|
Sự công bằng và nền
pháp trị
Huỳnh
Thục Vy
Thành
viên NTHF
Cách
đây vài ngày, tôi đã nhận được tin vui từ một người bạn học thời
phổ thông, anh ta vừa được nhận vào làm trong một tập đoàn truyền
thông có tiếng trong nước. Anh này học hành cũng không giỏi giang
gì, chỉ vì gia đình anh có công với “cách mạng” nên được ưu đãi
thôi. Rồi mới hôm qua đây tôi lại nhận được một tin kém vui từ người
bạn gái mà tôi yêu mến nhất, cô ấy tốt nghiệp loại khá nhưng vì
lý lịch không được tốt và lại là con gái nên đã không được nhận
vào làm ở vị trí công việc vẫn thường dành cho nam giới. Tôi thật
không biết phải làm sao để vừa vui cho một người trong khi phải
chia buồn với một người khác!
Ở Việt Nam hiện nay tồn tại một vấn đề hết sức đáng lo, đó là sự
bất công hiện diện khắp mọi nơi không những trong đời sống xã hội,
trong tâm thức của người dân, và cả trong hệ thống luật cũng như
trong cách thức thi hành luật. Cùng với các vấn đề khác trong xã
hội, tình trạng bất công ngày càng nổi lên như một hiện thực nan
giải, mà hệ lụy của nó đối với đạo đức xã hội và nền văn hóa thật
đáng ngại. Thiết nghĩ, khi mọi giềng mối xã hội và đạo đức đều bị
lung lạc, may ra ta còn cứu vãn nổi bằng lẽ công bằng, thế nhưng
tầm quan trọng to lớn của nó ngày hôm nay vẫn chưa được nhận thức
đúng cả trong nền văn hóa và cả trong nền chính trị.
Công bằng là một quan niệm đạo đức căn bản của nhân loại. Nó cũng
là một trong những tiêu chí của chủ nghĩa tự do, là biểu hiện đặc
trưng của những nền dân chủ pháp trị trên thế giới, và cũng là một
giá trị tinh thần tốt đẹp cho xã hội mà những người Việt tâm huyết
với đất nước đang cố tâm theo đuổi.
Một xã hội không thể
được xem là văn minh, tiến bộ nếu ở đó không hiện hữu sự công bằng.
Sự công bằng vốn gắn liền với tinh thần đạo đức, giáo lý tôn giáo
và pháp luật, vì thế ảnh hưởng của nó là vô cùng to lớn đối với
đời sống vật chất và tinh thần của từng cá nhân, và của toàn xã
hội. Công bằng là ngay thẳng, không thiên vị trong cách hành xử
và đối đãi giữa các cá nhân nói riêng hay là sự hài hòa, cân đối
của nền luật pháp xã hội nói chung. Quan niệm về tính công bằng
được đặt trên nền tảng triết học nhân bản. Vì rằng mỗi con người
sống trên thế giới đều mong muốn thọ hưởng những điều tốt đep, những
gì người này mong muốn thì người khác cũng ước ao, thế nên cái gì
mình căm ghét thì cũng tuyệt đối không thể mang đến cho người khác.
Trong mối quan hệ giữa
người với người, sự công bằng trở thành một yếu tố mang lại sự hài
hòa và đồng thuận. Còn trong nhãn quan vĩ mô toàn xã hội, điều này
đóng vai trò xoa dịu xung đột, ổn định xã hội và bồi dưỡng đạo đức.
Sự công bằng có thể được xem xét dưới hai bình diện khác nhau. Thứ
nhất đó là tính công bằng trong nền văn hóa được thể hiện trong
đạo đức xã hội, phong tục, tập quán. Thứ hai là tính công bằng của
nền luật pháp. Thế nhưng hai phạm vi ảnh hưởng này lại có mối quan
hệ tương hỗ sâu sắc. Một nền văn hóa mang những yếu tố thể hiện
sự công bằng sẽ cùng với những thiết chế khác trong xã hội thúc
đẩy việc xây dựng một nền luật pháp công bằng. Ngược lại hệ thống
luật pháp công bằng đó lại có tác dụng tạo điều kiện và nuôi dưỡng
tinh thần tôn trọng công bằng trong xã hội.
