Chế độ Trung quốc không thoát khỏi
vô thường
Andrew
J. Nathan - Nguyễn Ước dịch thuật
Lời
người dịch: Andrew J. Nathan là giáo sư môn Khoa học chính trị
tại Ðại học Columbia, Hoa Kỳ. Ông là đồng biên tập cuốn The Tiananmen
Papers (Hồ sơ Thiên An Môn), (2001), đồng tác giả cuốn China’s New
Rulers (Các nhà cai trị mới của Trung Quốc), 2002, và đồng biên
tập cuốn How East Asians View Democracy (Người Á đông quan niệm
dân chủ như thế nào), 2008. Trong số các sách của ông có Chinese
Democracy (Nền Dân chủ Trung Quốc), 1985.
Bài dưới đây dịch toàn văn từ
bài “Authoritarian Impermanence” (Tính chất vô thường của chế độ
chuyên chế) đăng trong Journal Democracy, số tháng 7 năm 2009, Nxb
Johns Hopkins University Press, HK, tt 36-40.
Chúng tôi dùng bài này để đúc
kết loạt 13 bài về Trung Quốc, được đăng tải suốt tháng vừa qua,
nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Quốc. Loạt bài này cũng được xem như tiếp nối và đối chiếu với loạt
6 bài “Kinh nghiệm toàn trị tại Trung Quốc” đã được diễn đàn talawas
đăng tải cách đây gần 4 năm. Hy vọng cả hai có thể tiếp tay cho
vô số bài rất có giá trị của các tác giả khác trên talawas, cung
cấp một số thông tin hữu ích (và luôn luôn cần tái đánh giá) về
Trung Quốc đương đại cùng các vấn đề nan giải của nó.
Trước khi chấm dứt công việc mà
chúng tôi sung sướng xem là một công tác tự nguyện và có cơ may
thực hiện này, xin được chân thành cám ơn độc giả đã theo dõi, bằng
hữu khích lệ, và đặc biệt, công khó biên tập của BBT talawas.
So với các chế độ dân chủ, chắc chắn
các chế độ chuyên chế [authoritarianism) có nhiều kiểu hơn, dù chế
độ thứ nhất thu hút nhiều chú ý có tính học thuật của chúng ta.
Các hệ thống chuyên chế đã và đang ở với chúng ta lâu hơn, cai trị
nhiều người dân hơn và trong chừng mực chúng ta biết, trong tương
lai chúng có thể cai trị nhiều dân tộc hơn các hệ thống dân chủ.
Không nên ngạc nhiên về điều đó nếu chúng ta xét thấy rằng chủ nghĩa
chuyên chế là một loại tàn dư của một kiểu chế độ được định nghĩa
một cách chật hẹp ([là] sự tự do cạnh tranh chính trị để vào những
vị trí cao nhất có quyền lực thật sự), nghĩa là, chế độ dân chủ.
Vì là một loại tàn dư, chủ nghĩa chuyên chế không tránh khỏi rất
mênh mông và gồm nhiều tiểu loại chế độ rất khác nhau.[1]
Các câu hỏi như làm thế nào các chế
độ ấy vẫn tại quyền và chúng biến đổi như thế nào, thường được dùng
để thúc đẩy sinh viên chú ý vào chủ nghĩa chuyên chế, chủ nghĩa
đoàn ngũ hóa (corporatism), quân phiệt, chủ nghĩa chuyên chế thư
lại và chủ nghĩa cộng sản đối chiếu. Nhưng vào đầu thập niên 1990,
các chủ đề ấy không còn hợp thời với cái dường như là chiến thắng
lịch sử của chế độ dân chủ. Chắc chắn chế độ Trung Quốc (TQ) vẫn
còn tại vị, có điều [trên thế giới] đã có vẻ đang tự do hóa; các
nhà nước cộng sản nhỏ hơn đã là cái quái dị; và chế độ quân chủ
cùng chế độ thần quyền đã có vẻ đang tàn lụi.
Thế nhưng lịch sử vẫn giữ lại sự xảo
quyệt của nó – không như một loại mang tính Hegel chủ nghĩa, thao
tác theo con đường duy cứu cánh tính qua những hành động mù lòa,
mà là một loại hậu hiện đại, phản ứng lại các thông giải của chúng
ta bằng một khúc quặt trớ trêu của các biến cố. Hai chục năm sau
Thiên An Môn, tính đàn hồi của chế độ chuyên chế TQ vẫn làm chúng
ta ngạc nhiên.
