Nhìn lại việc thi tú
tài ở Việt Nam trước 1975 (I)
Nguyễn Văn Lục
Việc thi cử ở nước ta đã có một truyền thống lâu
đời truyền lại. Miền Nam sau này việc thi cử phần nào cũng tiếp
nối cái tinh thần của truyền thống ấy.Thật vậy, nước ta đã có gần
20 thế kỷ dùng chữ Hán kể từ thời Bắc thuộc. Và 10 thế kỷ chữ Nôm
đánh dấu thời kỳ tự chủ.
Việc thi cử tính ra cũng được ngàn năm.
Cái truyền thống ấy được Nguyễn Hiến Lê viết lại
như sau:
“Ở nước ta hiện nay, số hậu duệ của giai cấp ấy kể ra cũng còn
được kha khá, nhưng số người còn giữ được nếp nhà thì hiếm đấy;
và tôi nghiệm thấy người nào giữ được cũng có vài nét chung rất
dễ nhận ra: không ham danh lợi, chăm nom sự dạy dỗ con cái, yêu
nước, thích văn chương, chuộng nghề dạy học và hình như có khiếu
dạy học nữa.”
(Trích Mười câu chuyện văn chương, Nguyễn Hiến Lê, trang 82).
Phải chăng truyền thống đó sản sinh ra những người
thầy như giáo sư Hoàng Cơ Nghị, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm
hay như thi sĩ Đông Hồ mà lúc chết học trò khắc trên bia hai câu
thơ như sau:
Ân sâu nghĩa nặng tình dài
Khóc thầy, khóc mãi, biết đời nào nguôi?
Cũng Nguyễn Hiến Lê viết về thầy Dương Quảng Hàm trong cuốn Hồi
ký của ông:
“Tất cả học sinh trường Bưởi không ai không trọng thầy vì vậy.
Mà các bạn đồng sự Pháp, Việt cũng quỳ thầy nữa. Thật đáng tiếc,
thầy không thọ, mất trong những ngày đầu cuộc kháng chiến ở Hà Nội.”
(Trích Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, trang 65).
Giáo dục miền Nam đã tiếp nối cái truyền thống kính
trọng ông thầy ấy. Ở miền Bắc thì họ mang thầy ra tố khổ như trong
bài viết của Trần Huy Liệu: “Bóc trần quan điểm thực dân và phong
kiến trong quyển “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim” (Tập san
sử địa, số 6, 1955).
May là cụ Dương Quảng Hàm đã chết sớm.
Và họ bắt học trò phải “Quyết tâm thực hiện lời dạy
của Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Phạm Văn Đồng” (Tập san sử địa, số
4, tháng 11, 12-1955, Hà Nội).
Trước đó, khoa cử còn thiếu, các đời Đinh, Lê về
trước chưa có thi cử. Việc tuyển chọn người chỉ là tùy tiện, không
câu nệ, nhưng lại cũng không có phép tắc gì.
Kể từ năm 1072, đời Lý mới mở khoa thi chọn người
tài ra giúp nước.
“Con đường tìm người tài giỏi, trước hết là khoa mục, phàm muốn
thu hút người tài năng, thì người làm vua một nước không thể nào
không có thi cử”
(Trích Lịch Triều Hiến Chương loại chí (LTHCLT) của Phan Huy Chú,
phần mở đầu chương Khoa Mục Chí).
Cái mục đích mở khoa thi đã rõ ràng: Chọn người có
tài. Nhưng chọn bao nhiêu? Chọn thế nào?
Đó là cả một vấn đề. Việc thi cử thời xưa còn nhiều
điều bât cập như: Cái học từ chương quá, tỉ lệ thi đỗ quá thấp.
1000 người lấy một. Có sĩ tử đã để cả đời đi thi mới đỗ. Ông Đoàn
Tử Quang tham dự cả thảy 21 khóa thi từ năm 20 tuổi. Cứ ba năm thi
một lần, mãi đến năm 83 tuổi mới thi đỗ. Ông nội Ngô Tất Tố 7 lần
đi thi, bố Ngô Tất Tố sáu lần, phần ông Tố hai lần đi thi.
Mặc dầu thi cử khó khăn, nhưng tổ chức thi cử rất
nghiêm ngặt. Luật lệ nghiêm minh như ông Đỗ Nhuận viết vào năm 1484:
“Việc lớn trong chính trị của Đế Vương, chẳng gì gấp bằng nhân
tài… Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức, cách lấy đỗ rộng
rãi, cách chọn người công bằng, đời sau không thể theo kịp.”
(LTHCLC, phần Khoa Mục Chí).
Chỉ cần giữ lại mấy chữ: Lấy rộng rãi, cách chọn
người công bằng. Đời sau không sánh kịp.
Nếu nhìn lại việc thi cử ở miền Nam, tôi chỉ thấy
việc thứ nhất còn chưa ổn, việc thứ hai có lẽ cũng không thua gi
việc thi cử đời Hồng Đức cả. Trừ giai đoạn chót của VNCH, việc thi
cử xem ra có một số trường hợp bê bối. Đã có dư luận đồn thổi về
tình trạng con ông cháu cha, kẻ có tiền của.
Sau này đến đời vua chúa triều Nguyễn, phép tắc thi
cử cũng vẫn nghiêm ngặt như vậy. Nhà vua xem xét từng li từng tí
việc học của các sinh viên trong trường Quốc Tử Giám.Ta hãy nghe
lời phê phán vừa nặng nề vừa cho thấy mối quan tâm của vua Minh
Mạng đối với tương lai giáo dục ra sao. Năm 1837, vua ra chỉ dụ:
“Thế mà nhìn lại các học quan chỉ biết chiếu lệ thường khảo hạch
cho có, gọi là đã làm xong chức vụ, còn quy trình giảng dạy thi
lên lớp, tiến bộ ra sao, trình độ học sinh như thế nào, không lưu
ý tới, thì bảo sĩ tử gắng sức ở chỗ nào.”
(Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ - Bộ Lễ - Q.192: Học Hiệu).
Thât ra miền Nam có khá nhiều kỳ thi: Thi tiểu học,
thi nhập học lớp đệ thất các trường công lập, thi Trung Học Phổ
thông dành cho các lớp đệ tứ và thi tú tài 1 và 2. Ở đây chưa kể
việc thi trên Đại Học, thi tuyển vào trương chuyên nghiệp như Quốc
Gia Hành Chánh, Đại Học sư phạm, các trường Kỹ sư (Phú Thọ) Điện,
Công chánh, v.v...
Việc thi cử phần đông tiến hành tốt đẹp.
Tôi chỉ đưa ra một tỉ dụ. Việc thi vào đệ thất các
trường công lập khó mà tránh khỏi một số trường hợp quen biết gửi
gắm. Nhất là tại các tỉnh. Cho dù có gửi gắm cũng không phải là
ăn tiền hay hối lộ. Có thể chỉ vài trường hợp cá biệt, đơn lẻ. Vì
thế vẫn bảo đảm được chất lượng thi cử. Bằng chứng rõ ràng tỉ lệ
các học sinh trường công thi đỗ thường cao hơn trường tư nhiều vì
có sàng lọc rồi. Nếu trường tư thi đỗ đạt tỉ Lệ 20% thì trường công,
tỉ lệ thí sinh thi đậu tú tài là 75% đến 85% hoặc hơn thế nữa.
Nếu tuyển sinh đệ thất không minh bạch thì kết quả thi đỗ tú tài
ở trường công tỉ lệ thi đỗ đã khác.
Có nhiều lớp, toàn thể học sinh đều thi đỗ. Đặc biệt
một lớp ban B, trường Petrus Trương Vĩnh Ký, vào năm 1970, toàn
thể học sinh đều thi đỗ hạng Bình trở lên. Dĩ nhiên, cũng có trường
hợp nhà trường dồn học sinh giỏi vào cùng một lớp. Sau này, lớp
học này có nhiều học sinh xuất sắc được học bổng, đi du học và thành
tài. Và một trong những học sinh ưu tú ấy, hai lần đỗ tú tài 1 và
2 hạng ưu, điểm trung bình toàn bộ các môn phải từ 16 trở lên và
hiện nay ngoài công việc chỉ huy ở sở, anh đang giữ trọng trách
với một tổ chức phi lợi nhuận.
