|
BÁCH VIỆT SỬ:
NHỮNG LỚP BỤI MỜ CỦA LỊCH SỬ (1)
Đỗ Thành
LGT. Trân trọng giới thiệu với quí
vị và các bạn, anh Đỗ Thành là người Triều Châu ở Việt Nam, hiện
định cư tại Hoa Kỳ mà tôi vừa quen biết qua “mối tình văn hoá”.
Anh có hiểu biết sâu sắc về quan hệ Việt Hoa tuy anh không viết
tốt lắm tiếng Việt. Tôi đã khuyến khích anh cứ viết ra rồi tôi sẽ
sửa lại để người đọc hiểu được anh muốn nói gì. Tuy không có thời
gian để sửa chữa cho hoàn bị bài viết của anh, tôi chỉ sửa được
phần lớn những lỗi chính tả thông thường còn cấu trúc câu văn và
ý của tác giả được giữ nguyên vẹn. Kính mong quí vị dành cho Đỗ
Thành một tình cảm trân trọng để khuyến khích anh góp phần vào việc
làm sáng tỏ nguồn gốc dân tộc Việt.
Haǹg hàng lớp lớp bụi mờ phủ lên trên bề dầy lịch sử Bách Việt...
Người Việt Nam ngày nay khi viết chử Việt với
dần A B C thì người ta gọi là chử Việt , khi người ta gập chử
tượng hình 越 (Việt ) thì đa số người ta nói là chử Tàu ! Người
Quảng _Đông ngày nay khi viết 2 chữ 越 南 ( Việt Nam ) thì họ đọc
là "Duyệt -Nàm" , và khi phát âm đọc lên 2 chử đó theo
giọng nói địa phương Quảng Đông thì họ gọi tiếng của họ là Việt
Ngữ...; Xin kễ 1 Chuyện xảy ra hiện nay tại 1 trường Đại học
ở Califronia -USA : Một sinh viên người Việt Nam biết chút it́
tiếng Quảng Đông , Tự giới thiệu mình với một sinh viên đến
từ Tỉnh Quảng đông -Trung Quốc rằng : "Ngọ hầy Duyệt-Nàm
dành " (Tôi là người Việt Nam) , Người Sinh Viên kia cũng
tự giới Thiệu : "Ngọ hầy Duyệt dành" (Tôi là ngườ Việt)
; thế là người sinh viên Việt Nam ngớ ngẩn !!! ...Hả ?...Uả ?
sao kỳ Vậy ??? ...tuổi trẽ ngày nay it́ biết được lịch sử Bách
Việt , ...nhiều người lớn tuổi mà còn không biết ! vì không
muốn biết , vì không được biết v v...thì nói chi đến lứa tuổi
sinh viên hiện giờ ! vì sao ??? đó là vì có sự Ngộ Nhận "Hoa-Hạ"-
"Hán" và "Việt" ...
Từ khi nào thì có chuyện người ta tự xưng là "Hoa-Hạ"
hay "Hán" tộc ???
_Điều nầy khá phức tạp , nếu như thiếu dẩn chứng
hoặc trình bài qúa ..."đơn sơ" ! thì khó thuyết phục
!
Hôm nay tôi tìm cách trình bài những trường thiên
dài lê thê của mấy ngàn năm bằng cách ngắn gọn , nhưng, củng phải
kể ra những chi tiết quang trọng theo tuần tự -Những chi tiết
sẽ được trình bài rỏ ràng theo từng bài khảo cứu tiếp theo sau
nầy ; rất mong qúi vị ...cũng như tôi sẽ cố gắng để khảo cứu
thêm chi tiết và viết thành nhiều bài đễ công bố online...
1 cách khoa học và nghiêm túc
Khảo Cứu :Những chi tiết quang trọng...thời Cổ
sử và Cận đaị
-Cổ thư được gọi là "Việt Tuyệt ký"
hay "Việt Tuyệt Thư"(*thời Xuân -THu chiến quốc :
trước Sử Ký của Tư Mã Thiên ) , Trong đó ghi chép Vua Việt là con
cháu của vua Vủ thuộc triều nhà Hạ ; Việt Tuyệt thư viết bằng
chữ tượng hình như "Việt cổ Văn" và "Trung Văn"
, ngày nay , sách phải dùng bằng bản phiên dịch qua Trung -Văn bởi
những học giả Việt Học xưa nay , vì cổ Việt văn có 1 số từ ngữ
của Cổ ngữ mà ngày nay người ta sẽ khó hay không hiểu khi đọc
! ...Ví dụ chử "Cuấy" hay "Cuây" là "Hội"
, "kây " là "kế"; "cuấy kây" chính
là "hội-Kế" , "Cuấy -kây"...mà viết theo
chử tượng hình xưa thì mấy ai biết được bây giờ ? Đa số sẽ đọc
là "Hội -kế" , (Lại có 1 giọng Cối -kê = Cuấy Kây
=Hội-Kê ..là Hàn -Châu ngày nay ) , chử 會計( Hội-Kế ) là : 會稽
ngày xưa , Chử "Hội" với chử " kế "nhưng lại
đọc là Cuấy-kây với dần "C-hay K " đó là nét đặc biệt
của vùng Giang Đông và Phiên Ngung ( bên bờ biễn đông -Thái Bình
Dương ) ; nhờ Việt Tuyệt Thư mà sau nầy "Sử Ký" (Cuả
TƯ MẢ THIÊN )và nhiều sách sử khác có tài liệu về nguồn gộ́c
Bách Việt bên cạnh những truyền thuyết...
Truyền thuyết ...***Đế Nghiêu truyền ngôi cho
Đế Thuấn , Đế Thuấn truyền ngôi cho Vua Vủ , Vua Vủ lên ngôi
rồi truyền ngôi cho con là "Khải" : lập nên triều
"HẠ" , triều Hạ là của Việt tộc : VIỆT TUYỆT THƯ
chép rằng bởi vì "Vua Vủ được chôn cất ở Mao Sơn ̣(Cuấy kây-
Hội kê ) , con cháu trong nhà phải có người theo ở đó đễ giử đất
mộ của Vủ gia cho tròn đạo hiếu , và rồi lập ra Việt Quốc
." ; vậy , theo VIỆT TUYỆT cổ thư : Hạ và Việt là 1 nhà
, đả là 1 nhà thì "Hạ " ngữ hay "Việt " ngữ
là 1 , Có ai cần tranh luận điều nầy không ?
