|
Tàu,
Trung Quốc, Địa Danh, Địa Thế Chánh Trị và Việt Nam
Trần Văn Thu
Antony, Noêl 2010
Kính Gởi Quí Vị thuộc giới truyền thông, Quí Vị Lãnh
Đạo tinh thần , Quí Vị Nhơn Sĩ, Quí bạn hữu,
Tôi mong mỏi được Quí Vị vui lòng chấp nhận một
ý kiến nhỏ của tôi trong công cuộc tranh đấu chống cộng sản Việt,
hầu đem nền dân chủ về cho dân tộc, trong các cuộc thảo luận và
bài viết về:
Tàu, Trung Quốc, Địa Danh, Địa Thế Chánh Trị và Việt Nam
Nếu tôi có sơ sót, Quí Vị vui lòng thứ lỗi. Trước hết, Quí Vị cho
phép tôi tự giới thiệu. Năm 1958, tôi tốt nghiệp kỹ sư trường quốc
gia khoa học địa dư của Pháp, khác nhiều với cử nhơn sử địa của
đại học. 1963, tôi về nước làm công chức VNCH. Sau khi ra khỏi tù
cộng sản, 1978-2001, tôi phục vụ Viện Địa Dư Quốc Gia Pháp. Một
trong các nghề của tôi là vẽ bản đồ, trong đó địa danh rất quan
trọng và người Tàu rành sõi nhứt từ ngàn xưa.
Vấn đề địa danh rất quan trọng mà giới hữu trách Việt không hề lưu
ý.
Thày dạy địa danh và địa thế chánh trị của tôi là giáo sư ở trường
khoa học chánh trị, các trường sĩ quan cao cấp của Pháp, và nhứt
là viện lịch sử quân sự thuộc đại học Montpellier. Ta nên dùng danh
từ ´địa thế`, ´thế` trong nghĩa ´cán cân tiềm năng, potentiel`̣,
Danh từ ´địa thế chánh trị` đã được dùng khi Nga bắn Spouknik lên
không gian. Còn danh từ ´địa lý` lại rất đúng ý nghĩa trong ca dao
´thày địa lý té giếng ; có thày địa lý đi đường, ngó nam ngó bắc
bốn phương ngó cùng, ...` Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.
Danh từ ´Trung Quốc`, mà Âu Mỹ dịch là ´Empire du Milieu`, xuất
hiện từ trong những năm 1122-770 trước tây lịch, đời nhà Chu, còn
gọi là ´Tây Chu` của các vua sau Vua Trụ/Đắc Kỹ, đồng thời với ´Hệ
Thống Ba Vòng Đai`(Système des Trois Couronnes). Vòng tròn giữa
là nước của thiên tử. Vòng đai thứ nhứt gồm các nước của vua chư
hầu trung thành bảo vệ thiên tử. Vòng đai thứ hai là gì, tôi đã
quên mất. Vòng đai thứ ba là thuộc địa, hay thuộc quốc, sau này
có Tây Tạng, Tân Cương <Turkestan>, Singkiang, Mông Cổ, Mãn
Châu và … nước của dân tộc Việt chúng ta. Ngoài ba vòng đai là dân
rợ phải phòng ngừa và đánh trị. Lúc bấy giờ, khoa học và kỹ thuật
của Tàu nổi bậc phát triển, sắt, tơ lụa, mộc của vua, đường hoàng
đạo của mặt trời, écliptique….
Lối giữa thời Mãn Thanh, Tàu bỏ lần hồi danh từ Trung Quốc. Nhưng
từ khi thống tướng Tưởng giới Thạch chỉ huy trường võ bị Hoàng Phố,
Ông tái dùng danh từ này một cách mãnh liệt. Ông vẽ bản đồ xứ Tàu
gồm một phần Ấn Độ và Hồi Quốc chạy sâu xuống phía Nam để bao gồm
cả Tích Lan, bên bờ biển phía đông thì Tàu chạy dài từ Đông Dương
xuống Mã Lai và Nam Dương …. Đô đốc Decoux, toàn quyền Đông Dương,
biết vậy nên tổ chức lũy phòng thủ Hà Nội, nhưng đồng minh lại rướt
tướng Lư Hán vào không tốn một viên đạn. Mặt khác Ông Decoux và
hải quân đaị tá Ducroy khuyến khích các bài ca chống Tàu như Hai
Bà Trưng, Bạch Đằng Giang … Đa số tướng tá Trung Cộng là do Ông
Tưởng Giới Thạch đào tạo với tư tưởng đó và họ sẽ áp dụng về sau
khi họ thờ chúa khác.