Việc học còn từ chương
Việc này, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) ngay từ năm
1867 đã phê phán thẳng thừng và dứt khoát, ông viết:
“Nhìn lại sử học của ta ngày nay, 1867, những điều thầy dạy,
những điều trò học, toàn là những chuyện xa xưa. Lúc nhỏ thì học
văn từ, thơ phú, lớn lên ra làm việc thì lại thấy luật-lịch-binh-hình…
Xưa nay, trên thế giới chưa từng nước nào có nền học thuật như vậy...
Nếu đem cái công phu cả đời đem tâm trí ra trau chuốt chữ nghĩa
mà học những việc hiện tại như trận đồ, binh pháp, đắp thành giữ
nước, sử dụng súng ống thì có thể chống được giăc...” (Trích
Nguyễn Trường Tộ - Con Người và Di Thảo, Trương Bá Cần, trang 76,
NXB Tp. HCM, 1988).

Chứng chỉ Tú tài
Nguồn: DCVOnline
Rất tiếc những lời cảnh báo về cái học từ chương,
“toàn những chuyện xa xưa” không được vua quan để ý tới và kéo dài
cho mãi đến bây giờ.
Mặc dầu việc phê phán của Nguyễn Trường Tộ nhằm vào
thời kỳ còn nặng nho học, nhưng cái tinh thần ấy vẫn còn rơi rớt
lại sau này. Chẳng hạn trong chương trình tiểu học của miền Nam
sau này. Học trò tiểu học phải học thuộc lòng các bài địa lý, lịch
sử, cách trí. Học thuộc lòng ra rả như cuốc kêu. Kể thật cùng tội.
Các lớp trung học, nhất là ban Vạn vật thì Vạn vật cũng là môn học
thuộc lòng, môn học đào luyện trí nhớ tốn bao thì giờ công sức mà
xét ra ít hữu dụng. Các môn sử ký, địa lý trong cách giảng dạy,
trong cách chấm điểm còn nặng tính từ chương, thiếu óc phê bình,
thiếu nghị luận. Ngay các bài giảng văn cũng được diễn giải một
chiều, ước lệ, có bài bản sẵn, ít đi ra ngoài thông lệ, ít sáng
tạo, thiếu cách đặt lại vấn đề, thiếu phản biện.
Nói chung là còn vướng mắc nhiều tinh thần lệ thuộc.
Lệ thuộc người xưa, lệ thuộc sách vở và ngay cả lệ thuộc vào ông
thầy.
Các lớp dạy luyện thi cho thấy học trò lệ thuộc vào
ông thầy như thế nào.
Và đây là một lời dạy khuôn vàng thước ngọc:
“Các người lại không bắt chước người đời xưa sao, hay là chỉ lấy
tiếng ư? Học trò tranh nhau mài gọt, gây dựng nhân tài, để làm việc
nước, có vậy mới không phụ ý trong việc học, hậu đãi người hiền,
mọi người đều phải kính cẩn tuân theo.”
(Trích Đại Nam Thực Lục chánh biên).
Đại NamThực Lục chánh biên là sách ghi chép sử triều
Nguyễn từ Gia Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỳ, mỗi kỳ là
một đời vua. Có tất cả 6 kỳ.
Cái học lệ thuộc thầy, lệ thuộc “cours” còn tồn tại
ngay ở các đại học. Sinh viên thi đỗ chỉ cần thuộc cours của giáo
sư giảng trong lớp.
Thi cử lấy đỗ khá khắt khe.
Tiêu biểu cho sự khắt khe này là hình ảnh Vân Hạc
trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố, một sĩ phu tài tuấn, có lương tri,
có tài học mà lận đận với thi cử. Nó là bản cáo trạng đối với tổ
chức lề lối học hành và thi cử thời xưa, lãng phí nhân tài và chất
xám của đất nước.
Người viết đã truy tìm một số kết quả các kỳ thi
Trung Học Phổ Thông và tú tài sau 1954 để cho thấy việc thi cử là
khắt khe quá. Nhưng kết quả tìm tòi còn chưa được như ý muốn.
Năm 1950, đại học văn khoa Sài Gòn, ở đường Garcerie nay là Phạm
Ngọc Thạch mới có 50 sinh viên theo học và 50 dự thính viên. Trường
Khoa Học mới có 14 sinh viên đậu chứng chỉ P.C.B, 2 sinh viên đậu
S.P.C.N, 3 sinh viên đậu toán đại cương, 2 sinh viên đậu vật lý
đại cương. Năm 1954-1955 có 13 bác sĩ, 11 dược sĩ, cử nhân luật
159 và rất tiến bộ đã có 135 người đậu chứng chỉ khoa học.
(Trích Địa chí Văn hóa TPHCM, trang 743-745)

Học bạ 1950
Nguồn: NVL
Một học sinh giỏi nhất lớp ở ngoài Bắc vào năm 1948,
vậy mà trong học bạ của anh, không có điểm số nào anh đạt trung
bình. Xem và đọc để thấy nó vô lý như thế nào!!!
Giỏi nhất lớp, thông minh mà điểm chưa đạt trung
bình? Và đây là nhận xét của giáo sư Dương Thiệu Tống, người đã
còn giữ học bạ này của học trò gửi cho làm kỷ niệm. (gs Dương Thiệu
Tống, trường Trung Học kiểu Mẫu, Thủ Đức)
Ông nhận xét như sau:
“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày
xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp
như các thí dụ trên đây."
(Trích “Suy Nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại”, Dương Thiệu
Tống, nxb Trẻ, trang 279-281)
Nhưng câu nhận xét sau đây của giáo sư Dương Thiệu
Tống thật hơi lạ.
“Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp
lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn?
Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh
ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này
cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm
giải đáp.”
(Trích như trên)
Giáo sư đã cho phép dành cho đồng nghiệp tìm ra giải
đáp thì tôi xin được thưa với giáo sư như thế này. Giáo sư là thầy
của nhiều thế hệ mà bản thân người viết bài này có thể chỉ là hàng
con cháu. Giáo sư đã đi du học Hoa Kỳ mang về cái bằng Tiến sĩ giáo
dục mà vấn đề cho điểm như trên, giáo sư lại thối thác không cho
một giải đáp.
Thưa giáo sư, trồng cây thì phải có quả. Trồng tốt
sẽ cho quả tốt. Trồng người cũng gần như vậy. Dạy học thì trò đi
thi phải đỗ. Không đỗ thì phần trách nhiệm không nhỏ là do thầy,
do chương trình, do xã hội. Điểm phi lý đến nực cười là cho điểm
thì đều dưới trung bình mà lại đứng đầu lớp. Không lẽ học trò đều
dốt cả? Cho dù thế nào đi nữa thì không có lý nào điểm thì kém,
dưới trung bình trong khi lời phê của giáo sư thì nào là giỏi, thông
minh, đáng khen. Như vậy thì nên căn cứ vào điểm hay vào lời phê?
Lời phê như thế có phản ảnh đúng trình độ học sinh hay không? Giải
pháp là xét lại thang điểm và thay đổi thái độ chấm bài, nhất là
bài văn, cần kèm thêm các câu hỏi giáo khoa hay trắc nghiệm như
sau này Bộ giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã đem ra áp dụng.
Thực ra khó khăn do thi cử và giáo dục thì ở đâu
cũng có. Mỗi thời mỗi khó khăn khác. Như tỉnh Québec mà tôi đang
ở. Mỗi năm dành 13 tỉ đô la dành cho giáo dục, vậy mà nhiều học
trò trung học, ngay cả đại học còn viết đầy lỗi chính tả. Ngay ông
Thủ tướng trong bài diễn văn đọc về cải cách giáo dục, người ta
tìm ra được 13 lỗi phạm lớn:
“N’est–ce pas le premier ministre Jean Charest, qui dans un
discours à l’Assemblée nationale, affirmait vouloir poursuivre ses
efforts” pour améliorer la qualité de notre langue commune, le francais”
alors qu’il remettait aux journalistes un texte comptant une douzaien
de fautes majeures...” (Trích “Le grand mensonge de l’éducation”,
Luc Germain, Luc Papineau, Benoit Séguin, trang12).
Phải chăng ngay cả ông Thủ tướng Charest trong một
bài diễn văn đọc trước Quốc Hội khẳng định trong nỗ lực tiếp tục
“Cải tiến phẩm chất tiếng nói chung của chúng ta là tiếng Pháp,”
vậy mà, chính ông Thủ tướng đã phát cho các nhà báo một bản diễn
văn trong đó tính ra có đến 13 lỗi phạm lớn.