..chú ý : Nghiêu , Thuấn , Hạ là Truyền Thuyết ..., nhưng "Việt
Tuyệt thư" là cổ thư thời Xuân Thu - chiến Quốc được lưu
lại cho đến ngày nay mà nội dung được ghi chép thật rỏ ràng ,
cổ thư nầy mang tên "Việt Chép" và chép lại sử Việt
; sau nầy "Hoa"văn không có chử "chép " nên
dùng chử "Choẻ , choé : 絕jue "/ đọc theo Hán -Việt ngày
nay là "Tuyệt "... có phát âm na ná đễ thay chử "chép"
; Xin đón đọc : sẽ nói rỏ về VIỆT TUYỆT THƯ ở những bài khảo
cứu tiếp theo sau nầy ; Việt Tuyệt Thư và những chử viết được
khắc trên xương ( Giáp cốt văn )và những đỉnh bằng kim loại đồ
đồng ( Chung Đỉnh Văn ) thời nhà Thương và Chu mà khảo cổ học
phát hiện đã bổ sung và minh chứng cho truyền thuyết , và vì
vậy Việt Tuyệt thư càng thêm giá trị .
Triều Hạ bị lật đỗ bỡi Triều Thương , Thương
là con cháu của Đế Nghiêu , lấy họ Chử , người Việt không xa
lạ với họ Chử qua câu chuyện "Chử Đồng Tử "...,Thương
không phải là Việt tộc ??? hay là Việt tộc ??? ( Xin xem bài
tiếp theo )-Đọc giã sẽ tự có câu trã lời : Vì Đế Nghiêu truyền
ngôi cho đế Thuấn , Đế Thuấn truyền ngôi cho vua Đại Vủ cuả
nhà Hạ ;...Sau nầy nhà Thương của họ Chử ( 子 -đọc là Chử khi là
họ , chứ không đọc là Tử . ) lớn mạnh và lật đỗ triều Hạ , và
chử viết và văn hóa của Thương đều là kế tục của nhà Hạ : Những
chử viết trong chung Đin̉h Văn và Giáp cốt văn cuả Khảo cổ học
chứng minh được điều nầy , ...Nhà Thương thôn t́inh và Đồng hóa
Người Siberia da trắng là "Trung Sơn Quốc" : gọi là "Bạch-Địch
" , nói chung nhà Thương bao gồm Việt tộc và những ngoại
tộc ̉ bị Việt tộc đồng Hóa ..., ngay cả tên của Trụ Vương ...cũng
được ghi chép lại là Đế Tân theo văn phạm Việt ..chứ không phải
là Tân Đế !
Triều nhà CHu củng bị Việt tộc đồng Hoá ; Tộc
Chu là Tộc Khương đã liên kết với những tộc khác tiêu diệt nhà
Thương , trước khi lật đỗ nhà Thương , thì trên bước đường đông
tiến từ cao nguyên phía tây tiến về Trung Nguyên là họ đã bị
Việt Đồng Hóa rồi , và họ đỗi tên , xưng là : CHu 周 , Chu :
có nghiã là Điền 田-Khẩu 口 , Ráp chử Điền đễ phía trên và Khẩu
chung sẽ thành chử 周 -Chu , ...Chu là khẩu sống nhờ Điền-(ruộng
lúa)- ..., và triều CHu tự xưng là con cháu đích tôn của vua Vủ
nhà Hạ để được "chính Danh"; Chu Tự xưng là "Hạ"
hay là "Hoa" -vì lẩn lộn phát âm giữa chử Hoa và Hạ
của tiếng Việt , Tiếng Khương của dân tộc Khương vẩn tồn tại
cho đến ngày nay , cho nên khi đối chiếu tiếng Khương với cổ
sử và Tứ THư , NGủ̉ Kinh v v...thì sẽ thấy rỏ Chu đã Bị văn hóa
Việt của nhà Hạ và nhà Thương đồng Hóa...: Bỡi vì Triều Chu đã
không còn dùng tiếng Khương như người dân tộc Khương hiện nay
vẫn tồn tại và nói tiếng Khương , -và ngay cả việc nhà Chu phải
nhâṇ thầy và học hỏi từ nước Sở củng ̣được ghi rõ ràng trong chính
sử .(điều nầy ghi rỏ trong Sử Ký của Tư Mả Thiên )
Nhà Hạ được xem là chính danh , là Hoa = hoa nghiã
là " hoa lệ " , là "qúi phái " , là tiến bộ-
là qúi tộc , là thống lỉnh , là chính thống ở Trung Nguyên. Cho
nên khi mà Chu muốn gồm thâu thiên hạ qui phục với Chu thì phải
tự xưng là "Hoa-Hạ" , ngay cái tên "hoa-Hạ"
đả tự bộc lộ là bị Đồng Hóa rồi....!!! Vì lẫn lộn "Hoa"
Và "Hạ" !!! bỡi Vì là bị đồng hóa mà vẫn khó phân biệt
phát âm của 1 ngôn ngử "mới " đối với họ , cho nên họ
không phân biệt được "Hạ" là tên gọi Hoàng Triều , và
"Hoa" là tên gọi của qúi Tộc theo lối phát âm tiếng
Viêṭ , cho nên mới có việc tự xưng vừa Hoa lại vưà Hạ ...trong
khi lẽ ra chỉ cần xưng là HOA , hoặc chỉ xưng là Hạ ...là được
rồi ! ( Hoa = 華 , Hạ=夏 )
-華 - 夏 Tiếng Việt cổ đại Hoa Và Hạ đọc rất là
giống nhau ...
_ 華 - 夏Tiếng Việt ở Việt Nam ngày nay : đọc "Hoa"-"Hạ".
..Phát âm rất giống nhau , chỉ vì dùng cố định dấu nặng trong
chử Hạ theo qui định ngày nay cuả phiên âm a , b , c , theo Latin
mà tạo nên khác biệt hơi nhiều .
-華 - 夏Tiếng Việt ở Qủang Đông nay : Đọc : "Hoà"
-"Hà" ...Phát âm rất giống nhau .
_華 - 夏Tiếng Mân-Việt Triều / Phước Kiến : đọc
: "Hoe"-"he" ...Phát âm rất giống nhau .