Cộng sản Hà Nội cố ý giải thích Trung Quốc là rút ngắn của Cộng
Hoà Trung Hoa Dân Quốc, nhưng tại sao lại không rút ngắn thành Cộng
Quốc ?
Danh từ ´Trung Hoa` không phải chánh thức trong chánh quyền, mà
chỉ là do một số sĩ phu muốn nói nước Tàu là ´trung tâm tinh hoa`
của nhơn loại, tôi đã quên tiếng Pháp dịch ra là gì.
Danh từ ´Tàu` được tổ tiên ta dùng từ lúc nào, tôi không rõ. Tuy
nhiên, danh từ ´Chine` được Pháp dùng trước nhứt ở Âu Mỹ, là phiên
âm từ tên Tàu ´Ts`in` chỉ định nước Tàu, Nếu trí nhớ tôi còn tốt
thì tên Pháp của vua Tàu lúc bấy giờ là ´Tcheng`<Thủy Hoàng Đế
221-206 trước tây lịch ?>, Vua đó vừa dẹp xong Chiến Quốc, Tề,
Tấn, Tần, Tống, Sở, Ngô, Việt, lấy tên của triều đại mình ´Ts´in`<nhà
Tần ?>, mà đặt cho xứ sở thống nhứt. Và nếu tôi có thể lầm, thì
người Pháp đã dùng tên của triều đại ´XIA` <nhà Hạ>, trước
nhà Thương/Vua Trụ, nhưng tôi không nghĩ vậy.
Giới địa thế chánh trị Pháp đã tiếc dùng danh từ ´Viễn Đông` dịch
từ tiếng Anh. Danh từ đó có nghĩa là ´phần lãnh thổ của hoàng gia
Anh ở biệt mù xa xôi phía đông Luân Đôn`. Lúc bấy giờ, Pháp có ´Hòn
ngọc Viễn Đông/SàiGòn, nhượng địa Viễn Đông ở bên Tàu … Giới này
âm thầm từ từ xoá bỏ danh từ đó. Pháp có thể gọi một nước là Grande
Bretagne không hề gì, vì Pháp có vùng Bretagne.
Khi chúng ta gọi ´Đại Hàn` để chỉ định Nam Triều Tiên hay Nam Cao
Ly, chúng ta khúm núm tự cho nước mình là tiểu quốc.
Khi chúng ta gọi Xiêm La là ´Thái Lan`, mặc nhiên ta nhìn nhận một
vùng da beo không nhỏ của Bắc Việt có những đốm cư ngụ của người
Thái <trắng và đen> thuộc nước Xiêm La như thống chế Phibul
Songram đã đòi trong đệ nhị thế chiến với sự hổ trợ của Nhựt Bổn.
Không có một sách lịch sử Việt và Pháp nào nhắc đến việc đó. Lúc
bấy giờ, Xiêm La đánh phá ranh giới phía tây Đông Dương với khí
giới Nhựt Bổn tối tân hơn của Pháp. Xiêm La lại nhận chiến hạm tối
tân của Nhựt Bổn và của Y Pha Nho vì tướng Franco thân Đức, với
lịnh thay mặt Nhựt Bổn tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương của Pháp.
Đô đốc Decoux, toàn quyền Đông Dương ra lịnh cho hải quân đại tá
Béranger ra tay trước khi thuỷ thủ đoàn của Xiêm La được huấn luyện
thuần thục. 1943, nhờ bất ngờ, chiến thuật cao kỳ và nhứt là pháo
binh xuất sắc, trong vài giờ đồng hồ, vài chiếc tàu cũ kỹ của Pháp
đã đưa xuống đáy biển Kok Chang toàn hạm đội Xiêm La. Nhựt Bổn nhảy
vô can thiệp, chia trái quít làm đôi, Pháp đành nhượng hữu ngạn
sông Cửu Long bên Lào và hai tỉnh của Cao Miên cho Xiêm La và được
giữ lại đất Thái của Bắc Việt. Xiêm La thua trận giặc mà lại thắng
lãnh thổ, lạ kỳ. Vua Luang Brabang buồn bỏ ngôi, Ông Decoux phải
gom ba vương quốc Luang Brabang, Vientiane, Paksé và phần Cánh Đồng
Chum của nước Việt lại để tặng và giữ vua Luang Brabang trên ngôi.
