Education Fund), hiện đang
tài trợ du học ở Mỹ cho 70 tiến sĩ Việt Nam mỗi năm, nhưng chỉ nằm
trong các môn chuyên về khoa học kỹ thuật. Do đó Việt Nam đang nhờ
Mỹ viện trợ trong việc tạo ra một hệ thống để tìm ra các trường
Mỹ cũng như gia giảm phí tổn hoặc tìm thêm tiền tài trợ cho 160
thí sinh tiến sĩ mỗi năm hầu có thể đạt được mục tiêu to tát này.
Chương trình du học của Việt Nam hiện nay chỉ tài trợ cho một số
phần hay trọn gói kinh phí cho một số sinh viên này.
12. Thời gian đã chín mùi trong chuyện mở rộng chương
trình trao đổi học vấn với Việt Nam. Lãnh đạo cũng như dân chúng
Việt Nam đều đồng ý cải tổ giáo dục là chuyện tối quan trọng cho
sự tiếp tục phát triển của Việt Nam, họ công nhận hệ thống giáo
dục Mỹ đứng đầu thế giới, chính quyền Việt Nam mong mỏi sự trợ giúp
của Hoa Kỳ, và cả hai hệ thống đại học Mỹ và Việt Nam đều sẵn sàng,
mong muốn thắt chặt hợp tác này. Sự thành công sẽ mang lại lợi ích
ngắn cũng như dài hạn cho mối bang giao song phương khi chúng ta
rập khuôn hệ thống giáo dục Việt với Mỹ,ànhững tác dụng sâu đậm
mà chúng ta đã gặt hái được khi đặt mục tiêu tài trợ đích xác để
cải cách hệ thống quản trị kinh tế của Việt Nam.
13. Đương nhiên chúng ta còn nhiều rào cản phải vượt
qua. Trong khi lãnh đạo chóp bu của Việt Nam đã ủng hộ sự canh tân
có tính cách quyết liệt này, có nhiều người trong nhà nước và Đảng
Cộng sản Việt Nam vẫn còn ngán sợ sự cởi mở và tự do trao đổi ý
kiến, một điều quan yếu phải có trong một hệ thống giáo dục tiên
tiến của thế giới. Tuy nhiên, nếu muốn khắc phục được chuyện cưỡng
lại bước tiến này, không có phương hướng nào tốt hơn ngành giáo
dục. Một bước cản nữa, một chuyện mà hiện nay làm cho Phó Thủ tướng
Nhân nhức óc là phải đương đầu với quyền lợi lâu năm của các giáo
sư và giám đốc hiện nay, những người có quyền lực nhất đã mua địa
vị cho mình với hứa hẹn sẽ được trục lợi và sẽ không để cho người
khác gạt mình qua một bên một cách yên ổn. Nói trắng ra, đây là
lý do tại sao ông Thủ tướng đang kêu gọi một Đại học Mỹ và các tiến
sĩ được đào tạo ở Mỹ. Trước những chống đối mãnh liệt, kế hoạch
của ông là dựng lên các hệ thống song hành với cái cũ, có nhiều
phẩm lượng hơn cái cũ để chứng minh sự băng hoại của những kẻ cố
thủ, muốn ăn dầm nằm dề lâu đời trong các học đường hiện nay. Tiếc
thay di sản của một não trạng quyền lực trung ương là các đại học
đánh giá việc làm của họ duy nhất vào số lượng thay vì phẩm lượng.
Hiện nay, những lời nói và diễn thuyết được tính điểm chứ không
phải kinh nghiệm được giáo dục.
14. Ngoài ra, ta có thể tranh cãi rằng mục tiêu huấn
luyện tiến sĩ của ông thủ tướng mang ý tưởng tốt nhưng đặt sai hướng.
Một chương trình đào tạo nhiều bằng M.A. và M.S. (Master of Arts
và Master of Science: bằng cao học hai năm trước khi tốt nghiệp
tiến sĩ) hơn là Ph.D. có thể gây tác dụng rộng lớn hơn, với nhiều
giáo sư chú trọng vào trình độ mà Việt Nam đang cần nhiều nhất.