....Mãi cho đến Sau nầy qua nhiều triều đại sau
nhà Chu nữa , khi nhiều dân tộc khác tiếp tục bị người Việt
đồng hóa nữa thì dần dần mới có sự "Lai Căn" văn hóa
khác mà đổi phát âm chử "Hạ" đọc thành "seaé"
hay "Xié" , và phiên âm theo tiếng Anh / English ngày
nay 夏 là "Xia" ; Ngày nay tiếng Bắc kinh đọc 華 - 夏 là
"Hoả-Xié" / ( là "HUA-Xia " khi dùng English
phiên âm ).
...Chính vì vậy mà có từ ngữ Hoa- Hạ 華 - 夏 đọc thành
"Hỏa -xié" theo tiếng "Quang Thoại" ngày nay
để tự cho rằng : ta là "truyền nhân" đích tôn của của
nhà Hạ !!!
...Việt Tộc thống lỉnh Trung Nguyên từ xa xưa
, mà nổi bật là nhà Hạ , Việt , Bách Việt ...
ngày nay xét kỷ thấy rằng : các ngôn ngữ cuả người
da trắng vùng SIBERIA đã lập ra "TRUNG SƠN Quốc" rồi
bị nhà NHà THương thôn tính , rồi CHu thôn tính THương ; Rồi loạn
Hung Nô thời Tấn v v..., Xét kỷ ngôn ngữ Siberi , Turky , KHương
, Mông Cổ v v... vẩn tồn tại đến bây giờ , đễ người ta có thễ
đối chiếu và thấy khác với các tiếng nói phương ngôn Việt và
tiếng Quang thoại- phổ thông : Đó chính là 1 bằng chứng người
SiBeri thời nhà Thương và luôn cả nhà CHu đã bị Việt đồng hóa
: vì họ đã không còn sữ dụng những ngôn ngữ "hung Nô"
nêu trên...
Vì đã bị Việt Đồng Hóa .mà họ tự Xưng là dân tộc
"Hoa-Hạ" 華夏 !!! là con cháu của nhà "Hạ夏 "...!
Vì Văn Hóa và ngôn ngữ Việt đã đồng Hóa Thương
, Chu , và Yến , Nguỵ ( Người Siberi Thời xuân thu -chiến quốc)
v v...cho nên tiếng Việt có thêm "1 nhánh mới phía bắc"
mà ngày nay người ta gọi là tiếng Bắc-Kinh hay Mandarin , khi có
thêm tiếng phía bắc thì 2 tiếng việt Nam Bắc khác giọng và biến
âm khó thông với nhau nên người ta chọn tiếng Việt phía nam là
tiếng xưa - "có sẵn từ trước "và là tiếng "tiêu
chuẩn" đễ làm tiếng "phổ thông" dùng cho thời
đó ! -và tiếng Việt đễ "phổ thông " thời đó đã được
gọi là "Nhã ngữ 雅 語 " : thời Xuân -THu Chiến Quốc đã
gọi Việt Ngữ là Nhã NGữ , Nho Giaó thời đó đã phát triễn mạnh
, lịch sử đã được ghi lại khá hoàn chỉnh , cho nên người ta có thể
kiểm chứng rỏ ràng 100 % chuyện nầy .
"nhã ngữ雅語 " Mặc nhiên trở thành tiếng
đễ dùng chung "phổ thông" phổ cập vào thời xuân thu-chiến
quốc , và được gọi là "Nhã ngữ" vì nghĩa là : -Nhã :
là Đẹp , văn nhã...; Khổng Tử Dạy học củng là dùng "nhã Ngữ"
(雅語) .
- Nhã ngữ là Việt Ngữ 粵 語 ( 粵 hay 越 hoàn toàn giống nhau , xưa
dùng chung cả 2 chử nầy là "Việt" ) tồn tại cho đến
ngày nay ờ Tỉnh Quảng Đông và nước Việt Nam .
...Nhưng tiếng Việt Nam lại mang giọng nam nhiều hơn vùng PHiên
-Ngung / Quảng Châu và sau nầy laị biến giọng khi tiếp xúc nhiều
với tiếng Mường , rồi lại biến âm nhiều khi dùng A , B , C đễ
phiên âm .
...Tiếng Quảng Đông chỉ biến gịọng rất it́ dù và vì bỡi tiếng
Bắc-kinh ngày càng phát triễn mạnh nhưng vì không dùng Latin a
, b ,c đễ phiên âm , không có "sắc , huyền , hỏi , ngã ,
nặng " cố định cho nên giữ được nhiều âm thanh cổ ..., điều
nầy có thể kiễm chứng được khi so sánh với phương cách thuyết
văn giaĩ tự của thời Hán đã được Hứa Thận biên sọan trong sách
"Thuyết -Văn".
Người ta có thể phục chế ngôn ngữ bằng cách nắm
vững quy luật biến hóa cuả ngôn ngữ , người ta nghiên cứu 1 vùng
"Việt" ngày xưa bị "hung nô " xâm chiếm rồi
biến âm và trở thành sử dụng ngôn ngữ mới ...khác âm như thế nào
, rồi lại đối chiếu với ngôn ngữ của những nhóm Việt chạy xa
...xuống phương nam , người ta lại tổng hợp , rồi phân tích 1
từ ngữ đã biến thành nhiều âm cuả các phương ngôn khác nhau :
đễ tìm ra 1 từ gốc gác căn bản nhất đã biến hóa thành nhiều
phương ngôn mà lại rất giống nhau vì cùng 1 gốc...
Nhưng tiếc thay ...nhóm nghiên cứu phục chế ngôn
ngữ còn it́ ...và lại rất "bí Mật" , và không được Công
Bố đễ phổ biến !!! ...Trong thế gíới Của Blogger tiếng Hoa
ngày nay -thông tin gần như là duy nhất và được rò rỉ một cách
vô tình hay cố ý cuả nhóm phục chế CỔ Hán NGỮ thì Từ ngữ "Thén
Thỉnh" Cuả Tiếng Bắc Kinh , "Thín thìn" cuả Tiếng
Qủang Đông , "Thenn thénn" của tiếng Triều Châu ...là
: Với kết qủa cuả "phục chế Cổ Hán Ngữ " thì những
chữ đó ngày xưa có phát âm là "THIÊN_ĐÌNH -天庭 " : nếu
như có hàng trăm hay hàng ngàn nhóm nghiên cứu "phục chế Cổ
Hán Ngữ " thì kết qủa sẽ to lớn và hùng tráng hơn nhiều ,
và cũng sẽ ...không còn gì là "bí mật" hay lạ lùng nữa
!