Tuy nhiên, cả thế giới phớt lờ vấn đề tên XiêmLa/Thái Lan. Cá nhơn
tôi được biết chuyện đó. Lối năm 1960, tôi đã tốt nghiệp trường
địa dư, tôi xin yết kiến đô đốc Decoux. Ông bận du lịch ngoại quốc
và Sở Lịch Sử Quân Đội gởi tôi đến núi Alpes, gia đình Bà Decoux
1, rất tiếc không có mặt Bà, với một số tướng tá thân cận lục và
hải quân vui mừng niềm nở tiếp đón nuôi tôi trong mấy ngày. Họ mong
tôi mang về Việt Nam cuộc nói chuyện đó. Xin nhắc lại Bà Decoux
1 đã chết tai nạn trên đường Sài Gòn Đà Lạt khi đi can gián ghen
tương Hoàng Hậu Nam Phương với Hoàng Đế Bảo Đại..
Trở lại địa danh của nước Việt yêu dấu. Rất nhiều địa danh của ta
chứng tõ ta không hiếu chiến mà cần cù, làm ăn, yêu hoà bình … như
: Thái Bình, Hoà Bình, Bình Định, Gia Định, Bình Hoà …. Tuy nhiên,
khi ai cũng biết dân tộc ta xưa kia ở phía Bắc xa xôi, bị xua đuổi
lần về phía Nam, mà tên nước ta lại mang thêm chữ ´NAM` như An NAM,
Việt NAM thì ta hãy suy nghĩ Vua ta mong muốn gì ? Hãy xem lại danh
từ ´Viễn Đông`, và ´Thái Lan` kể ở trên. Càng tự đặt mình tham chiếu
kẽ khác là càng tự lệ thuộc, cho nên người Tàu cứ xem như ta tự
tình nguyện chấp nhận đô hộ của họ.
Khi người Anh đến làm bản đồ Biển Đông cho tàu bè lưu thông, họ
xin Vua ta biệt phái một thông ngôn, tôi không còn nhớ Vua nào.
Vua ta từ chối, nghĩ rằng Anh muốn xâm chiếm đất nước. Vì thế, Bà
Vua Tàu, tôi đã quên tên, cho họ một thông ngôn. Tên này mới cho
người Anh tên Nam Hải /Mer de Chine du Sud thay vì Biển Đông và
nhiều tên Tàu cho các cù lao của ta để người Anh phiên âm.
Địa danh là đầu cầu từ phong cảnh bề mặt im lìm bất động nhìn thấy
bước qua địa thế chánh trị nghĩa là mặt trái đầy sôi động luân chuyển
của tấm bản đồ. Người Tàu là bậc thầy từ ngàn xưa, trước SUN TZU
?. Địa thế chánh trị mà mỗi nước tự tìm áp dụng hiện nay chỉ là
sự biến đổi cho hạp thời thế, võ khí mới, tâm lý mới , …, của ba
địa thế chánh trị căn bản của ba vị tuy không địa vị cao, sống ẩn
dật, nhưng tài cán bậc thầy khiến các quốc trưởng phải theo, nhưng
không đề cao họ. Hiểu biết sâu rộng nhứt của các Ông này là Địa
Dư, hình thể, kinh tế, hầm mỏ, nhơn sự, tuy họ là quân nhơn. Ta
phải biết rằng chính quân đội tìm ra địa dư và đã dạy từ lâu trước
khi dạy lan rộng ra quần chúng.
Người mà ta thường nghe nói nhứt, tưởng cao tay nhứt là tướng tài
prussien Clausewitz năm 1800, Ông tổ chức quân đội Đức mà Nga bắt
chước theo, thắng Pháp, viết nhiều sách chiến lược thực tiển. Clausewitz
chưa tới hạng ba vị trên.
Vị thứ nhứt là SUN TZU bên Tàu, thế kỷ thứ 5 trước tây lịch. Điểm
mạnh của Ông này là tâm lý chiến trên địa thế chánh trị. Sách của
Ông còn được dạy ở các trường quân sự Âu Mỹ ngày nay. Bài học của
Ông được cộng sản áp dụng mãnh liệt, thời chiến nóng như thời chiến
lạnh, ´bất chiến tự nhiên thành`, đối thủ ´hồ hởi phấn khởi` tự
nạp mình vô rọ. Người áp dụng xuất sắc nhứt là Khổng Minh thời Tam
Quốc.