Trong khi Việt Nam sau này có thể đi vào những phạm trù cao học
và nghiên cứu, hệ thống giáo dục ngày nay quá tồi dở nên chúng ta
tin rằng mục tiêu 10 năm tới phải được dùng để cải cách nền móng
giáo dục để nó có thể đào tạo những lớp sinh viên sau này có thể
sẽ trở nên những người biết sáng chế và khai phá. Bằng Master là
một trình độ vừa đủ để giảng dạy ngành kỹ sư, và các môn như: Anh
văn là ngôn ngữ thứ hai, kế toán, nông nghiệp và nhiều môn khác.
Một giáo viên có bằng Master và thấu triệt quan yếu của sự tự do
tư tưởng và tham gia của sinh viên trong ngành giáo dục sẽ thể hiện
được cho một sự cải thiện sâu xa hơn phần lớn những giáo sư hiện
nay. Một khi Việt Nam có một số lượng những người được tốt nghiệp
đại học, được đào tạo kỹ càng, đi vào ngành nghiên cứu lúc đó học
vấn sẽ có nghĩa lý hơn.
15. Tuy vậy, người ta có thể vượt qua hay thay đổi
được những rào cản và tranh cãi này trong khi ứng dụng nếu có những
viện trợ đúng mục tiêu. Điều quan trọng là chúng ta nên nắm giữ
lấy cơ hội hôm nay, và triệt dụng cà hai yêu cầu của ông thủ tướng
lẫn sự ngưỡng mộ học vấn nói chung mà người Việt dành cho nền giáo
dục Hoa Kỳ. Nếu chúng ta đi qua cánh cửa mở này, chúng ta sẽ tham
gia, với sự hường ứng rõ rệt của các lãnh đạo cao cấp, một cơ hội
độc nhất để ảnh hưởng sâu đậm vào hệ thống giáo dục của Việt Nam.
Qua các chương trình riêng của chúng ta, cũng như tìm cách cổ động
các hợp tác tư và công, chúng ta có thể đẩy mạnh các mục tiêu của
Sứ Quán bằng cách giúp cho các quan chức và định chế giáo dục Việt
Nam đạt được những mục tiêu sau đây:
- áp dụng giáo trình Hoa Kỳ vào một số ngành nghề;
- thực thi đường lối giảng dạy của Mỹ, như là đề cao những ý tưởng
khai phóng, giải quyết vấn đề, khả năng lãnh đạo thay vì học như
vẹt;
- gia tăng kiến thức về Hợp chủng quốc và định chế Hoa Kỳ qua các
lớp thiên về quốc tế và những môn học Hoa Kỳ;
- cải thiện cách giảng dạy sinh ngữ Anh văn nhằm giúp sinh viên
có thể tự họ thu thập tin tức về Hoa Kỳ và thế giới chung quanh;
- cổ động chuyện du học ở Hoa Kỳ, giúp cho các nhà lãnh đạo lấy
kinh nghiệm đầu tay về giá trị và xã hội Hoa Kỳ;
- mở rộng sự hợp tác sâu đậm với các đại học, công ty và các cơ
quan dân sự Hoa Kỳ;
- và thu thập sự huấn nghệ cần có trong ngành hành chánh giáo dục.
16. Nhằm hiểu rõ và thực thi dễ dàng những nỗ lực
rộng lớn của Hoa Kỳ hiện nay tại Việt Nam, đại sứ Michalak tổ chức
Hội Nghị Giáo dục ở Hà Nội ngày 24-25 tháng Giêng, 2008. Buổi hội
nghị khai phá đó đã quy tụ gần 200 người Mỹ đặt cược vào nỗ lực
cải cách giáo dục Việt Nam - kể cả hơn 100 đại học, công ty và cơ
quan thiện nguyện dân sự Hoa Kỳ với nhiều chương trình giáo dục
đáng kể - nhằm chia sẻ tin tức về sinh hoạt và thử thách của họ
cũng như bàn thảo làm thế nào để sự hợp tác có thể giúp họ thực
hiện mục tiêu giáo dục hữu hiệu hơn. Hội Nghị cũng giúp cho Sứ Quán
tăng triển kiến thức và hiểu biết sâu rộng về các sinh hoạt giáo
dục của các tổ chức công cũng như tư nhân Mỹ, và như thế có thể
hoạch định được một chiến lược tổng quát và hữu hiệu nhằm gia tăng
ảnh hưởng của Hoa Kỳ vào môi trường giáo dục đang biến đổi nhanh
chóng của Việt Nam. Chúng ta cũng khẳng định rằng, bằng cách phục
vụ quyền lợi Hoa Kỳ, chúng ta ta có thể đáp ứng nhu cầu xin Mỹ viện
trợ về giáo dục của lãnh đạo Việt Nam. Một Hội nghị thứ hai, được
trù tính vào đầu năm 2009, cũng nhắm sẽ hội tụ các nhà giáo dục
Mỹ và Việt Nam. Như vậy, hội nghị này cũng trực tiếp ủng hộ kế hoạch
Dịch vụ Thương mại Đối ngoại nhằm phát huy sự kết nối giữa các chương
trình công nghệ của đại học Mỹ và Việt Nam.