Khi Tần Thủy Hoảng thống Nhất "thiên hạ"
thì tiếng Việt-Nhã Ngữ được Triều đình "qui định" để
dùng thống nhất hóa về chử viết và tiếng nói... ; nhà Tần
ra qui địnḥ thống nhất về chử viết , đơn vị đo lường ...nhưng
tồn tại chĩ có 15 năm thì bị người Việt của vùng Sở và vùng Việt
Giang Đông liên kết lật đổ ...rồi lập nên Triều Hán .
Sách " Thuyết văn"( 説文 ) của Hứa Thận
- 許 慎 biên soạn và viết ra thời Hán : phần đánh vần của thuyết
văn phải đọc bằng tiếng Việt ... (nếu như ai đọc sách đó mà đọc
theo giọng "Quang Thoại-Bắc kinh-Mandarin" thì sẻ không
đánh vần được rất nhiều chử ) ; Đó là tiếng Việt cổ đại thời
Hán và thời Tần và trở về trước nữa ...; Bỡi hoàng cãnh và điều
kiện kịch sử : Tiếng Việt Cổ là tiếng còn lưu lại được ở Quảng
Đông và Việt Nam ngày nay , thời Nam Việt Vương Triệu Đà thì
Quảng Đông - Việt Nam ngày nay là chung 1 nước và ngôn ngữ rất
là tương đồng giữa các vùng bắc và nam , đông và tây dù có khác
giọng Âu , Lạc , Mân ...;
Còn tiếng Việt gần biễn đông Thái Bình Dương
ở phía bắc là Sơn Đông , Tô Châu , Thượng hải sau nầy bị ảnh hưỡng
mạnh cuả giọng Bắc -kinh nên trỡ thành 1 nhánh riêng được gọi là
NGô-Việt Ngữ ; Phía nam Ngô-Việt ngữ là vùng Phước kiến, Triều
Châu lại bị ảnh hưỡng cuả gịọng nói Ngô Việt mà trỡ thành một
nhánh riêng gọi là Mân Việt Ngữ ; Laị có riêng 1 nhánh của người
Bộc Việt ở Trung Nguyên thời xa xưa qua bao lần loạn lạc vì chiến
tranh mà di cư khắp nơi , nhưng vẩn giử được phần cơ bản ngôn
ngữ cuả bộ tộc họ , mà lại trộn lẫn ảnh hưỡng các phương ngữ
khắp nơi trên đường di cư nên hình thành tiếng Hẹ / khách-Gia -Hakka
ngày nay . và Mân Việt Ngữ trên Đảo Hải-Nam thì có qúa nhiều dân
cuả bộ tộc Lê /"Cữu-Lê" _Lê -Việt ngày xưa nên hình
thành tiếng Hải Nam , và Việt -Nam thì độc lập và tách riêng
trở thành tiếng Việt Việt -Nam ; Những Vùng NGô , Sở và phía
bắc thì ngày nay đã bị phát âm Bắc-Kinh / Quang thoại /Mandarin
ảnh hưỡng gần như là toàn diện bỡi lịch sử xâm chiếm cuả "hung
Nô" và vì đa số triều đình của các triều đại đều đặt tại
những vùng đất "Trung Nguyên "nầy trong mấy ngàn năm
lịch sữ , nên việc sữ dụng quan thoaị trở thành chuyện đương nhiên
.
Toàn bộ văn hóa Hạ , Thương , CHu , xuân thu- chiến
quốc , Ngô , Việt , Sở ,Văn Lang , Mân , Âu , Lạc Việt , Tần
, Hán ...là văn Hóa Việt ; Tại sao goị là văn hóa Việt ? vì quốc
hồn , quốc túy đã mang tên Việt ! Việt đã là tên của truyền
thống dân tộc cho nên các vương triều mới có tên là Việt chiếm
đa số như : Sở ,Tần , HÁN, NGÔ VIỆT , MÂN VIỆT , ĐÔNG VIỆT
, DƯƠNG VIỆT , NAM VIỆT , ÂU VIỆT , LẠC VIỆT v v... , Triết
học và địa danh cuả sử xưa từ xa xưa đã được định hình và lưu laị
cho đến ngày nay ... chử viết đã lưu lại là Đế Đoan Hạn , Đế
Cảo , Đế Nghiêu , Đế Thuấn ...chứ không phải là Thuấn Đế ,
Nghiêu Đế v v...,và Địa danh là Sơn Đông chứ không phải Đông Sơn
, Hà Nam chứ không phải Nam Hà , Thượng Hải chứ không phải Hãi Thượng
, Quảng Đông chứ không phải Đông Quảng và đảo Hải Nam chứ không
phải Nam hải V v....
Chỉ đến khi nhà Hán mất , Thời nhà Tấn có nhiều
bộ tộc phương bắc tràn xuống chiếm cứ cái nôi văn Hóa Việt
vùng Hoàng Hà , Thái Sơn , sông Hoài , sông Lạc , sông Phần v v...thì
văn Hóa Việt cổ ở Trung Nguyên mới bị biến đổi và chỉ có phương
nam là còn giữ lại được văn hóa Việt gần nguyên vẹn , ...ở phía
nam là vùng : sông Trường Giang và Ngủ lỉnh , phương nam ...
Từ thời xa xưa đã có người da trắng di cư xuống nam và lập ra
Yến Quốc , đến khi thái tử Yên Đan dùng Kinh Kha mưu Sát Tần
Thủy Hoàng là Yến Đã bị Việt Hóa lâu rồi , ngành Khảo Cổ ở bán
Đảo Sơn Đông cũng đào được mộ của người da trắng ; Loạn thời Tấn
cũng là 1 lần nữa làm xảy ra việc văn Hóa Việt Đồng Hóa thêm
1 số nhiều-rất nhiều- người Turky và và nhiều tộc Hung Nô
-Siberi , nhưng , vẫn chính là vì vậy mà văn hóa và ngôn ngữ phía
Bắc đã đổi khác thật nhiều với sự lai căn mạnh mẽ bởi tiếng
Thổ nhị Kỳ , siberia, Hung nô -Chitan / Khiết Đan v v..do đó mà
có tiếng "phổ thông-quan thoại" ngày nay khác xa về
văn phạm với Việt ngữ bằng cách Đảo ngược văn phạm Việt , nhưng
phát âm thì lại tương đương Việt ...ví dụ : Hoa trở thành Hỏa ,
"Diệt" trở thành "yué" , "to" lớn
trở thành "ta" hay lả chỉ đọc giọng cao hơn là "Tá
,Tó" v v...