Vị thứ nhì là Đề Đốc Mac Mahan của Huê Kỳ. Ông chưa hề chỉ huy chiến
hạm, chỉ dạy học ở trường Hải Quân, viết sách trao đổi kinh tế trên
thế giới. Ông chủ trương Huê kỳ phải làm giàu bằng chiến lược đường
biển. Ông nghĩ ra và Chánh Phủ thực hiện bước đầu tiên là tiêu diệt
hạm đội Y Pha Nho ở Cuba và ở Phi Luật Tân, mặc dầu hạm đội Y Pha
Nho tối tân và mạnh hơn Huê Kỳ nhiều. Ngày nay, cả thế giới đều
áp dụng nguyên tắc địa thế chánh trị đường biển của Ông với vài
thay đổi cho hạp vị trí mỗi đất nước.
Vị thứ ba là tướng Hausshofer của Đức. Ông ốm yếu không ra vẽ tướng
này đã tìm ra địa thế chánh trị lục địa, áp dụng thứ nhứt là chiến
lược ´TRỤC`, Đồng Minh gọi là ´Axe`, liên minh Đức, Nga, Nhựt Bổn,
trước hết là để tìm được nguyên liệu để đánh giặc. Đồng minh rất
sợ chiến lược của Ông và biết họ sẽ thắng trận khi Hitler nghe dèm
pha, gởi Ông sang làm cố vấn cho quân đội Nhựt Bổn. Hitler bỏ Nga,
bắt tay với Ý để trực tiếp tranh với người Anh bên Phi Châu. 1945,
mặc dầu tướng Hausshofer không đáng là tội phạm chiến tranh, song
đồng minh vẫn có lý do treo cổ Ông để tiệt hậu hoạ.
Chúng ta sống trên đất Pháp, chúng ta cũng nên biết người Pháp cũng
có một vị Đô Đốc thông hiểu địa thế chánh trị cao, áp dụng trong
chiến lược bảo vệ ranh giới phía Bắc lãnh thổ ta và đã anh dũng
tử trận cho công cuộc đó. Sử Việt không có viết. Đó là Đô Đốc COURBET.
Tuy thuộc binh chủng hải quân, nhưng Ông đã thắng quân Cờ Đen huy
hoàng trên đất liền, một chống mười, tại Tuyên Quang, ghi danh trong
sử quân sự. Vua Tàu tiếp tục sai Cờ Đen phá khuấy mãi bằng du kích,
Ông từ chức tư lịnh lục và hải quân ở Bắc Việt và xin được chức
tư lịnh 2 sư đoàn hải quân qua phạt Vua Tàu. Ông đánh chìm tất cả
chiến hạm và phá nát các hải quân công xưởng mà người Đức dài công
cung cấp và xây dựng cho Tàu. Vua Tàu mới chấp thuận ký Hoà Ước
Thiên Tân bảo đảm biên giới Bắc Việt. Vua Tàu bỏ Lưu Vĩnh Phước
Cờ Đen chạy sang Đài Loan. Đô Đốc Courbet đuổi theo, đổ bộ lên đảo
này, nhưng vì không biết địa dư và khí hậu địa phương, Ông tử trận
năm 1885.
Tôi xin kể thêm. Lưu Vĩnh Phước được thổ dân bầu
làm Tổng Thống, vị Tổng Thống do dân bầu cử tự do đầu tiên ở Á Châu.
100 ngày sau, Nhựt Bổn đổ bộ, giết tất cả Cờ Đen, Nhựt xem dân bổn
xứ Đài Loan ngang hàng dân Nhựt, và giữ đảo này đến 1945. 1949,Thống
Tướng Tưởng Giới Thạch chiếm đảo và hành hạ trả đủa dân địa phương.
Tôi xin phép kể thêm nữa, Trung Tướng SIMON, chủ
tịch ANAI, Association Nationale des Amis de l`Indochine, có Ông
Nội là một trong các sĩ quan địa dư đầu tiên, tiền thân của kỹ sư
địa dư ngày nay, hơn 100 năm trước, đã cùng với sĩ quan Tàu cắm
mốc ranh giới giữa hai nước theo Hoà Ước Thiên Tân.
Tôi viết vài trang giấy trên để dâng lên cho tất
cả Quí Vị thuộc giới truyền thông, Quí Vị Lãnh Đạo tinh thần, Quí
Vị Nhơn Sĩ, Quí bạn hữu, với lời cầu xin lưu ý chiến tranh ngậm
giấm của người Tàu. Họ vẫn còn áp dụng tâm lý chiến của SUN TZU.
Ngoài ra, tôi xin Quí Vị vui lòng phổ biến.
|