Tình yêu thương con người
được nhắc đến nhiều trong các giáo lý tôn giáo như lòng “từ bi”
của đạo Phật, tinh thần “bác ái" của Cơ Đốc giáo, và chữ “nhân”
trong Khổng giáo. Người Việt chúng ta từ xa xưa cũng luôn ca ngợi
và xây dựng nhân cách con người trên nền tảng những chuẩn mực đạo
đức tốt đẹp như thế. Nhưng nếu khi người ta chỉ biết yêu thương
bản thân và gia đình họ, sẵn sang làm phương hại đến lợi ích của
người khác thì đạo đức đối với anh ta sẽ chỉ là những điều vô nghĩa,
lúc đó sự công bằng đóng vai trò quyết định. Anh có thể không yêu
thương người đồng loại, nhưng vì anh vẫn là một cá thể của xã hội,
anh phải có nghĩa vụ chấp nhận những quy tắc chung đem lại sự công
bằng cho tất cả mọi người; nếu không anh sẽ bị trừng phạt. Đó chính
là lối cư xử của con người trong xã hội có sự quản lý của quyền
lực nhà nước.
Nước ta là một tiểu quốc
nằm bên cạnh Trung Hoa, một quốc gia có nền văn hóa đồ sộ. Sang
thế kỷ 10, dù đã thoát khỏi hơn 1000 năm Bắc thuộc đen tối, nhưng
tư tưởng của nền văn hóa Khổng giáo vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến văn
hóa Đại Việt cho mãi tận đến nửa đầu thế kỷ 20 khi dân tộc Đại Việt
tiếp xúc sâu rộng với nền văn hóa Phương Tây ảnh hưởng đó mới bắt
đầu phai mờ dần.
Theo Nho giáo, trong
năm điều thường hằng cần phải có (ngũ thường) của những bậc mày
râu được gọi là “quân tử” có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; thì chẳng
có một từ nào dành để ca ngợi tinh thần công bằng cả. Trong tất
cả các giá trị đạo đức của nền văn hóa Đại Việt ta, tính công bằng
thể hiện khá mờ nhạt.
Nho giáo là triết học
chú trọng “đức trị”. ”Đức” hay đạo đức tất nhiên là những “khuôn
vàng thước ngọc” trong cư xử của con người, nhưng thế giới đâu phải
toàn người tốt. Nên trong việc quản lý một xã hội bằng quyền lực
nhà nước,”đức trị” không phải là phương pháp đủ tốt để trở thành
phương tiên chủ yếu nhằm đạt đến một xã hội hài hòa. Hơn nữa, văn
hóa Nho giáo vốn hàm chứa nhiều yếu tố và triết lý tiềm ẩn sự bất
công và ràng buộc con người, điều này có thể được minh chứng trong
nhiều phương diện. Một số nhà cai trị ở nước ta còn ảnh hưởng tư
tưởng của phái Pháp Gia, mà tiêu biểu là Hàn Phi Tử. Thế nhưng trong
cái nền chính trị “dụng pháp trị”, tức là chỉ “dùng luật để cai
trị” ấy cũng có một câu nói nổi tiếng: “lễ bất hạ thứ dân, hình
bất thướng đại phu”. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho nền chính
trị chỉ dùng luật để cai trị người dân (rule by law), chứ những
hình phạt của pháp luật kia chẳng thể động đến những người thuộc
tầng lớp trên của xã hội. Từ đó, nó tạo ra những loại ý thức xã
hội mâu thuẫn, hẹp hòi và đầy bất công.
Cùng với nền chuyền chế
tập quyền phong kiến nước ta cũng như nhiều nước phương Đông khác,
qua nhiều thế kỷ, vẫn không xậy dựng được một hệ thống luật pháp
công bằng. Vì dù luật pháp khoát cái danh hiệu biểu trưng cho sự
công bằng,nhưng nếu bản thân nó được tạo ra từ thể chế độc tài chuyên
chế thì nó chẳng thể công bằng được, có nghĩa là nó chỉ được dùng
để cai trị người dân và bảo vệ địa vị của giới cầm quyền chứ không
phải để bảo vệ sự công bằng. Theo tôi, công bằng nếu không phải
là đức tính tốt đẹp được coi trọng hàng đầu thì cũng xứng đáng với
vị trí thứ hai. Vì khi những đạo đức đáng ca ngợi kia đã bị tha
hóa và không còn được tôn trọng nữa, thì tinh thần công bằng sẽ
vẫn có thể phát huy sức mạnh của nó. Cái chúng ta cần chính là một
nền pháp trị thực thụ vì nó là phương tiện để đạt được sự công bằng
rộng rãi toàn xã hội.