Sau khi nhà Tấn mất phân nửa đất phía bắc , thì
phía bắc có qúa nhiều chủng tộc và ngôn ngữ khác nhau , ...những
chủng tộc cuả người mới xâm chiếm trung nguyên thành lập nhiều
quốc gia với tình trạng đa chủng tộc và đa ngôn ngữ , thì bắt
buộc phải chọn và bị đồng hóa bỡi tiếng "Phổ thông "
, chứ mạnh ai nấy giữ tiếng Turky , mông Cổ , Nga , Tạng v v
thì sẽ qúa nhiều khó khăn khi giao tiếp ..., và sau nhiều đời
thì đã bị đồng hóa bỡi văn hóa Việt , Vì Văn hóa Việt nầy thời
đó đã mang danh là nhà "Hán" và "Tiền Hán"
, thì khi đã bị đồng hóa rồi thì họ cũng xưng là "Hán"...
Sau nầy , Khi Dân số phát triễn và cùng Với Sự
phức tạp của giọng Việt ở các miền khác nhau như vùng THái Sơn
, Sông Hoài , Sở , Dạ Lang , Mân , Lạc , Âu , An Huy , Hà nam ,
Tô Châu , Hàn châu , Phiên Ngung , Giao Châu V v...đã bắt buộc
mỗi 1 triều đại các triều đình các đời sau luôn luôn phải dùng
và bổ túc cách nói và cách viết chung "phổ thông "
ở triều điǹh , đó là "tiếng Phổ thông" chung cho bá
quan văn vỏ mọi miền ...bao gồm luôn nhửng người mới đã bị đồng
hóa : cho nên đả điṇh hiǹh và phát triễn thành tiếng "Quan
Thoại" , là tiếng nói "mới " của chung cuả những
người củ và mới -đã bị đồng hóa ..đễ "phổ thông" ,
đễ dễ dùng chung cho tất cả các chủng tộc củ và mới của Trung
nguyên ...,vì vậy : cho nên đả -hoàn chỉnh dần dần -và- chính
thức- sinh ra tiếng "quan Thoại"- "phổ thông";
do đó : Cần chú ý điều nầy : những cổ văn từ Hán , Tần ...trở
về trước thì không phải là "Quan Thoại" hay "Phổ
Thông" mà là Việt Ngữ-Nhã Ngữ ; Dù "quan-thoại "
đã được hình thành dần dần , nhưng chỉ Đến đời nhà Tùy và Đường
thì tiếng Phổ Thông mới được đầy mạnh và phát triễn mạnh thêm
1 lần nữa , bỡi vì Tùy và Đường đều là gốc Hung Nô ở Siberia
, tuy vậy , thời đó tiếng Phổ thông chưa đủ để thay thế nỗi
cho Việt Ngữ , nên Đường thi là đa số phải đọc theo Việt ngữ
... thì mới đúng theo vần đả gieo trong Đường Thi ( Chú ý : Thơ
văn từ Tống < Đường trở về trước là Việt , phải đọc theo giọng
Việt , nhưng củng có 1 số ít dùng theo tiếng "Phổ thông-Quang
Thoại " do những người "mới" đã viết ra ...mà truy
nguyên ra sẽ thấy Họ là họ nhà làm quan cha truyền con nối nên
đã chỉ rành và chỉ biết "quan thoại " hoặc họ chính là
dòng người Hung-Nô , Siberi ...ví dụ như điễn hình là nhà thơ Lý
Bạch / lý Bạch gốc Hung Nô-Siberia ) .
Sau nhà Đường là nhà Tống ..., Tống -Từ và Đường
Thi điều phải đọc theo giọng Việt ...Bởi vì tiếng việt "xưa"
tiếp tục vẩn còn mạnh ; Nhưng rồi Nhà Tống bị mất bỡi nhà Nguyên
của tộc Mông Cổ ...làm thay đỗi lớn , Tiếng Bắc-kinh / phổ
thông lại lớn -và mạnh thêm ...
Văn chương xa xưa từ trước là nhà Hán , Tần v v...thì
văn phạm Việt rỏ ràng :Ví dụ ... , Người Mân Việt là người Triều
châu từ xưa đến nay vẩn dùng từ "CÔI -BÓ 雞 母" ( Gà mẹ
) cho đến ngày nay , -"Côi" là "kê" của tiếng
Việt cổ đại mà bên đạo Phật ở Việt Nam ngày nay vẫn còn nhiều
người biết ..., ''côi 雞 '' là Kê/Gà , ''Bó 母 '' là ''Po'', là "a-phò"
, là "bà" , "bà mẹ" , "mẹ", -"Côi
bó" là "gà mẹ" ; Đối chiếu "Côi bó" hay
"gà mẹ" với văn chương tiền Tần-Hán thì thấy rỏ văn
phạm và phát âm bị gọi là "cổ Hán ngữ" đúng là như vậy
và chính là Việt ngữ , và xa xưa thì sách thời tiền Hán đúng là
dùng là : 雞 母 .
-Côi Bó雞 母= Gà mẹ ; chử Gà là "kê"雞 -viết trước- : Văn
Phạm tiếng "Việt" .
-ngày nay tiếng Bắc kinh dùng là "Mẩu -kê 母雞 " với chử
Gà là "Kê"雞 viết sau : văn phạmBắc kinh/ Phổ-Thông hiện
giờ .
=> rỏ ràng thời Tần , Hán và trở về trước thì ngôn ngữ toàn
là Việt.
-xưa : tra cổ thư thấy viết là "bộ hành 步行 " : nghiã
là Bước Đi ( chử Hành 行 là "Đi"... phải viết phía sau
) ,chứ không phải "hành lộ 行路 " như hiện giờ ( Chử Hành
行 là "Đi"... viết phía trước ) .
- Xưa viết là "Mắt" 目 chứ không viết là "nhản tinh"-眼睛
như bây giờ v v..
=>quá nhiều bằng chứng và quá rỏ ràng là trước đây là Hán ,
Tần , xuân thu-chiến quốc , Chu , Thương , Hạ , Ngủ Đế , Tam
Hoàng v v...xa xưa là văn hóa và ngôn ngử là Việt .