Kinh nghiệm đi chấm thi tú tài 2 các bài Triết hay luận Pháp Văn,
Anh Văn cho thấy hệ số bản thân người chấm, hệ số tin cậy và sai
số do hai giám khảo chấm, cách nhau trung bình hai điểm, có khi
là 4 điểm. Thường trước khi bắt đầu chấm, giám khảo ngồi thảo luận
“thang điểm”. Phần này thì cho bao nhiêu điểm, phần kia bao nhiêu
điểm. Sau đó cộng lại các điểm đã cho. Sự sai biệt giữa hai giám
khảo chấm cũng một bài là từ hai đến ba điểm, có khi 5 điểm cho
thấy việc chấm thi thiếu công bằng, thiếu khách quan. Giả dụ bài
Triết ban C, hệ số 4. Cách nhau 3 điểm, nhân 4 trở thành cách nhau
12 điểm. Quá bất công cho học trò, vì nhiều khi chỉ cần một điểm
là đủ đỗ?
Kinh nghiệm bản thân khi tôi thi tú tài 2 ban C,
chọn Pháp Văn làm sinh ngữ một. Bài thi bắt buộc là một bài luận
văn chương Pháp chọn trong các tác giả thế kỷ 19 như Victor Hugo,
Alfred de Vigny, Lamartine, Chateaubriand, v.v...
Sinh ngữ 2 là anh văn thì gồm có một bài luận luân
lý. Cả năm đã học theo chương trình như thế. Nhưng nghe tin đồn
là năm nay, giáo sư Nguyễn Văn Lúa, giáo sư Pháp Văn đại học Văn
Khoa xuống chấm thi. Không ai bảo ai, một số học sinh sợ ăn điểm
một hai gậy của giáo sư Lúa bèn trốn ông, chọn Anh Văn làm sinh
ngữ một.
Tên sao trùng với người thế. Gặp ông là lúa đời rồi.
Ông nổi tiếng hung thần đánh rớt học trò. Vậy mà được đồng nghiệp
kính nể. Anh Văn vốn tôi đã chẳng giỏi gì, phần lớn thời gian tự
học lấy trong “Butterfly”. Giọng đọc anh văn thì thầy còn đọc trật
huống chi trò. Sang Mỹ này vừa chẵn 30 năm mà nói Mỹ vẫn chưa hiểu!!!
Sau bài luận văn chương ép uổng đó, từ đó đến nay, tôi không hề
dám viết một câu tiếng Anh nào nữa, mặc dầu việc biên khảo hiện
nay, phần lớn, tôi đều dựa trên sách viết bằng tiếng Anh.
Nói theo kiểu giáo sư Dương Thiệu Tống, nói Mỹ nó không hiểu thì
nó dốt hay mình dốt? Giáo sư Dương Thiệu Tống còn viết bài: Trẻ
Chưa Ngoan, Nguyên nhân? Tôi thấy ông thật thà quá. Nguyên nhân
chính là cộng sản mà ông cứ nói đâu đâu?
Ông Cụ Vương Hồng Sển trong cuốn Hơn nửa đời hư có
kể đi dự thi concours để làm việc cho Pháp, thi mãi không đậu. Ông
viết:
“Kỳ nầy, chua cay là rớt số Một, khít nút với người đội sổ. Gặp
thầy bói tên Trần Thúc Sanh, coi tay và coi tướng, nói mình về già
tốt phúc, năm nay không đậu vì tiểu nhơn ám hại, muốn đậu phải liều
như đánh bài thua. Nhưng mình vẫn nhất quyết “Không liều như đánh
bài,” chỉ còn tự trách còn óc mê tín, tin dị đoan và vẫn đi xem
bói.” Cuối cùng ông kết luận: “Cám ơn đã được thi rớt.”
(Trích Hơn Nửa Đời Hư, Vương Hồng Sển, trang 226-228).

Bảng 1: Kết quả kỳ thi tú tài
I và 2, chương trình giáo dục Việt Nam 1953-1954, Sài Gòn-Nam Bộ.
Nguồn: Việt Nam niên giám thống kê,
trang 126-130

Bảng 2: Kết quả kỳ thi tú tài
1 và 2 chương trình Pháp 1954-1955
Nguồn: Việt Nam niên giám thống kê, trang 126-130
Nói chuyện với mấy vị giáo chức lớn tuổi, họ thường
ân hận là trong đời đi dạy, họ đã chấm điểm ngặt nghèo qua. Vì mình
mà có đứa phải đi lính, có đứa biết đâu vì thế chết ngoài mặt trận.
Sau đây là kết quả các kỳ thi tú tài 1 và tú tài
2 vào niên khóa 1954-1955 cho thấy kết quả thí sinh thi đỗ là bao
nhiêu của hai chương trình Việt và Pháp lúc bấy giờ.
Một vài nhận xét
Tú tài Việt
Đây là năm cuối cùng của việc thi cử trong hệ thống
giáo dục của Pháp.
■ Nên nhớ rằng, chính phủ quốc gia chỉ mới công bố
chương trình thi lấy bằng Trung Học Phổ thông đệ nhất cấp kể từ
1950. Khóa 1, tháng sáu/1950, khóa 2 vào tháng 9/1950.
■ Vì thế không lạ gì số học sinh trường Việt dự thi
ít hơn trường Pháp đến gần một nửa. Điều đó cho thấy việc học chỉ
dành cho những người có tiền của, loại con ông cháu cha khác hẳn
kỳ thi năm 1955-1956. Trường Petrus Ký, Gia Long mới chỉ bắt đầu
mở các lớp đệ thất dạy chương trình Việt, nhưng vẫn duy trì một
số lớp chương trình Pháp.
■ Tỉ lệ tú tài 1: thí sinh thi đỗ tú tài 1, Việt
Nam, kỳ 1 là 25% cộng cả hai kỳ là 35%. Thấp.
■ Tỉ lệ thí sinh bỏ dự thi tú tài 1, kỳ 2, rất cao.
Điều đó cho thấy, người giỏi thì đỗ ngay kỳ đầu, người không học,
sau khi thi thử kỳ đầu, không đậu đã bỏ luôn, không dự kỳ khóa hai.
Đáng nhẽ phải có hơn 800 dự thi khóa hai, chỉ còn hơn 500 dự thi
khóa hai. Đã có khoảng 300 người bỏ cuộc. Cho dù thi lại, tỉ lệ
thi đậu chỉ hơn 10% so với kỳ đầu là 25%.
■ Tỉ lệ tú tài 2: Những người thi tú tài 2 đều giỏi
vì đã được sàng lọc trong kỳ thi tú tài 1. Vì thế tỉ lệ thi đỗ rất
cao so với tú tài 1. 70%. Số lượng những người tham dự kỳ thi tú
tài 2, khóa hai cũng rất cao, chỉ vắng mặt vài chục người, vì họ
tin rằng họ có thể thi đậu nên không bỏ cuộc.
■ Tỉ lệ thi Trung học đệ nhất cấp đậu cao, đến hơn
50%.
■ Những con số thi cử này sẽ thay đổi nhiều trong
các năm tới khi có số đông học sinh di cư vào Nam cũng như các trường
trung học mở ra khắp nơi.
Tú tài Pháp
■ Nhận xét thứ nhất là thi tú tài Pháp gay go và
khó đỗ hơn tú tài Việt. Vì họ chỉ thi có một kỳ, không có kỳ 2.
Tỉ lệ thí sinh thi đậu chỉ đạt 20- 25%. Vì thế sau này không lạ
gì, nhiều học sinh đổi sang trường Việt học thi cả hai kỳ thi Việt
Pháp. Tại trường Cao Bá Nhạ, gần đường Cống Quỳnh, Trần Hưng Đạo,
có một trung tâm luyện thi dành cho học sinh chương trình Pháp thi
tú tài Việt. Ai là người đã học trong hai lớp này?
■ So sánh hai bảng thì kết quả thi cử Việt Nam cho
đỗ nhiều hơn thí sinh người Pháp. Phải chăng học sinh Việt Nam học
giỏi hơn người Phảp, chăm hơn người Pháp? Tôi nghiêng về lý do giám
khảo Việt Nam chấm rộng hơn giám khảo Pháp.
Và đó phải coi là một ưu điểm, tiến bộ về phía giám
khảo Việt Nam.