17. Dùng những nguồn lực sẵn có và các tin tức thu
thập được ở Hội Nghị Giáo dục đầu tiên, chiến lược giáo dục của
Sứ Mệnh (của Sứ quán Hoa Kỳ) gồm có những phần tử sau đây:
- Chương trình học bổng Fulbright ở Việt Nam: Mỗi
năm, chương trình này gởi khoảng 25 sinh viên xuất sắc, có triển
vọng cao qua Mỹ để theo học bằng Master trong một số các ngành,
kể cả Hành chánh Cao học, đồng thời gởi 10 giáo sư đại học Việt
sang Mỹ để điều nghiên cách cải tiến phẩm chất trong phương pháp
gỉảng dạy của họ. Ngoài ra, một số các chương trình Fulbright khác
gởi khoảng 20 giáo sư và nghiên cứu sinh Mỹ đến các đại học Việt
Nam trong chương trình cải huấn lại giáo án, khai giảng lớp mới
và các chương trình lấy bằng (hầu khi tốt nghiệp sẽ được cấp bằng
của Mỹ), huấn luyện ban giáo sư và những giám đốc hành chánh. Nhằm
mở rộng chương trình Fulbright, Sứ Quán cũng tìm cách tìm các đóng
góp đầu tiên của Bộ Giáo dục và Đào Tạo (MOET của Việt Nam), cũng
như sắp mở một chiến dịch tìm tài trợ từ các công ty Mỹ đang hoạt
động tại Việt Nam nhằm gia tăng nổ lực tiên khởi này. Sứ quán Hoa
Kỳ cũng đang làm việc với Văn Phòng Fulbright của Ngoại giao Mỹ
và những văn phòng khác để bảo đảm là chúng tôi đang theo những
điều lệ nhằm tránh những thủ lợi trong công việc.)
- Quỹ Giáo Dục Việt Nam (VEF) hiện đang cung ứng
khoảng 70 tiến sĩ một năm. Sứ Quán cũng đang tìm cách để mở rộng
chương trình này, trong cả hai mặt: quỹ tiền tài trợ cũng như các
môn học mà nó đang ủng hộ.
- Dạy Anh văn cho thầy cô: Giáo viên giỏi sẽ làm
gia tăng con số sinh viên có thể theo học ở Mỹ và tăng triển phẩm
chất tổng quát trong phương pháp giảng dạy môn Anh ngữ mà hiện nay
rất kém. Xây dựng thêm trên nỗ lực đáng kể hiện thời trong môn này
qua chương trình Anh văn Đồng nghiệp (English Language Fellow) và
các chương trình liên hệ đến Sĩ quan Anh ngữ Trong Vùng (Regional
English Language Officer: RELO), có trụ sở tại Bangkok, Thái Lan,
Sứ Quán yêu cầu và đã nhận được tiền trợ cấp ECA giúp cho 10 người
trợ giáo Anh văn Fulbright (English Teaching Assistants: ETAs),
những người này sẽ bắt đầu làm việc tại 10 đại học vào tháng 9,
2008, mỗi người được dạy một niên khóa. Sứ quán cũng sẽ làm việc
với các quan chức và giáo sư then chốt tạo xúc tác cho sự thành
lập chương trình TESOL đầu tiên tại Việt nam (VietTESOL) sẽ giúp
đào tạo chuyên môn cho các giáo viên Việt dạy Anh văn.