Sau khi tra vấn các viễn cảnh cho
chế độ dân chủ TQ từ năm 1998 tới năm 2003, Tạp chí Dân chủ (Journal
of Democracy) quyết định lưu tâm thêm lần nữa [2]. Chúng tôi đã
xem xét có phải các viễn cảnh cho thể chế ấy bị biến đổi vì sự tăng
trưởng kinh tế nhanh chóng và sự phân cực, hỗn loạn xã hội, giai
cấp trung lưu đang nổi lên và sự tự do mới mẻ của internet. Nếu
không bị giới hạn về không gian [của tạp chí], chúng tôi đã có thể
đặt vấn đề về các tác động của giáo dục và văn hóa phương Tây; sự
xuống cấp của môi trường; băng hoại chính trị; chủ nghĩa dân tộc
đại Hán; chủ nghĩa dân tộc sắc tộc thiểu số; cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu; và các lực lượng to lớn khác đang trắc nghiệm không
chút xót thương khuôn khổ tổng thể của trật tự công cộng.
Những đóng góp trong các bài trước
bài này làm phong phú tri thức của chúng ta về hệ thống TQ như một
chủ nghĩa chuyên chế của một kiểu mẫu mới mà cho tới nay sự am hiểu
về nó vẫn còn nghèo nàn, một kiểu mẫu trộn lẫn chủ nghĩa trung ương
tập quyền với hàng ngũ doanh gia, độc quyền chính trị với tự do
cá nhân, quyền lực cá nhân chủ nghĩa với thủ tục pháp luật, đàn
áp với đề kháng, đồng dạng theo chính sách với sự uyển chuyển giải
tập trung hóa (decentralyzed flexibility), kiểm soát thông điệp
với giao lộ truyền thông (message control with media circus).
Một hệ thống vẫn mạnh suốt 20 năm
qua không do sự thay đổi ngột ngạt mà do việc nuôi dưỡng nó, không
do việc giữ cho một trạng thái tĩnh có tính định chế tồn tại mà
do việc uốn nắn hệ tư tưởng của Ðảng Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ)
cùng các cơ cấu nhà nước để đáp ứng nhu cầu mới. Hệ thống ấy ngày
nay cổ vũ các nhà lãnh đạo có trình độ, thực hiện một cách trật
tự sự kế thừa chính trị, đẻ ra các chính sách công cộng hữu hiệu,
và thu phục sự ủng hộ của đại chúng. Có lẽ nghiên cứu về các động
lực của nó sẽ giúp kích hoạt sống động trở lại việc phân tích các
hệ thống chuyên chế đối chiếu.
Bóng tối của
Tương lai
Nhưng giống với mọi hệ thống phi dân
chủ đương đại, hệ thống TQ chịu một khuyết tật bẩm sinh mà nó không
thể nào chữa trị, đó là thực tế rằng hình thức chọn lựa chính phủ
là do đồng ý chung hơn là hợp pháp (legitimate). Cho dẫu chế độ
ấy tuyên bố một các quả quyết rằng nó là một hình thức dân chủ TQ
dựa trên cơ sở nó phục vụ người dân và cai trị theo lợi ích của
họ, và cho dẫu đa số công dân TQ hôm nay chấp nhận lời tuyên bố
đó [3], nó vẫn thừa nhận, và mọi người đều biết, rằng thẩm quyền
của nó chưa bao giờ là đối tượng để dân chúng duyệt xét và nó không
bao giờ dự tính làm chuyện đó. Theo ý nghĩa đó, chế độ ấy khắc sâu
bằng sắt nung như một thiết thực, một cái gì đó tạm thời, có tính
chuyển tiếp (quá độ), và người ta cần tới nó để đáp ứng nhu cầu
của thời gian [4].
Ngược lại, các chế độ dân chủ thường
gợi cho thấy thất vọng và nản lòng nhưng chúng không đối đầu với
một hình thức kình địch có thế giá rực rỡ hơn nó [5]. Theo ý nghĩa
này, các chế độ chuyên chế không là mãi mãi. Trong chừng mực đa
dạng hóa và tuổi thọ của chúng, chúng sống dưới chiếc bóng của tương
lai, dễ bị tổn hại trước các thách đố sống còn, những cái mà các
chế độ dân chủ trưởng thành không bị đối mặt.
Chúng ta từng quen với những chuyển
tiếp như chớp giật và đầy kịch tính tới chế độ dân chủ. Liệu thay
vào đó, chế độ TQ có thể cải cách và thích nghi, thích nghi và cải
cách, tới một điểm ở đó nó xuất hiện phía bên kia chiếc gương soi
như một chế độ dân chủ hơn? Ðây là niềm hy vọng của những phong
trào bảo vệ các quyền tại TQ gồm các luật sư, người viết thỉnh nguyện
thư, người viết blog và nhà báo, và một vòng tròn rộng lớn các nhóm
tôn giáo mà cho tới nay vẫn duy trì cách ứng xử kín đáo để tránh
bị đàn áp.