Thi cử qua các kỳ thi tú tài 1 và 2 ở miền Nam là
công bằng vì tổ chức chặt chẽ và vì lương tâm nhà giáo.
Tổ chức chặt chẽ, có phương pháp, có nề nếp trong
thi cử là yêu tố quyết định trong thi cử. Cá nhân muốn gian lận
cũng khó mà gian được. Chẳng hạn chuyển đổi người địa phương đi
nơi khác là yếu tố quan trọng hàng đầu. Phân biệt tổ chức Hội đồng
giám thị và Hội đồng giám khảo. Không cho phép bất cứ quan chức
địa phương nào, từ Tỉnh trưởng đến người quân cảnh dính dáng xa
gần tới Hội đồng giám thị giám khảo. Hai hội đồng ấy từ trung ương
gửi xuống biệt lập với quan chức địa phương. Địa phương chỉ có bổn
phận bắt buộc cung cấp phương tiện. Chánh chủ khảo đến làm việc
là mọi chuyện phải được sắp xếp sẵn sàng cho họ như phương tiện
di chuyển như máy bay quân sự, xe cộ, lính canh gác thùng đề thi,
an ninh tại các trường thi.
Chẳng hạn để tiết lộ thùng đề thi do trách nhiệm
ông Tỉnh trưởng thì việc trước tiên là ông tỉnh trưởng phải đổi
đi chỗ khác.
Tổ chức ấy được tiến hành như sau:
Nha Khảo Thí
Nha khảo thí là nơi đầu não làm việc suốt quanh năm
nhằm mục đích tổ chức hai kỳ thi trung học Phổ thông và 4 lần thi
tú tài 1 và 2. Cơ quan này chia ra nhiều bộ phận riêng rẽ, biệt
lập như tổ chức các Hội đồng Giám thị và giám khảo, phân phối điều
động các giám khảo, giám thị. Sài Gòn vì là trung tâm nên nơi đây
còn chia ra nhiều Hội Đồng như Hội Đồng ban B, ban C và D, Hội Đồng
ban A. Các tỉnh thì có các Hội Đồng Giám khảo như Huế, NhaTrang,
Cần Thơ, v.v… Hội Đồng Giám Thị thì tổ chức tại các địa phương như
các tỉnh Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Trị, v.v... Khi các
thí sinh thi xong thì bài thi và hồ sơ của Hội Đồng Giám Thị được
chuyển tất cả về Huế.
Nhưng bộ phận quan trọng của Nha Khảo Thí là hội
đồng ra đề thi. Bộ phận này nằm chót lót trên lầu 3 của Nha Khảo
Thí.
Người ta gọi đùa là một vương quốc thi cử.
Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Trung bình mỗi môn có hai giáo sư trung học có kinh
nghiệm phụ trách. Họ có bổn phận cân nhắc kỹ lưỡng từng câu hỏi
giáo khoa, từng bài thi sao cho đúng. Không có kẽ hở như có thể
để học trò hiểu lầm câu hỏi hay có thể có hai cách trả lời, v.v...
Hoặc đề tài cần vừa trình độ học trò, không quá khó. Có nhiều năm,
bài toán ra quá khó, nhiều học trò giỏi cũng ngắc ngư. Báo chí phản
ứng dư luận rùm beng. Riêng đề thi ban Triết, nhiều vị không dám
tự mình đề xướng ra một đề thi mới và thường chọn các đề thi có
bài luận giải đáp trong sách Foulquié cho chắc ăn. Vì thế, các giáo
sư cũng lấy các đề thi và bài luận trong sách này dạy cho học trò.
Không có “học tủ” đâu, vì có đến 4, 5 cuốn Foulquie với hàng trăm
bài mẫu.
Sau khi đã quyết định chọn được đề thi rồi, các vị
ấy phải tự mình đánh máy, tự mình quay ronéo, tự mình để vào các
phong bì. Niêm phong lại. Phong bì đóng khằn bằng xi. Phòng đề thi
được bảo mật, có người canh gác, có hệ thống an toàn riêng để tránh
sự đột nhập của người lạ. Tất cả tổ chức khắt khe như vậy chỉ nhằm
mục đích bảo đảm an toàn cho việc thi cử được bảo mật tối đa, giữ
được công bằng.Tuy nhiên tổ chức bảo mật khắt khe đến đâu đi nữa
vẫn có yếu tố con người.
Vì thế, vấn đề còn lại vẫn là cá nhân, tư cách người
thầy.
Điều đó chính là rường cột của một nền giáo dục chân
chính.
Nhân cách người thầy qua thi cử.
Chắc các vị lớn tuổi một tý còn nhớ câu chuyện giáo
sư Hoàng Cơ Nghị, giáo sư toán đã đánh rớt cô em gái tài giỏi của
mình. Chẳng những không cho đỗ mà còn “trù ếm” đánh rớt oan. Sau
này, cô tức khí bỏ đi Pháp học mà bằng cấp chẳng những không thua
gì anh, còn vượt trội.
Không ai có thể đòi hỏi một giám khảo như ông Hoàng Cơ Nghị. Nhưng
đó là một tấm gương.
Cứ lấy kinh nghiệm bản thân cho thấy, trong suốt
cuộc đời đi chấm thi, tôi chưa hề thấy một lần, dù là thứ học trò
ruột dám mở lời nhờ cậy. Tuyệt đối không. Tôi vừa nói chuyện hỏi
thăm một cháu trai hồi đó đi thi đỗ hạng bình, tôi nhớ lại trong
nhà, chắc cũng có nhiều cháu con các chị đi thi, vậy mà chú hay
cậu nó có giúp được gì không? Trong nhà còn không giúp được làm
sao giúp được người ngoài? Nếu có 2000 ngàn vị giám khảo trên toàn
quốc mà mỗi người có độ hai ba “con gà,” vị chi là có 6000 thí sinh
được chạy chọt, được điểm cao thì còn gì giá trị việc thi cử nữa?
Cứ nghĩ như thế để thấy tổ chức thi cử nghiêm chỉnh
và nhân cách người giám khảo là hai yếu tố tạo cho các kỳ thi ở
miền Nam trước 1975 đã đạt được sự công bằng cho mọi thí sinh.
Cuộc đời thầy giáo ở đâu cũng thế phần đông nghèo,
bổng lộc không có, chức tước cũng không. Cùng là bạn học, dù chỉ
là một thiếu úy, nếu nó không dại dột sắm hòm tô bia cho mình, biết
đâu có ngày nó lừng lững lên đến Tá Tướng. Cùng đỗ tú tài, đứa học
Đại Học sư phạm, đứa học Quốc gia hành chánh. Lương bổng ngạch giáo
sư có nhích hơn bên Quốc gia Hành chánh. Vậy mà một ngày nào đó
không xa. Ông bạn Quốc gia hành chánh cứ lên như diều như trường
hợp ông Nguyễn Bá Cẩn. Chẳng may không lên, nếu nó lanh lợi một
chút cũng có xe cộ, nhà cửa, vợ đeo hột soàn... Nó đi xe hơi, đánh
bạc ăn bạc trăm bạc ngàn. Mình đi xe đạp hoặc xe gắn máy, đánh mạt
chược cò con, được thua đáng giá chục tô phở.
Ấy là chưa kể để giữ an ninh cho gia đình, hoặc phú
quý sinh lễ nghĩa, nó lập phòng nhất, phòng nhì, phòng ba, phòng
bốn. Trong đời tôi, chỉ một lần thấy một ông giáo có phòng nhì mà
thôi.
Nói thế chỉ có ý nói nhà giáo ít có cơ hội làm điều
xấu. Tôi có bạn là Quốc Gia Hành Chánh, nay nghiên cứu sử ưu thế
hơn “sử gia” mà lúc ở hành chánh chẳng biết tơ hào, sơ múi gì. Có
rất nhiều người như thế. Người hiền lương ở đâu cũng có thể là hiền
lương được.
Nhưng người đời theo thói thường trọng nhau khinh
nhau ở chỗ đó.
Nhà giáo suốt đời dậm chân tại chỗ, không lên mà
cũng không xuống, “không có tương lai.” Cái uy tín thầy giáo không
ai ban phát cho ông được. Tự ông mà có.
Ông vì thế cũng không cần xin sỏ bất kỳ ai.