Với tất cả những hệ lụy
của nền văn hóa bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa từ thời trung
cổ phong kiến cho đến những khuyết tật của kiểu văn hóa Marx-Lenin
thời kỳ cai trị của đảng Cộng Sản, người dân ta cho đến nay vẫn
chưa thể hình thành rõ ràng những ý niệm về sự công bằng giữa người
với người trong xã hội hiện đại và văn minh. Còn xét về mặt thể
chế, chúng ta cũng chưa thọ hưởng được một nền luật pháp công bằng,
với đầy đủ tất cả các cơ cấu xã hội đảm bảo cho tính công bằng của
nó....Làm sao người ta có thói quen tôn trọng lẽ công bằng và thực
hiên sự công bằng trong xã hội khi chưa bao giờ được sống và nhận
được sự bảo vệ từ một hệ thống luật công bằng?!
Đối với nền văn hóa Tây
phương, tôi có một sự thích thú đặc biệt cũng chính bởi tính tôn
trọng công bằng của họ. Dù cho đến thế kỷ 18, những lý thuyết về
chủ nghĩa phóng khoáng mới thực sự hoàn thiện; và từ đó họ đã mất
khoảng thời gian gần hai thế kỷ để có thể xây dựng những nhà nước
dân chủ thực sự đầu tiên trên thế giới; nhưng người phương Tây với
nền văn hóa khai phóng hơn nhiều so với nền văn hóa phương Đông
cùng với những điều kiện lịch sử đặc thù đã tạo lập được những hệ
thống luật pháp khá hoàn chỉnh từ lâu. Nói cách khác,trước khi có
được nền dân chủ tự do có thể nói là hoàn chỉnh như ngày nay, họ
đã có được một nền pháp trị đáng ngạc nhiên.
Điều mà cho đến nay,
đối với người dân Việt Nam vẫn còn là niềm mong ước. Thực ra,việc
xây dựng một hệ thống pháp luật công bằng,minh bạch, làm nhiệm vụ
thực thi công bằng xã hội và bảo vệ công lý phải tốn một khoảng
thời gian nhất định và những điều kiện chính trị xã hội cụ thể,
chứ không phải đơn giản chỉ là một vài sửa chữa mang tính tiểu xảo
trong Hiến pháp, cùng với việc tách Tòa án ra khỏi Hành pháp và
Lập pháp như những việc mà nhà cầm quyền Việt Nam đang dự định làm.
Muốn có được nền pháp
trị - rule of law (chứ không phải pháp quyền_rule by law) - để từ
đó xây dựng được một xã hội tôn trọng lẽ công bằng, chúng ta có
rất nhiều việc phải làm. Từ việc xây dựng một bản Hiến Pháp dân
chủ,thực hiện tam quyền phân lập (chứ không phải “tam quyền thống
nhất”), một chính phủ hành pháp hiệu quả, đến xã hội dân sự mạnh
mẽ, linh hoạt. Đây cũng là những điều kiện chủ yếu của một chế độ
chính trị dân chủ. Thiếu một trong những tiêu chí này thì nền dân
chủ tự do không thể hiện hữu theo đúng nghĩa của nó.
Có lẽ sự công bằng không đẹp đẽ như lòng nhân ái, cũng không sáng
giá như trí tuệ, nhưng nó lại có thể giúp chúng ta yên tâm sống
một cách tự do trong xã hội mà không sợ bị ngược đãi. Hiểu được
ý nghĩa to lớn của nó đối với đời sống và sự tiến bộ của con người,chúng
ta mới có động lực để có những hành động thích hợp. Thế nhưng theo
cách nhìn chủ quan của tôi, các bạn trẻ Việt Nam hiện nay ít quan
tâm đến sự công bằng trên cả bình diện đạo đức và luật pháp. Trong
giới hạn bài viết và trình độ của người viết, tôi chỉ hi vọng có
thể nêu ra một vài ý kiến nhằm gợi mở một cách nhìn, khác với những
gì các bạn đã và đang có.
@Bài do tác giả gửi ngày 9 thang 7
năm 2010
|