Đến khi Mông Cổ thôn tính trung nguyên và lập
ra nhà Nguyên qúa lâu , thì tiếng Phổ Thông chiếm thượng phong
, nhà Minh lật đổ nhà Nguyên , cố khôi phục lại ngôn ngữ , nhưng
khi dời thủ đô từ phía nam lên vùng Bắc -Kinh thì quan và triều
đình lại phải dùng "quang -Thoại"... , nhưng ...và rồi
lại đến 1 nhánh Hung Nô khác là tộc Nữ Chân -của vùng Mản Châu
lập nên nhà Thanh , tiếng Phổ Thông -Bắc kinh tiếp tục "lên
ngôi" và đồng hóa người tộc Mản/ Kim , Triều đình Mản Thanh
bắt buộc thi cử tuyễn "Trạng nguyên" , "tiến-Sĩ"
V V...là phải thi tuyễn bằng tiếng Phổ-Thông / Quang Thoại ....
, vùng Lưỡng Quảng là Quảng Đông và Quảng -Tây chống đối , vẫn
chỉ thi bằng tiếng Việt , Vủng Mân Việt là Phước -Kiến , Triều
Châu thì dung hòa thi bằng song ngữ Quan-Thoại và Mân Việt Ngữ
....; Nếu gộp chung lại là "Thương"-Bị ảnh hưỡng bỡi
Bạch Địch Siberia , "Chu" , "yến" , Ngụy"
, "kim" , "liêu" ,"Tây Hạ" v v...thêm
vào nhà "Nguyên" và "Mản Thanh" tính chung cộng
lại hàng ngàn năm bắc thuộc "Hung Nô" làm cho vùng Hoàng
Hà và bán đảo Sơn Đông -Trung Nguyên đả bị ...trở thành "Văn
hóa Việt đồng hóa ngoại tộc " : Trở thành văn hóa "phổ
thông" -mà thành phần mới nầy lại rất là mạnh và xưng...là
dòng dỏi của "Hạ" ," Hán " , xưng ...là "
Hoa Hạ " tộc ! ...xưng là " Hán " tộc với tiếng
nói là tiếng Phổ Thông - Quang Thoại ! -Và sau nầy còn có tên
là tiếng "Bắc Kinh " hay là "Madarin "- (Mandarin
là Do phiên âm từ chử Mản Đại cuả Triều Mản -Thanh bỡi người Tây
Phương " ....; Họ đọc chử Hạ夏 là "Xia"
...TRONG KHI SỬ SÁCH CỦA "HẠ 夏" LÀ VIỆT
TỘC VỚI VĂN PHẠM Và NGÔN NGỮ RỎ RÀNG ...đọc là " Hạ "
.
Sau khi nhà Thanh bị mất bỡi Tôn Dật Tiên làm cách
mạng ..., nước "Trung-Hoa" mới được thành lập , Việt
ngữ phương nam đã được cân nhắc làm tiếng Phổ thông để dùng thống
nhất , nhưng vì trong hàng ngũ tướng lãnh có qúa nhiều người phương
bắc sử dụng tiếng Phổ Thông , nên vì đại cuộc mà một lần nữa
tiếng Phổ thông-Quang Thoại -Mandarin lại được chọn làm tiếng
"Phổ-Thông".
_Và điều đó tiếp tục ảnh hươn̉g trở thành hiện traṇg ngày nay...
Khi HỨA THẬN Biên soạn "TỰ ĐIỂN" THUYẾT
VĂN Thời HÁN Thì chữ ''HẠ'' Vẫn là được ghi phiên âm là : 胡 雅 切=
Hồ Nhả Thiết " , hồ nhả thiết...,nghiã là ...Hồ a ha .
Hạ 夏 ", đó là tiếg Việt : Khác xa với "phổ thông là
"Xia 夏 ". Chú Ý : Xin đón xem bài bài khào cứu "
Thuyết Văn " ...
Theo Tôi thấy :
=>Chỉ khi nào có việc sách THUYẾT VĂN ...để
giải tự của Hứa Thận thời nhà Hán mà lại đánh vần chử "HẠ"
là " x-i -a -xie =xié ",và toàn bộ những chử khác trong
thuyết văn phải đọc theo giọng "Phổ thông-Bắc kinh"
thì người ta mới tin được là có 1 nền văn Hóa gọi là "Hoa-Hạ"
hay "Hán" có trước văn hóa Việt .
=>Chỉ khi nào có việc triều Hán không nói tiếng
Việt mà lại có riêng 1 thứ tiếng "Hán !" thì người ta
mới nên nghỉ tới những lập luận : Hán ngữ , Hán tộc , Hán hóa
những dân tộc khác , v v....; Nhưng chĩ riêng 1 quyển "tự
điển"/ "Thuyết Văn" của triều đại mang tên Hán
漢 do Hứa Thận biên soạn cũng đủ chứng minh tất cả Hán là Việt
: 越 / 粵 ...bởi phát âm của từ điển , của ngôn ngữ là Việt 越 ;
Vậy thật ra là Việt Hóa 越 化...các tộc khác .
.=> -Và đặc biệt là nên phải nhấn mạnh và lập
lại điều nầy : tất cả NHỮNG CHỬ KHÁC trong TOÀN BỘ SÁCH "THUYẾT
VĂN" của Hứa Thận thời nhà Hán PHẢI ĐỌC THEO TIẾNG VIỆT
̣( đã biến thành mấy phương ngôn Việt ngày nay ).../ Nếu như
đọc theo tiếng "Mandarin-quang thoại" thì : thứ nhất
là đánh vần sẽ sai , thứ hai là đọc được 1 it́ chử trùng hợp thôi
, và thứ ba là có chử sẽ không đánh vần phiên âm được : Điều nầy
có thể kiểm chứng dễ dàng bằng cách mở sách "thuyết Văn"
của Thời Hán ra mà Đọc thử ...
=>Và ĐƯỜNG THI Với TỐNG TỪ PHẢI ĐỌC THEO CÁC PHƯƠNG NGÔN VIỆT
...mới đúng vần , mới hay...