Họ hy vọng rằng chế độ sẽ ngày càng
bị vướng víu trong lô-gic của các định chế do nó tạo ra như những
chiếc van an toàn hầu bảo tồn nền cai trị của nó, thí dụ tòa án
và truyền thông. Lúc đó, Ðảng sẽ nhận ra mình bị buộc phải chung
sống với một xã hội dân sự có sức mạnh ngang hàng, và TQ sẽ trở
thành một chế độ dân chủ mà không có khoảnh khắc biến đổi đầy kịch
tính. Hãy cứ gọi đó là một kiểu chuyển biến mới – không đổ vỡ, không
tháo gỡ, không hiệp ước mà là liền lạc êm thắm.
ÐCSTQ chống kịch bản đó. Bài học then
chốt mà các lãnh tụ của nó học được từ Thiên An Môn là từ chối đối
thoại ngang hàng với xã hội. Khi Lý Bằng, vị Thủ tướng ủng hộ đàn
áp thẳng tay, mô tả nó trong các cuộc tranh luận với Triệu Tử Dương,
vị Tổng Bí thư của Ðảng ủng hộ đối thoại, rằng việc cho phép các
sinh viên biểu tình “thương thảo với Ðảng và chính phủ như những
kẻ ngang hàng” sẽ là “phủ nhận quyền lãnh đạo của ÐCSTQ và phủ nhận
hoàn toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa” [6].
Các biến cố xảy ra sau đó tại Ðông
Âu và Liên bang Sô-viết (LBSV) đã xác nhận với hàng ngũ lãnh đạo
quan điểm đó [7]. Chế độ đang có ý muốn biến đổi, cách nào cũng
được miễn sao giúp nó nắm quyền, nhưng nó không có ý muốn nới lỏng
lệnh cấm các lực lượng chính trị hoạt động độc lập. Chính điều này
càng khiến cho có khả năng rằng sự thay đổi thể chế, nếu nó xảy
đến, sẽ bằng một loại đoạn tuyệt nào đó.
Nhưng sự chuyển tiếp của TQ sẽ không
giống của LBSV. Trung Quốc không ở trong cuộc chạy đua vũ trang
mà nó không đủ sức. Nó cũng không cạnh tranh quá mức về an ninh
với Hoa Kỳ. Các sắc dân thiểu số của nó chỉ chiếm 5 hoặc 6% của
thành phần nhân số, và không hơn một nửa. Về mặt hiến pháp, cấu
trúc của nó không theo hình thức liên bang với các đơn vị có quyền
rút chân ra.
Sự chuyển tiếp của TQ cũng sẽ không
giống của Ðài Loan [8]. Chính phủ TQ không cần hội nhập một đa số
sắc tộc bị loại trừ trước đó. Nó không cho phép hình thành một phía
đối lập có tổ chức hoặc luyện tập cho dân chúng bằng những cuộc
bầu cử có tranh đua. Trung Quốc cũng không là một nước phụ thuộc
vào Hoa Kỳ.
Do đó, hình thức chuyển tiếp khả thi
nhất cho TQ vẫn là kiểu mẫu của Thiên An Môn, với ba thành tố hiệp
vào nhau:
(1) một đa số cương mãnh những công
dân bất mãn (trong năm 1989 vì lạm phát và tham nhũng, trong tương
lai có thể vì nạn thất nghiệp và thảm hoạ môi trường, hoặc một hình
thức quốc thể bị sỉ nhục nào đó);
(2) một biến cố mang tính xúc tác;
nó gởi tín hiệu cho các lực lượng đang tản mác rằng thời điểm nổi
dậy đã tới;
(3) một sự nứt rạn trong giới lãnh
đạo (hoặc do những dị biệt cá nhân, tranh giành quyền lực, sự ủng
hộ bất định của công an vũ trang và quân đội, hoặc chia rẽ hệ tư
tưởng), gây ra phản ứng từ sự bất ổn chóp bu hoặc suy yếu, khiến
cho thách đố có cơ hội tăng nhanh.
Việc chế độ tự đánh giá là dễ tổn
hại trước một kịch bản y như thế có bằng chứng rõ ràng trong những
nỗ lực lớn lao của nó nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của ba thành tố
ấy. Nó tìm cách che chắn cho dân chúng khỏi những tác động của cuộc
bất ổn kinh tế; mua tính chính thống trong các khu vực xã hội quan
trọng; kiểm soát các tin tức xấu; huy động ngoài vòng pháp luật;
gây chia rẽ và đàn áp phía đối lập; giám sát xã hội dân sự; kiểm
soát các công cụ thao tác mạng lưới internet và điện thoại di động;
củng cố công an và bán quân sự; và trên tất cả, giữ cho những bất
hoà nội bộ khỏi con mắt của công chúng để cho cơ hội hình thành
một sự huy động xã hội vẫn còn không hứa hẹn.