- Một nỗ lực Ngoại giao Công: Chúng ta đang xúc tiến
ở nhiều mặt nhằm khuyến khích một số lớn các sinh viên Việt Nam
có giỏi tận dụng cơ hội theo học các cấp cao học. Nhiều thống kê
liên tục cho thấy Việt Nam nhận thực rằng Hoa Kỳ cung ứng nền giáo
dục có phẩm chất cao nhất, tuy rằng cho đến nay đã có hàng ngàn
sinh viên Việt vẫn tìm cơ hội du học ở Úc châu và các quốc gia khác,
vì họ cho rằng tiêu chuẩn của Hoa Kỳ quá cao, nhất là trong việc
xin chiếu khán xuất ngoại. Chúng ta đang cố gắng đổi thành tích
này bằng cách với tay đến với họ. Những trình bày, chat trên mạng,
và những cố gắng khác để "tìm đến họ" - thường do các
viên chức lãnh sự quán đảm nhiệm - sẽ là điều cần thiết nhằm đảm
bảo một số lớn các sinh viên Việt Nam biết được và tận dụng cơ hội
du học ở Mỹ. Kết quả đáng mừng, với số sinh viên Việt Nam du học
tại Mỹ gia tăng một cách vượt trội.
- Nới rộng chương trình Trao Đổi: Chúng ta sẽ lợi
dụng những chương trình sẵn có để giúp các viên chức đại học có
cơ hội quan sát phương pháp giáo dục của Hoa Kỳ. Đại học Quôc Gia
Việt Nam cho chúng ta biết mục tiêu hàng đầu của họ gồm có chuyện
đào tạo các viên chức hành chánh của Đại học Quốc gia này (Vietnam
National University: VNU) và các giáo sư trẻ trong các lớp quản
trị cao học, phương pháp giảng dạy, và Anh ngữ, tốt nhất là huấn
luyện tại Mỹ . Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào Tạo có ý định gởi một
viện trưởng và một phó viện trưởng của mỗi đại học cũng như một
hiệu trưởng và phó hiệu trưởng của mỗi trường trung học sang ngoại
quốc huấn luyện. Post sẽ tìm cách ủng hộ những chương trình này,
kể cả chuyện sử dụng chương trình Quốc Tế và Người Tình nguyện Thăm
viếng và các đại học Hoa Kỳ nào muốn tiếp nhận những người tham
gia trong chương trình này.
- Chánh phủ Hoa Kỳ ủng hộ các hợp tác công và tư:
Những nhân viên của Sứ quán thường xuyên gặp đại diện các đại học
Mỹ, những người thích khai phóng hay mờ rộng sự hợp tác với các
đại học Việt Nam nhằm cung ứng những chỉ dẫn và tham vấn hay tiền
bạc để trợ giúp các chương trình trao đổi. Hiện nay hơn 60 đại học
Hoa Kỳ đã tham gia hợp tác với các đại học Việt Nam, gồm có chương
trình trao đổi hai chiều giữa giáo viên hai nước và chuyện hợp tác
viết giáo trình, chương trình chuyển trường "2+2" (sinh
viên Việt Nam trong chương trình này học tiếp hai năm cuối cùng
của 4 năm đại học tại một đại học Mỹ và sẽ được cấp bằng của Hoa
Kỳ), và huấn luyện phương pháp giảng dạy cho các giáo sư trong những
phân khoa chuyên môn như Anh văn, ngành y tá, kỹ sư, và doanh thương.
- Dịch vụ Đề xướng Giáo dục Nước Ngoài: USDOC đang
thực thi một chương trình quảng cáo mạnh mẽ, còn chờ chấp thuận
tiền tài trợ, nhằm tiếp tục tạo hứng thú về các định chế giáo dục
cao đẳng của Hoa Kỳ trong thị trường giáo dục Việt Nam. Chương trình
này gồm sự thành lập trang mạng duhọchoakỳ.vn (tiếng Anh là "StudyInTheUS.com")
các trang mạng hội chợ trao đổi, và các sinh hoạt liên quan đến
việc giới thiệu các trường đại học Hoa Kỳ đến với các học đường
Việt có tiếng nhất Việt Nam và những người truy lùng sinh viên giỏi,
và các chương trình tiếp thị và hậu cần cho chương trình hội chợ
giáo dục hằng năm IIE ở Hà Nội và Sài gòn. Chiến dịch quảng cáo
nhằm tăng cường sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ cũng như gia tăng
chương trình giáo dục Hoa Kỳ tại Việt nam. Chú trọng đặc biệt về
các lớp Anh ngữ cấp tốc, các trường đại học cộng đồng và thị trường
các sinh viên sắp lên đại học 4 năm.