-...=>Và KHỔNG TỬ DẠY HỌC BẰNG NHÃ NGỮ tiếng
VIỆṬ̣( 雅語) , NHÀ CHU VÀ NHỮNG NƯỚC THỜI XUÂN THU -CHIẾN QUỐC
PHẢI DÙNG NHÃ NGỮ VIỆT ĐỂ LÀM TIẾNG "PHỔ THÔNG'' KHI GIAO
THIỆP...LIÊN LẠC , tất cả những điều nầy được ghi trong nhiều
cổ thư , bằng chứng vẫn còn đó và qúa nhiều bằng chứng ...
Tất cả sách diển giải sử của từng thời đại đều
khó thoát khỏi "tư tưởng sử" của THẾ LỰC Chính Trị của
mổi 1 thời đại ! Nhưng hảy dùng khoa học nghiên cứu về NGÔN NGỮ
, PHONG TỤC , khảo cổ , di truyền , tôn gíao ,thiên văn , địa
lý , toán học v v... để lý giải bằng tinh thần Chân , Thiện ,
Mỷ thì lịch sử sẻ ̣được sáng tỏ ...; Chúng ta không có máy thu âm
thời cổ sử để lưu lại tiếng Việt thời xưa :
Nhưng đả có VIỆT TUYỆT THƯ , và có thể tham khảo
Chiến Quốc Sách , Ngô Việt -Xuân Thu , Tứ Thư -Ngủ Kinh , Thuỷ
kinh chú ,Tiền Hán Ký , Hán Thư , Sử Ký , Tống Sử , Minh Sử ,
Thanh Sử -Tứ Khố Toàn Thư , Quảng Châu Ký v v...và bên cạnh sách
sử của nước Việt-Nam ; Về văn hóa dân giang còn có những bài Đường
Thi , Tống Từ , còn Việt Kịch của Giang-Tô , Chiết Giang , những
văn hóa , và phong tục dân giang ...và đặc biệt là có sách "Thuyết
Văn " với ghi chú cách đánh vần Việt rỏ ràng ở thời nhà Hán
của Hứa Thận , cộng thêm có nhiều ngôn ngữ Bách Việt còn tồn
tại cho đến ngày nay như Bộc Việt ,Ngô Việt , Mân Việt , Lê
Việt ̣( tiếng của người dân sống trên đảo Hải Nam ) ,Lạc Việt
, Việt v v..., Tất cả chi tiết trên đã là bằng chứng sống động
cho thấy Văn Hóa người Việt đã trải rộng và đồng hóa biết bao
dân tộc khác ở Trung Quốc từ ngàn xưa cho đến hiện thời...;
Những sự ngộ nhận và diễn giải sai lầm ý nghiã chung quanh chử
Hoa và Việt bởi các thế lực chính trị để tranh dành vai trò "chính
Thống" và "quyền lực" đã làm gây ra phân ly và
chiến tranh và đau khổ cho biết bao muôn dân của đại gia đình
Bách Việt.
Có 1 thuyết cho rằng nước Việt cuả vua Câu Tiễn
không phải là con cháu của vua Vủ nhà Hạ như Việt Tuyệt thư đã
ghi chép , vì vua Việt mang họ Mi , sau đổi họ Lạc , trong khi
nhà Hạ mang họ 姒-Tự, lập luận nầy rất quang trọng và cần chú
ý , Xưa hay đỗi họ do được phong Quan và Đất v v..Các đời tổ
tiên trước cuả Vua Vủ cũng thay đổi Họ nhiều lần , THuyết trên
không đủ bằng chứng thuyết phục đễ bải bỏ những gì đã được ghi
chép trong Việt Tuyệt thư , bỡi vì Việt thư ghi chép qúa rỏ ràng
; muốn phủ nhận Việt thư không phải là dễ .
Có thuyết cho rằng người Việt là THổ dân lâu đời
ở 1 vùng rộng lớn , lập ra nhiều nước Việt nhỏ và trong đó có
nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn , thuyết nầy được các nhà
nghiên cứu sử "tin Cậy" hơn , bỡi vì khảo cứu theo thực
tế lịch sử thì nhóm Việt cư trú trên địa bàn qúa rộng .
Tại sao người ta không nhập 2 thuyết làm 1 ? Và
Còn chuyện đỗi họ vẫn đầy vẫy trong lịch sữ xa xưa cũng như
sau nầy , họ Mi , họ Lạc cũng đổi làm họ ÂU và Âu_Dương ở vùng
Âu giang của Âu Việt , Họ Mi cũng đỗi thành Họ Sỡ ..., Họ Lạc
khi chạy loạn cũng đỗi thành họ LA , Họ Lai đễ giữ an toàn ...