Trường hợp các nhà Giáo như Hoàng Xuân Hãn, Trần
Trọng Kim là hi hữu của thời trước. Trong Nam có cụ già Hương thì
nghiệp cầm phấn chỉ là lúc ban đầu . Nhưng cái background nhà giáo
đã làm nền, đánh bóng cho cuộc đời chính trị của cụ sau này.
Mặc dầu sống thanh bạch, các thầy giáo miền Nam,
trung và tiểu học, nhất là tiểu học có quyền ngửng đầu để thấy rằng
thi cử cũng như giáo dục là điều còn lại duy nhất giúp cho người
miền Nam thấy hơn miền Bắc.
Miền Nam có thể thua miền Bắc để mất miền Nam. Nhưng
nền giáo dục ở miền Nam dù còn chập chững thiếu sót mà thực tế ngày
nay cho thấy vượt trội rất xa miền Bắc cộng sản cả về chất lượng
đào tạo và phẩm chất đạo đức.
Tất cả những ai đã đỗ đạt ở miền Nam vì thế đều có
quyền tự hào là mình đã xứng đáng đỗ như thế. Và chỉ cần nhìn những
người Việt Nam ở hải ngoại đã có thể học lại, có thể đỗ đạt ở nước
ngoài không thua bất cứ di dân nào. Và tất cả chúng ta đều có quyền
hãnh diện với chính mình và hãnh diện vì đã được đào tạo trong một
môi trường giáo dục lành mạnh, nhân bản và đạo đức ở miền Nam Việt
Nam.
Cụ thể là có khoảng 2800 dược sĩ hiện nay đang hành
nghề tại hải ngoại.(Trích Danh sách dược sĩ Việt Nam trên thế giới
Tự Do, xuất bản năm 1997).
Và có khoảng 2600 bác sĩ đủ loại cũng đang hành nghề
khắp nơi trên thế giới. (Trích Danh sách Y sĩ Việt Nam trên thế
giới Tự Do, 1997).
Còn lại biết bao nhiêu kỹ sư, giáo sư, Quốc Gia Hành
Chánh cũng đã tạo được chỗ đứng cho họ ở xứ người.
Về phía đồng bào tỵ nạn đi từ miền Bắc hoặc đã ở
các nước Đông Âu với tư cách sinh viên du học sau khi các nước cộng
sản Đông Âu sụp đổ, đã có bao nhiêu người đã đỗ đạt và thành công
ở xứ người? Tôi sợ rằng con số là ít ỏi. Hiện nay các di dân đi
từ miền Bắc đang gây nhiều trở ngại cho các nước Đông Âu và họ tìm
cách tống xuất những người Việt trên về lại Việt Nam vì rất nhiều
lý do.
Nền giáo dục đào tạo do cộng sản cầm đầu và chính
quyền cộng sản có trách nhiệm gì về những thành phần sống bất hợp
pháp này? Phải chăng nó chỉ là hậu quả tất yếu của một chính sách
giáo dục phi nhân bản mà những thành phần di dân từ miền Bắc nay
phải gánh chịu hậu quả?
Nói ra đây không phải để so bì với các anh chị em
đó, nhưng cần nói thẳng là do hậu quả cách đào tạo và nền giáo dục
dưới chế độ cộng sản đã quá yếu kém về mọi mặt.
Vậy mà họ dám viết phê phán nền giáo dục của
VNCH như sau:
“Mỹ và chính quyền Sài Gòn cố gắng kết hợp mọi Triết học cũ xưa
với Triết học mới nhất nhồi nhét những thế hệ thanh thiếu niên “lý
tưởng quốc gia” giả hiệu, “thế giới tự do”, làm cho họ chạy theo
lối sống thực dụng, hoặc sợ hãi sức mạnh nước ngoài, rồi bi quan,
yếm thế, an phận.”
(Trích Địa chí văn hóa... trang 768).
Những vụ bê bối trong thi cử ở miền Nam
Mặc dầu vậy, vẫn có những vụ bê bối không tránh được
và người viết không ngại vạch áo cho người xem lưng. Không phải
để bôi xấu gì mà để cho thấy trong cái tốt có cái xấu.
Cá nhân tôi xin thú thật thì tôi cũng đã làm nhiều
việc bê bối thời trẻ. “Tôi hư trong bụng tôi biết.” Ôi tuổi trẻ
sao mà mệt thế! Chuyện gì cũng dám làm. Vậy mà đụng đến thi cử là
bàn tay như rụt lại, không dám xé rào thò tay vào. Điều gì đã làm
cho người tuổi trẻ biết tôn trọng, biết giữ gìn “nhân cách” của
mình, một cái nhân cách mà so với một Hoàng Cơ Nghị là thua một
trời một vực?
Nhưng dù gì thì cũng vẫn là con người. Việc gian
lận thi cử cũng vẫn xảy ra ‒ thời nào cũng có- và điều đó không
có gì lạ.
Nếu đời hết tham lam thì biết đâu chúng ta đã có
cơ hội ngồi chung bàn với Phật? Và có dịp bắt tay ông Thánh Phêrô
lừng lững vào Thiên Đàng?
Trong truyện đời xưa, ông Trương Vĩnh Ký kể truyện
đút sáp vào đít hối lộ cho cọp ăn cũng kể là thâm thúy.(Ý của Vương
Hồng Sển). Trong Hồi ký Nguyễn Hiến Lê viết:
“Năm đó, tôi thi xong môn chính tả buổi sáng tin chắc là rất ít
lỗi mà qua được môn đó, tôi sẽ đậu. Buổi chiều, bỗng có tin là đầu
bài bị tiết lộ nên bỏ, sáng hôm sau thi lại. Nghe nói kẻ tiết lộ
đầu bài là một học sinh ban tú tài bản xứ trường Bưởi được thống
xứ Bác Kỳ yêu vì giỏi Pháp Văn.
(Trích Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, trang 144)
Việc thi cử như trên dù có sơ xuất cũng chỉ thu gọn vào phạm vi
cá nhân mà không có tính cách “đại trà” như hiện nay ở Việt Nam.
Tôi nêu ra đây một vài vụ việc, nêu cả danh tánh,
trong đó có những người tôi cũng biết. Nêu ra dể chứng tỏ một thứ
trong sáng, transparency, cần thiết mà không có một chút ác ý cỏn
con nào. Câu chuyện nay đã vào quá khứ, nói ra như một bằng chứng
cần phải nói thôi. Và xin lưu ý, cả hai vụ nêu ra đây đều xảy ra
thời Đệ Nhị Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam. Lúc đó kỷ cương, kỷ
luật học đường ‒ do chiến tranh một phần, nhưng do những người lãnh
đạo miền Nam lúc đó phẩm chất đạo đức yếu kém, sự có mặt của người
Mỹ tạo ra những xáo trộn xã hội không tránh khỏi, thêm nhiều nhố
nhăng chạy theo đồng tiền ‒ Và chuyên gì đã xảy ra thì phải xảy
ra thôi. Có nhiều trường hợp chỉ là tin đồn thì chúng tôi không
xét đến như có đường giây nọ, giây kia ở tỉnh Biên Hòa.
– Vụ thứ nhất liên quan đến hai giám khảo Nguyễn
Hữu Lễ và Phạm Kiều Tùng. Việc này xảy ra ở Vĩnh Long do có lộ đề
thi trước và giám thị đã bắt được và truy ra manh mối từ hai vị
giám khảo trên. Hồ sơ nội vụ đã được phúc trình về bộ giáo dục dưới
thời bác sĩ Nguyễn Lưu Viên và Nguyễn Danh Đàn. Hồ sơ được chuyển
cho Thanh tra đặc biệt. Vụ này có liên quan đến một người cháu của
ông Trần Văn Văn và vì thế bà Trần Văn Văn có can thiệp, gọi điện
thoại cho vị thanh tra, nhưng vị thanh tra cứ thẳng mà làm. Và cho
biết rằng không có bổn phận trả lời bà. Kết quả là hai vị giám khảo
bị vi phạm kỷ luật trường thi, bị đổi đi nơi khác. Vụ này thật ra
chỉ là do tình cảm cá nhân như liên hệ bà con họ hàng chứ không
phải là làm tiền hay tham nhũng. Ảnh hưởng xấu có giới hạn rõ ràng
và có thể giảm khinh được theo cái lối xử sự của người mình.
– Vụ thứ hai liên quan đến một giáo sư toán dạy Petrus
Trương Vĩnh Ký, ông Cam Duy Lễ, sau về làm trong nhóm ra đề thi.