Cho tới nay, các nỗ lực đó của ÐCSTQ
thành công trong việc ứng xử với tác động của cuộc suy thoái kinh
tế toàn cầu lên công nhân TQ. Tản mác về lại thôn quê từ nơi họ
đã tới và có được công ăn việc làm phát sinh từ gói kích cầu của
chính phủ. Chế độ cũng thành công trong việc bóp nghẹt “Linh bát
Hiến chương”, một thách đố phức tạp, có tính trí thức và có cơ sở
rộng rãi nhất đối với các nguyên tắc cai trị của ÐCSTQ tính từ Thiên
An Môn.
Nhưng các thành tố của cuộc khủng
hoảng tiềm tàng ấy có thể hội tụ bất cứ lúc nào. Nếu ta thử mường
tượng hệ thống TQ đang đối mặt với những loại vấn đề mà các nước
như Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản vừa mới đi qua – các cuộc chiến tranh
không thành công; kinh tế lao thẳng xuống vực; các nhà lãnh đạo
không được lòng dân; truyền thông chúi mũi phê bình bắt bẻ; chia
rẽ sâu xa về bản sắc văn hoá – ta khó có thể tưởng tượng hệ thống
TQ sống sót không kém ta tưởng tượng các chế độ dân chủ đang sụp
đổ.
Cái giữ cho các cuộc khủng khoảng
chính phủ ấy không trở thành khủng hoảng chế độ là văn hoá công
khai bất đồng chính kiến; sự cai trị mạnh mẽ của luật pháp; và năng
lực có tính định chế thay đổi các nhà lãnh đạo để đáp ứng sự bất
mãn của công chúng mà không thay đổi hệ thống. Nếu năm 1989, TQ
chọn một con đường khác thì hôm nay nó có thể có những đặc tính
làm cho ổn định đó.
Không có những đặc tính đó, chế độ
độc tài chuyên chế phải liên tục thể hiện giống như một đội nhào
lộn trên dây cao, ngăn chặn mọi khủng hoảng trong khi giữ cho nó
cùng nhau hành động không một kẽ hở hay một lằn nứt. Hôm nay, dựa
trên bằng chứng của những đóng góp của chúng tôi [trong những bài
này], chế độ TQ đang cố xoay xở để làm điều đó. Nhưng nó không thể
nào đủ sức thoát ra.
Chú thích
[1] Amos Perlmutter, Modern Authoritarianism:
A Comparative Analysis (New Haven: Yale University Press, 1981);
Juan J. Linz, Totalitarian and Authoritarian Regimes (Boulder, Colo.:
Lynnne Rienner, 2000)
[2] “Will China Democratize?” Journal
of Democracy 9 (Jannuary 1998); 3-64; and “China’s Changing of the
Guard,” Journal of Democracy 14, Jannuary 2003): 5-81.
[3] Tianjian Shi, “China Democratic
Values Supporting and Authoritarian System” in Yun-han Chu, Larry
Diamond, Andrew J. Nathan, và Doh Chull Shin, biên tập, How East
Asian View Democracy (New York, Columbia Unversity Press, 2008),
209-37.
[4] Xem, thí dụ “Zhonggong zhongyang
guanyu jiaqiang dang de zhizheng nengli jianshe de jueding” (“Resolution
on enhancing the governtment capacity of the CCP – Nghị quyết tăng
cường khả năng chính quyền của ÐCSTQ”), 19 tháng Chín 2004. Có ở
http://news.xinhuanet.com/newscenter/2004-09/26/content_2024232.htm.
[5] Yun-han Chu, Larry Diamond, Andrew
J. Nathan và Doli Chui Shin, “Asia’s Challenged Democracies,” Washington
Quarterly 32 (Jannuary 2009): 143-57.
[6] Zhang Liang, biên dịch, Andrew
J. Nathan và Perry Link, biên tập, The Tianmen Papers (New York:
Public Affairs, 2001), 118.
[7] David Shambaugh, China’s Communist
Party: Atrophy and Adaption (Berkeley: University of California
Press, 2009).
[8] Bruce Gilley và Larry Diamond
biên tập, Political Change in Chia: Comparisons with Taiwan (Boulder,
Colo.: Lynne Rienner, 2008).
@talawas
|