- Làm việc Văn Phòng Giao Thương Tiểu bang: Nỗ lực
này nhắm quảng bá lợi ích mà các tiểu bang Hoa Kỳ có thể nhận được
nếu họ trờ nên chủ động hơn trong ngành giáo dục hay thương mại
ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ lấy thí dụ của tiểu bang Oklahoma, là một
trong các cơ quan Mỹ đầu tiên tìm đến sinh viên và cách doanh thương
ở Việt Nam, và hiện nay là tiểu bang đứng thứ ba về số sinh viên
du học từ Việt Nam.
- Hội Nghị Giáo dục Thượng Đỉnh: Sứ Quán đang gởi
hai viện trưởng đại học đến dự Hội Nghị Giáo dục Thượng Đỉnh và
theo dõi sự kiện trong vùng do Ngoại Trưởng Rice chủ trì, Bộ trưởng
Giáo dục Spelling, và giám đốc Fore của USAID đã diễn ra vào cuối
tháng 4, 2008. Qua sự tham gia của họ, chúng tôi hy vọng thấy được
sự gia tăng về số lượng và thứ loại trao đổi sinh viên giữa các
đại học Mỹ và Việt Nam.
HÀNH ĐỘNG CẦN THIẾT: CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MỚI CẦN
ĐƯỢC TÀI TRỢ MỚI CỦA HOA THỊNH ĐỐN
18. Trong khi chúng ta đã đạt nhiều tiến bộ, nguồn
lực lớn hơn sẽ giúp chúng ta đi xa hơn trong mục tiêu này. Ở mức
tối thiểu, chúng ta có thể giúp Việt Nam đào tạo các chuyên gia
và các nhân viên có năng khiếu cần thiết để giữ chuyện phát triển
kinh tế trên đà tiến của nó và nâng cấp dân số ra khỏi sự nghèo
đói của họ. Nhìn một cách bao quát hơn, Hoa Kỳ có cơ hội uốn nắn
hệ thống giáo dục Việt Nam theo một chiều hướng mà về lâu về dài
Việt nam sẽ trở nên dân chủ hơn, trân trọng nhân quyền và tự do
ngôn luận hơn, do đó sẽ bang giao mật thiết với Hoa Kỳ. Trong quan
điểm này, ủng hộ chuyện cải cách giáo dục đồng nghĩa với sứ mạng
cơ bản nhất của chúng ta. Cho nên, chúng ta đã nhận thức rằng những
đề xướng dưới đâ đang cần hậu thuẫn của Hoa Thịnh Đốn:
$3 triệu Mỹ kim trong vấn đề giáo dục đã được yêu
cầu trong bản Kế Hoạch Sứ Mệnh Chiến Lược niên khóa tài chánh 2010
vừa được hoàn tất gần đây. Mặc dù quyết định trong việc xử dụng
số tiền này ra sao chưa được hoàn tất, chúng ta hình dung việc Cơ
quan Phát Triển Quốc Tế của Hoa Kỳ (USAID) sẽ gởi một đội ngũ đến
để lượng định những mục tiêu được nhà nước Việt Nam hoạch định thông
qua Hội Nghị tháng Giêng vừa rồi. Một chuyện chúng ta có thể làm
là phát triển một chương trình cải tổ đường lối giáo dục quốc gia
(VN) ở những khâu như giảng dạy Anh ngữ, đào tạo và thẩm định giáo
viên. Đề nghị này có thể làm theo mô hình STAR của USAID, một chương
trình mà Hoa Kỳ đã gặt hái được nhiều cải cách đáng kể về kinh tế,
cơ chế và pháp lý. Viện trợ nhắm về khâu giáo dục sẽ mang lại kết
quả tương tự, những thay đổi tích cực và đáng kể sẽ giúp Việt Nam
chuẩn bị ngõ hầu được thành công trong nền kinh tế toàn cầu. Ngoài
ra, USAID sẽ tìm cách tăng trưởng những công trình hiện có như STAR,
hầu phát huy chương trình huấn luyện giám đốc và đào tạo lãnh đạo
giáo dục như là một phần của kế hoạch.