Gia đình một phụ huynh học sinh đã bỏ một số tiền ra mua đề thi
của ông giáo sư này. Đề thi chắc để bảo mật chỉ giao cho thí sinh
này trước vài tiếng. Nhưng thí sinh này tham muốn gỡ lại số tiền
đã bỏ ra bèn bán đề thi. Chẳng mấy chốc mà đề thi được tiết lộ cho
nhiều người. Ông giáo sư này bị điều tra, bị hoàn trả về sở nhân
viên và để làm gương cho những người khác, ông bị đưa ra tòa.
Dù sao, việc này đã gây một tiếng xấu trong ngành giáo dục không
ít.
Các Hội Đồng Thi
Phần này viêt theo trí nhớ, có thể có một hai tiểu
tiết thiếu sót, xin được thông cảm.
Để bảo đảm cho các kỳ thi đạt được kết quả mong muốn.
Nguyên tắc của bộ giáo dục miền Nam là điều động các giám khảo từ
địa phương này sang địa phương khác. Giám khảo ở Huế thì vào Nha
Trang và ngược lại. Các giám khảo các tỉnh lẻ cũng bị điều động
đi nơi khác. Mặc dầu tốn kém và khó khăn di chuyển. Nhiều địa phương
mất an ninh, bắt buốc phải dùng phương tiện máy bay và lúc đó phải
nhờ bên quân đội đảm trách việc di chuyển các giám khảo. Nguyên
tắc di chuyển giám khảo ra khỏi địa phương của họ đã được duy trì
từ năm 1955 đến 1975 và đem lại kết quả khá mỹ mãn.
Có các vị giáo sư lão thành cho hay hồi 1955-1956,
số thí sinh còn ít, bài thi rọc phách rồi giám khảo được phép mang
về nhà chấm. Vậy mà đâu có chuyện gì xảy ra?
Việc coi thi và chấm thi là hai bộ phận riêng biệt.
Các giáo sư trung học phải đảm trách hai nhiệm vụ
một lúc: Vừa là giám thị vừa là giám khảo. Từ đó phân chia ra hai
hội đồng: Hội đồng giám thị để coi thi, hội đồng giám khảo để chấm
thi.
1. Hội Đồng Giám Thị
Công việc của Hội Đồng Giám Thị là tổ chức các kỳ
thi viết tại các tỉnh nhỏ như Phan Thiết, Đà Lạt, Lâm Đồng, Vũng
Tàu, Di Linh, Quảng Ngãi, Long Xuyên, Rạch Giá, v.v...
Nghĩa là học sinh ở đâu thi tại đó.
Báo chí trong nước hiện nay cho tin, các học sinh
phải thuê nhà trọ để ứng thi chẳng khác gì các sĩ tử thời Nho Học
là bao nhiêu. Trên thế giới chắc chỉ có Việt Nam hiện nay làm như
vậy.
Ban Chủ tịch Hội Đồng thường có ba người: Một chủ
tịch hội đồng, một phó chủ tịch và một thư ký. Các chức vụ chủ tịch,
phó chủ tịch thường do các hiệu trưởng hay các giáo sư có thâm niên
trong nghề đảm trách. Tại địa phương, các ông phó tỉnh Trưởng, trưởng
ty tiểu học ‒ Không có Hiệu Trưởng, vì hiệu trưởng, cũng được điều
động đi nơi khác ‒ giúp sắp xếp lo liệu về hành chánh, điều động
an ninh quân đội hay cảnh sát nếu có canh gác thì phải ở ngoài khuôn
viên nhà trường. Các ông giám thị, tổng giám thị lo liệu sắp xếp
chỗ ngồi theo số báo danh.
Đề thi đã được gửi tới tòa Tỉnh trưởng và Tòa tỉnh
trách nhiệm cho người canh gác hòm bài thi, nếu cần. Cho dù có gan
trời, các ông ấy cũng không dám đụng đậy vào các bao bì đề bài thi
này.
Đến ngày thi, ông chủ tịch hoặc ông phó chủ tịch
Hội đồng thi đến tòa tỉnh làm biên bản nhận bao bì bài thi. Tòa
tỉnh cho xe quân cảnh hộ tống xe của Hội Đồng thi đến các hội đồng
thi giao bài.
Đây là lần đầu tiên trong đời nhà giáo có tý oai
dựa hơi tỉnh trưởng, đi xe có “lính hầu,” tiền hô hậu ủng.
Phần thư ký hội đồng có bổn phận sắp xếp các giám
thị địa phương là các giáo viên tiểu học kèm theo một giáo sư từ
chỗ khác đến. Nghĩa là mỗi phòng thi gồm hai giám thị. Giám thị
1 là giáo sư trung học, giám thị 2 là giáo viên tiểu học. Bên ngoài,
mỗi hành lang có thêm một giám thị hành lang là một giáo sư để kiểm
soát chung cả hành lang.
Trước giờ thi các giám thị xem bảng sắp xếp đi về
phòng thi đã được chỉ định kèm theo một hồ sơ các giấy tờ cần thiết
cho mỗi phòng như biên bản. Đúng giờ thi, các giám thị hành lang
sẽ mang phong bì đề thi được gián kín giao cho các giám thị mỗi
phòng.
Tổ chức rất chặt chẽ, nhiệm vụ được phân chia rõ
ràng. Bao nhiêu năm vẫn thế, ít có sự thay đổi. Vai trò càc giám
thị là giáo viên địa phương có hơi tế nhị như gặp thí sinh quen
biết hoăc họ hàng. Nhưng thật sự không có vấn đề, vì còn có giám
thị 1 có nhiệm vụ kiểm soát tất cả. Chưa kể còn giám thị hành lang.
Tờ giấy thi phát cho thí sinh làm có chữ ký của hai
giám thị. Không có chữ ký của họ là bất hợp lệ. Cho nên tráo bài
thi là truyện khó có thể xảy ra.
Hết giờ thi, nhiệm vụ của giám thị là thu bài xếp
theo thứ tự vần, đánh số mật mã ở ô vuông trên mỗi bài thi. Phía
ngoài ghi số thí sinh có mặt. Số đó là mật mã của sấp bài. Bài sau
đó, được buộc chặt đóng thùng, gửi máy bay về Hội Đồng Giám Khảo.
Công việc của Hội Đồng Giám Thị kể là xong. Số phận
học sinh nay nằm trong chính những xâp bài mà họ đã làm và nhất
là trong tay các vị giám khảo.
Thế là hết một mùa thi đối với học trò.
Công lao khó nhọc cả năm trời quyết đinh trong mấy
tiếng đồng hồ, kéo dài trong mấy ngày. Phù du như ảo ảnh. Đôi mắt
tuổi trẻ nay ánh lên nỗi niềm lo âu và tin tưởng. Sự mong đợi và
sự hy sinh vô bờ bến của bậc làm cha mẹ. Làm sao nói hết cho ra
lời. Họ chỉ mong con cái thi đậu.
Nỗi niềm đó kéo theo tâm sự của cả miền Nam mỗi khi
đến mùa thi.
Phần ông thầy, người viết bài này, đi chấm thi xong
ở một nơi nào đó, vội về thăm một vòng xem đứa nào đỗ, đứa nào rớt.
Nhiều quá, không nhớ hết. Tất cả trách nhiệm 12 lớp đệ nhất vừa
công vừa tư. Chỉ mong chúng đậu nhiều. Đậu nhiều thì thầy mừng và
không khỏi hãnh diện. Có nước mắt mừng vui và chia sẻ. Kỷ niệm vào
một buổi trưa nắng, trong nhà học trò đang mở tiệc, ông thầy xuất
hiện đột ngột, chỉ kịp hỏi vài câu đủ làm nên những cảm xúc và kỷ
niệm nhớ cả đời.
Đó cũng là ý nghĩa cuộc đời ông thầy.
Nhưng cho dù tổ chức thi cử có chặt chẽ thế nào đi
nữa, người ta vẫn có thể gian lận. Tôi không chối cãi điều đó. Nhưng
điều mà tôi nghĩ rằng, tổ chức thi cử ở miền Nam được tốt đẹp không
hẳn ở tổ chức chặt chẽ.
Thi cử chặt chẽ và đàng hoàng là do con người của
nhà giáo.
Tôi đã nhìn lại một số bậc đàn anh để thấy rằng nơi
những người thầy ấy không có chỗ cho điều xấu có chỗ cư ngụ. Nhân
cách họ bày tỏ một sự trong sáng không tì vết. Nhìn họ, nhìn con
người họ nhìn phong cách họ, không một ai dám mở lời xin xỏ.