; Và từ cổ xưa cũng thế thôi , ở đâu thì gọi theo tên đó lâu ngày
thành họ mới , đất Trịnh , đất Triệu , đất Ngụy v v...đều tạo
ra họ mới ; xưa có họ Cơ là vì sống ở sông Cơ , lâu ngày thì được
gọi là Cơ , Họ Khương là vì ở sông Khương V v....; nên nghĩ đến
là nhóm Việt trải rộng trên 1 địa bàn bao la bỡi vì giỏi dùng
ghe thuyền , cho nên theo bờ biễn và theo dòng sông di chuyển
, di cư rất dễ dàng ? Dù không phải là du mục , nhưng còn phương
pháp du canh đốt rừng làm rẩy , đễ tiã lúa khô , trồng kê ,
bấp , đậu , khoai trên cạn ...cũng đòi hỏi phải di chuyển hoài
đễ đốt rẩy mới là có thu hoạch tốt hơn cho mùa trồng tiã kế
tiếp , như hiện nay chúng ta vẫn hiểu và thấy rỏ qua lối du
canh , du cư , ... Câu "khoai đất lạ , mạ đất nhà "
cũng là 1 lý do đễ phải "di cư " ..., hiện nay thì việc
trồng lúa và nuôi heo đã được xát định là của Việt tộc biết
làm sớm nhất... , gia đình , dòng họ , gia phả , xả hội , đời
sống và thực phẩm phong phú , ở đâu có người Việt là ở đó có
trái bầu và rau qủa v v..., văn minh nông nghiệp cũng tạo ra âm
lịch và quang sát thời tiết , bầu trời , thiên văn-địa lý , sau
nầy còn có đoàn quân Hổ và Voi ra trận xông pha chiến trường
của Mạnh Hoạch và của Hai bà Trưng , đời sống thực tế cuả người
Việt mới thật là lạ và hay cho những sáng kiến và ứng dụng ,
thuyết nhất nguyên Thái cực sinh lưỡng nghi của vùng đất Sở thật
là cao thâm khó lường , vẽ bùa và thần chú của vùng Mao-Sơn (Cối-kê)
, yêu tinh hay thần thánh nhập xác người dùng cây nhọn xuyên gò
má , xuyên lưỡi , cắt lưỡi lấy máu làm bùa vùng Phước kiến- Triều
châu thật lạ lùng đặt biệt , gọi hồn , xem phong thủy địa lý
, tử vi , bói toán thuật số , thư-trấn-yếm bùa đối với người
và công tr̀inh xây dựng thật là huyền bí , nghiên cứu vỏ công
, thế trận-binh thư , nhạc cụ , thi ca , tiên tri , khoa học v
v..., chế tạo thuốc pháo , giấy , xe , ghe , nhà sàn , thành
quách -cung đình , đền thờ- lăng tẵm , vủ khí , mỷ phẩm , y dược
v v...; những người khảo cứu lịch sử Bách- Việt còn hay nhắc lại
những phát hiện người Việt giỏi dùng ghe , thuyền di chuyễn
trên sông biễn và trồng lúa , cắt tóc ngắn đễ dễ làm việc đồng
án ở ruộng lúa nước ... ? có tục xâm mình , vẽ mặt , đội lông
chim (điều nầy cũng thấy rỏ ở thổ dân Châu ÚC và Châu Mỹ La-tin),
quan niệm sống là "THiên" và "NHân" hợp nhất
, khi làm lễ cúng tế thì ca hát và nhảy múa , những từ ngữ "chìa
khoá" cuả tiếng Việt có liên hệ với nhóm ngữ hệ nam đảo
Thái Bình Dương v v...; người ta ước tính rằng ngày xưa 1 chiếc
thuyền bườm (không có́ máy móc cơ khí như hiện nay ) nếu xuất
phát từ vùng Cối -kê / Hàn Châu thì chỉ trong vòng 1 tuần lễ
là đến nước Nhật hiện giờ...
Tiếng Việt thời tiền sử là đa âm , rồi biến
dần thành đơn âm , tôi không dám lạm bàn nhiều hơn , không dám
đụng đến "chuyên khoa" ngôn ngữ học với mớ kiến thức
Lơ-tơ-mơ cuả mình ," lang -thang " và "lênh- đênh"
trên 1 biễn taì liệu cổ sử Bách Việt , khảo cứu và đối chiếu
với thực tế là sở thích cuả tôi đễ tìm cội nguồn tổ tiên ,
chuyện nầy rất là bình thường đối với tôi và với biết bao người
khác , bài khảo cứu của tôi sẽ chẵng mang lại lợi lộc vất chất
gì ! sẽ chẳng có danh hay lợi gì đễ bóp méo sự thật , chỉ là những
lời tâm tình và chia sẽ công khai đễ mong những người có tâm huyết
nghiên cứu sẽ đưa ra những bằng chứng mà phê phán cho tôi biết
là tôi hiểu đúng hay là Sai ...???
Khi qúi vị đọc bài viết nầy : xin phép cho tôi
nhắc lại Ca dao Việt ...đễ thấy người Việt Ngày xưa với tiếng
Việt đã từng sống ở đâu ...
_Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
...Bống bồng bông , bống bồng bông
Võng Đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên
...Và
_Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chử hiếu mới là đạo con
( Động Đình Hồ là hồ nước lớn chính giữa 2 tỉnh
Hồ Bắc và Hồ Nam ; Thái Sơn là ngọn núi hùng vĩ ở bán đảo Sơn
Đông ).
Và...
Nước đóng băng khi thời tiết băng giá , khi băng
tan rồi thì băng lại là nước ..., với thành tựu khoa học và văn
hóa khiêm tốn của nhân loaị ngày nay cũng đã bắc đầu vén được
bức màn bí mật của DNA và của lịch sử ; trong tương lai thì lịch
sử Việt hóa , và lịch sử Việt tiến hóa như thế nào từ xưa cho
đến nay ...cùng với những trang sử bị cải biên hay bị ngộ nhận
chắc chắn sẽ được làm sáng tỏ rỏ ràng. _Một ngày nào đó ...tất
cả tiếng Việt : gồm Hoa ngữ- Phổ Thông -Bắc Kinh của phương
bắc ,Bộc Việt-Hakka ,Ngô Việt-Tô Châu , Thượng Hải , Dương Việt-Vùng
Kinh Sở và Dương Châu , Giang Tây , Mân Việt-Phước kiến , Triều
Châu , Lôi Châu , Lê Việt-Hải Nam , Việt-Quảng Đông, Quảng Tây
và Việt Nam ,_một ngày nào đó _Vì lý do "Toàn cầu hóa"
, hay vì khoa học vi tính và "bàn phím đánh máy hóa" mà
tất cả các tiếng Việt nêu trên được đánh vần chung 1 phương
cách và bằng cùng 1 loại mẩu tự La-tinh A B C ...thì tât́ cả Việt
ngữ nêu trên sẽ lại quay về 1 gốc Việt thống nhất ;Và đó cũng
là cách học và hiểu các Việt Ngữ khác biệt nhau hiện nay của
tôi là cứ việc phiên âm tất cả trở thành tiếng Việt A B C...
thì sẽ thấy được sự tương đồng hay tương đương với tiếng Việt
gốc của cá nhân gia đình mình đang dùng- thì sẽ dễ học và dễ
hiếu lắm !
Nhạn Nam Phi ( Thanh Đỗ ) .
Kính bút : Cùng qúi vị đọc giã...
-Đề tài "đồng hóa" rất dễ trở thành
đụng chạm đến tinh thần "tự ái dân tộc" , với tinh
thần cầu và xin tìm được sự thật khi khảo cứu lịch sử ..., xin
trân trọng gữi lời chào qúi mến -không phân biệt chủng tộc ,
vì sự thật khoa học -đến qúi vị nào đã lưu tâm và đọc hết bài
nầy ; tất cả mọi ý kiến đóng góp thêm hay phê bình hoặc phản
biện đều rất đáng qúi ...
Kính chào qúi vị và xin bổ túc thêm những chi tiết
và ý khác ở những bài khảo cứu sau ...
Bài Viết nhân ngày 09 /09 /2009
Nguồn: anviettoancau
|