- Thiết lập một đại học Hoa Kỳ tại Việt Nam. Như
đã nhắc đến phía trên đây, ủng hộ chuyện xây dựng một đại học Hoa
Kỳ ờ Việt Nam sẽ cần đến $100 triệu Mỹ kim trong vòng 10 năm nhằm
trả lương cho 100 giáo sư Hoa Kỳ và giám đốc.
- Gia tăng tài trợ để giúp quỹ du học Hoa Kỳ và giúp
chính phủ Việt Nam đào tạo 2.500 tiến sĩ tại Hoa Kỳ cho đến năm
2020. Sự ủng hộ của chính phủ Mỹ đối với mục tiêu này có thể sẽ
được thông qua từ chương trình Quỹ Giáo Dục Việt Nam (VEF) nới rộng,
có thể bằng hai cách: tăng tiền cho quỹ VEF cũng như mở thêm những
môn mà sinh viên đang theo học, như đã ghi nhận trong phần 11 trên
đây. Hơn nữa, tiền tài trợ có thể được thu bằng cách mở một Chương
trình Học bổng Tổng Thống tương tự như ở Nam Dương, một nơi mà mỗi
năm đã gởi sang Hoa Kỳ từ 30 đến 40 sinh viên. Một chương trình
tương tự ở Việt Nam có thể làm gia tăng con số sinh viên theo học
chương trình M.A. hay M.S.
- Hội Chợ Dịch Vụ Thương mại Giáo dục Ngoại quốc
ở Việt Nam. Ý kiến này hiện nay được đang được cứu xét, đồng thời
với Dịch Vụ Thương mại Giáo dục Ngoại quốc sẽ xuất cảng những sinh
hoạt tiếp thị, sẽ được xây dựng trên những nổ lực của Sứ quán bằng
cách mang đến Việt Nam những đại học Mỹ muốn thu nạp sinh viên Việt
và gầy dựng những mối tương quan với đại học Việt Nam. Tài trợ cho
những đề xướng của Thẩm Quyền Đào Tạo Trao Đổi (Trade Development
Authority: TDA) liên quan đến chuyện tuyển cử các sinh viên Việt
Nam du học ở Mỹ đã được đề nghị và hợp lý, vì sự "trao đổi
trong dịch vụ" này có thể mang lại hàng triệu Mỹ kim một năm
cho một kỹ nghệ nòng cốt cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ.
- Phát triển của một chương trình đặt trên mô hình
mới của chính phủ Hoa Kỳ "Đề Xướng Giáo dục Phi châu"
(Africa Education Initiative: AEI) thực hiện qua cơ quan USAID.
Trong một thời hạn 4 năm, Hoa Kỳ sẽ cung cấp $400 triệu Mỹ kim để
đào tạo nửa triệu giáo chức và cấp học bổng cho 300.000 thanh niên.
Một chương trình tương tự, rút nhỏ cho thích hợp với mục tiêu của
Việt Nam, sẽ mang lại kết quả rất khả quan.
KẾT LUẬN
19. Nhiều người sẽ đọc thông tin này như một sớ Táo
quân, và có lẽ họ sẽ lắc đầu thắc mắc vì sao một người xếp của Đại
sứ quán lại đưa ra những đề nghị to tát như thế. Rõ ràng rằng đề
xướng của chúng ta phải được cứu xét trong một thế giới với nhiều
nhu cầu tranh giành ảnh hưởng khác nhau. Tuy vậy, tôi hy vọng rằng
độc giả sẽ nhận ra chúng tôi đã thực hiện được những gì với những
tài nguyên giới hạn sẵn có và hiểu thấu đáo rằng chúng ta đang đương
đầu với một cơ hội trọng yếu và hiếm có hôm nay. Những yêu cầu 'khai
phóng' mà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, một người sẽ gặp tổng
thống Bush trong vòng vài tháng tới đây, đã thúc đẩy tôi viết thông
điệp này. Chỉ cần một phần nhỏ ngân quỹ đang tiêu dùng cho những
chương trình và hoạt động khác trong vùng, chúng ta có thể giúp
uốn đất nước này theo chiều hướng sẽ đảm bảo có những ảnh hưởng
sâu đậm và khả quan trong nhiều thập niên tới. Nếu chúng ta muốn
Việt Nam trong năm 2020 sẽ giống Nam Hàn hơn là Trung quốc, ngay
bây giờ là lúc chúng ta phải hành động.
www.danchimviet.com
|