Xin vinh danh họ. Những người đã đào tạo nên những
thế hệ học sinh sau này thành người.
2. Hội đồng giám khảo
Đây là công việc quan trọng nhất, quyết định số phận
học trò. Công việc chấm thi, cộng điểm, lên danh sách kéo dài cả
tháng trời. Rất thận trọng, rà soát lại từng thí sinh một.
Nhiều khi công việc chấm thi đến mệt mỏi và chán
chường. Phải nhẫn nại để cố gắng đừng chán nản. Nhất là công việc
cộng điểm được chia ra từng nhóm để làm việc.
Nếu chấm ở Huế thì có dịp thưởng thức cái nóng gió
Lào. Cái nóng chảy mỡ. Những bữa cơm cay sè thanh đạm với những
cuộng rau sống xanh và đắng ngắt. Những tô canh cá bống cay xè,
điểm tô bằng một hai con cá hiếm hoi như bơi lội tung tăng. Những
đĩa thức ăn Tiểu, Trung, Đại đến là ít ỏi và cạnh đó là một lô ăn
mày ngồi chực săn để vét tý canh thừa cơm cặn.
Huế đồng nghĩa với nghèo trong những bữa ăn. Nghèo
đến tội nghiệp. Nhưng thiếu nữ Huế vẫn giữ nếp nhà, vẫn cố che dấu
tất cả trong những tà áo dài. Ngay cả những người bán hàng quà rong
cũng ăn mặc tươm tất.
Đó là phong cách Huế.
Gái Huế vẫn kín đáo và mở phơi trong biện chứng khép
mở, chờ đợi, đón nhận và sẵn sàng. Ngoài những người con gái Huế
ra, Huế còn gì để nói? Nói về Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường
chăng? Hay nói về các phong trào tranh đấu?
Không có gì đẹp và có thể so sánh được với tà áo
Huế. Không ở đâu có những mái tóc chải mượt và đôi con mắt của người
con gái Huế ngồi bên mạn thuyền.
Nó gửi gắm nhiều thứ lắm.
Thôi thì cũng phải quay về với bài thi. Bài
thi được rọc phách. Thường ông Phó chủ khảo đánh số mật mã. Mật
mã trên phần phách phía trên và mật mã trên phần bài thi. Sau này
chấm xong, ráp hai phần đó có số mật mã giống nhau là được.
Mỗi bộ môn có chừng độ 7, 8 giám khảo. Chấm lâu và
mất nhiều thì giờ nhất là môn Triết. Có một trưởng ban cho mỗi môn.
Mỗi giám khảo chấm bài nhận xấp bài đã ghi mã số bên ngoài bìa như
xấp 25 bài, sẽ ghi xấp 25. Trước khi chấm phải họp lập thang điểm
để thống nhất việc cho điểm. Bài cho điểm cao, bắt buộc phải đưa
cho một giám khảo khác chấm lần thứ hai, sau đó cộng lại cho trung
bình. Rất tiếc, đáng nhẽ bài cho điểm thấp quá cũng cần có chấm
lại lần thứ hai cho công bằng.
Sau khi các giám khảo chấm xong. Vấn đề còn lại có
tính cách hành chánh như là ráp phách, cộng điểm. Ngay việc cộng
điểm cũng cần hai người, đọc điểm lên, rồi cộng, rồi so sánh, rà
soát lại để tránh cộng sai.
Công việc tổ chức khá là chặt chẽ.
Hết những giờ làm việc căng thẳng và mỏi mệt ra đến
cổng trường là bị đám đông bu lại, hỏi thăm tíu tít, hốt hoảng lo
âu. Hầu hết những câu hỏi không trả lời được đành tìm cách thoái
thác cho xong. Công chúng chờ đợi, trẻ già người lớn, đứng đông
nghẹt trông ngóng trước cổng trường. Càng gần đến ngày công bố kết
quả, bầu khí như sôi sục hẳn lên. Lại chờ đợi. Họ đổ xô đến các
giám khảo, hỏi thăm tin tức, dúi những mảnh giấy nhờ vả xem kết
quả dùm.
Đúng là không khí mùa thi cử có lẽ chỉ nhìn thấy
ở Việt Nam.
Vô ích, chẳng ai có thể làm gì cho họ được. Bầu khí
đó nói lên tầm quan trọng của mùa thi. Nhất là cuối thập niên 1960,
sau tết mậu thân. Tương lai tuổi trẻ như thế nào có thể đổi khác
khi những mảnh giấy in ronéo đuợc dán lên.
Thi cử và tương lai tuổi trẻ gắn liền vào một. Đó
là cái ý nghĩa nhất trong mùa thi cử.
Đầu thập niên 1960, lúc bấy giờ còn có kỳ thi vấn
đáp nữa. Thêm một thứ rào cản vô ích và thừa thãi.
Nó chẳng để làm gì. Nếu không muốn nói nó vô tích
sự. Chẳng kiểm soát được khả năng và học lực của học sinh. May mà
các kỳ thi vấn dáp đã bị bãi bỏ.
Tú Tài I.B.M.
Cho đến lúc này, người viết không nắm chắc được việc
thí nghiệm thi trắc nghiệm, còn gọi là tú tài IBM là do khuyến cáo
của Mỹ hay do các vị đi du học ở Mỹ về đề nghị. Điều chắc chắn là
thử nghiệm tú tài IBM đã bị một số viên chức và báo chí lên tiếng
phản đối. Sự phản đối này hiểu được vì bất cứ cải cách nào về phương
diện gíáo dục đều gây phản ứng trái ngược. Nhưng xem ra phản ứng
của dư luận có phần yếu ớt và cuộc thi trắc nghiệm bậc tú tài vẫn
được tiến hành cho đến 1975.
Có thể các câu hỏi trắc nghiệm lúc đầu chưa hoàn
chỉnh. Báo chí mang các câu hỏi đó ra bình phẩm và chê trách. Nhưng
cái xu hướng thi trắc nghiệm là điều không thể không làm.
Cái lợi thứ nhất là tránh cho học sinh khỏi bị rơi
vào cái bẫy may rủi với chỉ một bài toán hay chỉ một bài luận duy
nhất. Các câu hỏi dàn trải suốt cả chương trình không cho phép học
sinh “học tủ.” Các câu hỏi đòi hỏi trí nhớ nhưng cũng đòi hỏi trí
thông minh tránh tình trạng “học gạo.”
Áp dụng thi trắc nghiệm chỉ là làm những điều mà
các nước tân tiến đã thi hành từ lâu rồi.
Bên cạnh đó vẫn còn duy trì bài luận để học sinh vẫn có thể vận
dụng óc suy luận tổng hợp, khả năng trình bày biện chứng, v.v...
Cái lợi trước mắt là học trò thi trắc nghiệm nay
có thể được điểm cao. Tỉ số đậu có khá hơn và các học sinh đậu bình
hay bình thứ là thường.
Câu chuyện thi trắc nghiểm kể như mới đi những bước
đầu dọ dẫm thì miền Nam bị rơi vào tay cộng sản. Chế độ không biết
gì về phương pháp thi trắc nghiệm nên dẹp bỏ luôn.
Chế độ giáo dục mới giống loài tôm lúc nào cũng cựa
quậy, nhưng là đi những bước lùi, giống như loài tôm hùm luôn luôn
đi lùi. Ý tưởng mà tôi lấy lại của Umberto Eco trong cuốn sách của
ông: À reculons, comme une écrevisse. Giật lùi giống như loài tôm
hùm.
Tôi đã có kinh nghiệm chấm thi trong cả hai chế độ.
Khoảng tháng chín 1975, tôi được điều động đi chấm thi tuyển vào
lớp 10. Chấm xong là hết. Từ đó, tôi không còn biết số phận các
bài chấm đó ra sao nữa?
Đấy sự khác biệt nó từ chỗ ấy. Ôi những con tôm hùm giáo dục của
người cộng sản. Con tôm hùm giáo dục nó tiến lên bằng những bước
đi lùi.
Đối với con tôm hùm, tiến có nghĩa là lùi. Tuổi trẻ
bây giờ trả giá cho những chính sách sai lầm trong giáo dục từ đó
đến nay. Vậy mà họ dám viết như thế này:
“Sài Gòn ‒ Thành phố Hồ Chí Minh với những kinh nghiệm giáo dục
sâu sắc, cả thành tựu lần thất bại, chắc sẽ trở thành môi trường
thuận lợi nhất cho một nền giáo dục và đào tạo con người vừa có
nhân cách vững vàng, vưa có chuyên nghiệp, khoa học tiên tiến.”
(Trích Giáo Dục ở Sài Gòn, trong Địa chí văn hóa, trang 748).
Vài kỷ niệm nhỏ về thi cử
Ai thích thì đọc, không đọc thì cứ bỏ qua nhé. Năm
ấy, tôi cùng với Trương Ân, bạn học cũ thời sinh viên, nay là hiệu
trưởng Quy Nhơn đi coi thi ở Phan Thiết.
Trương Ân người phốp pháp, mặt đỏ gay như chú Ba
Tàu. Tính nết vui vẻ, hồn nhiên, năng động, tháo vát, nhiệt tình,
có lòng, đi đến đâu đem không khí vui nhộn đến đó. Được rất nhiều
bạn bè đồng nghiệp quý mến từ thời đi học. Anh đã mất vì đột quỵ
ở Paris khi còn trẻ.
Trương Ân là chủ tịch Hội đồng thi, còn tôi là tà
lọt của Trương Ân. Viết mấy dòng này, tôi muốn thân tặng các cựu
học sinh Cường Để Quy Nhơn và em gái Trương Ân và chồng là Tích.
Chúng tôi đáp máy bay quân sự từ phi trường Nha Trang đi Phan Thiết.
Khoảng đường Nha Trang ‒ Phan Thiết tuy ngắn, nhưng kém an ninh
nên đành dùng máy bay.
Tôi đoán là loại máy bay của Úc Đại Lợi. Trên máy
bay không có ghế ngồi. Chúng tôi ngồi bệt xuống sàn, chen chúc với
tủ bàn ghế, rương hòm đủ thứ. Nóng bức như lò lửa. Chắc là có sĩ
quan nào dọn nhà đổi ra Phan Thiết chăng. Gần đến nơi, phi công
lái máy bay như biểu diễn, nhào xuống như tụt dốc, phải bám chắc
lấy thân máy bay. Sợ hết hồn vía.
Hồn nhiên và vui tính như Trương Ân cũng không có
bụng nào mà cười được. Đến nơi, quần áo xốc xếch, tóc tai bù xù,
người nhễ nhại mồ hôi thì đã có ông Trưởng Ty tiểu học ra đón. Ông
“mẫn cán” thế này chắc có truyện nhờ vả rồi. Xe đưa chúng tôi về
nhà Tùng, cũng là bạn học cũ, hiệu trưởng Phan Thiết đi coi thi
chỗ khác. Nhà Tùng giàu có, nhà mới quá đẹp, khang trang, mát mẻ.
Thôi đúng như là đi nghỉ hè.
Nghỉ một chút, rửa mặt mũi xong thì ông trưởng ty
vào đề mời ba chúng tôi đi ăn cơm tối. Trương Ân “lão luyện” trong
nghề nên từ chối rất khéo. Tưởng yên, ai ngờ chiều tối, một hiệu
ăn Tầu chở bàn ghế tới bầy tiệc ngay tại nhà. Không có cách nào
khác đành chịu trận ngồi ăn. Trong bàn tiệc có thêm mấy người, trong
đó có hai cô giáo và một giáo viên trẻ, con trai ông Trưởng ty.
Chúng tôi ăn uống vui vẻ. Không một chữ nhắc đến
thi cử. Nhân tiện đó, mấy cô giáo mời chúng tôi, bữa sau đến nhà
ăn cơm. Chúng tôi hoan hỉ không thắc mắc.
Buổi sáng thi cử diễn ra bình thường. Chỉ có điều
tôi nhận ra giáo viên, con trai ông trưởng ty lại coi ở một phòng
khác. Xem xét lại, tôi biết là có sự nhầm lẫn.Tôi nhẹ nhàng nói
nhỏ với anh ấy về lại phòng thi mà anh đã được chỉ định. Cũng hơi
ngượng.
Sáng hôm sau thì có sao quả tạ xảy ra cho tôi. Tôi
đi rảo qua hành lang. Chỉ cần đi thoáng qua là biết ngay cô cậu
nào đang “quay film.” Đầu cứ cúi gằm xuống là có chuyện.
Tôi vào phòng và nhận ra “thủ phạm” dấu bài quay
dưới vạt áo dài ở đùi. Tôi đến gần, cúi xuống nói nhỏ với em nữ
sinh cất “bửu bối” đi và tránh không để em bị xấu hổ.
Không biết vì sao, em hối hả lấy miếng giấy cho vào
miệng nhai phi tang, đồng thời nói to là tôi bắt oan em. Em nói
to, bù lô, bù loa làm câu chuyện thành lớn. Tôi bối rối, luống cuống
rồi đành lấy bài thi của em. Dằng co dằng lại chẳng ra làm sao cả.
Cuối cùng thì em thả ra và nhận tờ giấy thi mới. Tôi cầm tờ giấy
làm bài đi về văn phòng Hội Đồng thi. Em hoảng tưởng tôi làm biên
bản. Khổ thế, tôi lấy để vứt đi thôi. Em bỏ phòng thi, chạy theo
tôi vừa nói lải nhải. Một điều tối kỵ không cho phép làm là ra khỏi
phòng thi như vậy. Lại ồn ào, hình như có khóc lóc. Mọi người, các
thư ký văn phòng ngoái nhìn. Nói mãi em mới chịu về. Tôi trở lại
phòng thi của em, tức giận. Nhờ giáo viên ghi vào phách là: Thí
sinh gian lận. Ký tên.
Buổi trưa ra về, em đón tôi tại cổng trường ra chiều
tuyệt vọng không năn nỉ nữa và hét to trước khi bỏ đi: Thầy ác quá,
sau này không có con. May là lời nguyền rủa của em không ứng nghiệm.
Sau này, tôi có hai con trai và có cả hai bàn tọa bình thường. Tôi
im lặng không nói gì để cho em rủa và xỉ vả. Nhưng buồn.
Cho đến bây giờ nhắc lại vẫn thấy buồn. Và tự nhiên
còn hối hận vì nặng tay với em. Thôi thì cho xin lỗi. Trong đời
đi dạy, niềm vinh hạnh đến cho tôi thì đầy không có chỗ chứa. Nhưng
bên cạnh đó, có những ân hận việc này, việc nọ nhiều khi chẳng đáng
mà vẫn còn ân hận như mắng nặng một em nữ sinh, dĩ chí có lần tát
vào má một nữ sinh trước mặt đông đảo học trò. Ân hận này sao nguôi.
Bữa cơm tối tại nhà các cô giáo thật vui. Trừ Trương
Ân có vợ là Hoa, chúng tôi đều độc thân. Buổi tối về nhà. Trương
Ân lôi trong cặp ra một bản nhạc có nhan đề: Hãy trả lời em đi anh...
Hãy trả lời em đi anh. Hắn mở đĩa nhạc trong nhà và nói, con X nó
mê cậu rồi và nó nhờ mang bản nhạc này về tặng cậu. Thế rồi hắn
rống lên theo cô ca sĩ đang hát như thể đó là mối tình của anh ta
với cô X. Bản nhạc sến ơi là sến. Sau 4 ngày thi cử, chúng tôi ra
phi trường về lại Nha Trang. Không biết ai đó tặng ba đứa mỗi đứa
một túi sắc trong có cá mực, nước mắm nhĩ. Và mỗi người không quên
nhận một lô giấy ghi tên học sinh, số báo danh, v.v...
Điều bất ngờ đến ngạc nhiên là X theo ra phi trường
từ lúc nào, đứng sẵn ở một góc, mắt đỏ hoe. Tội nghiệp. Tôi đã vứt
tất cả đám giấy tờ vì một lẽ giản dị là nhiệm vụ của tôi đã chấm
dứt, tôi chẳng có thể làm việc gì cho ai cả. Tôi không có chân trong
Hội đồng thi ở Nha Trang vì đây là kỳ thi tú tài 1. Tôi có muốn
gian lận cũng không được. Và tôi cũng đã không có dịp trả lời thư
mà X đã gửi cho tôi.
Sau này X trở thành nhà văn. Phải chăng bắt đầu từ
những giọt nước mắt tiễn đưa?
Mùa thi ở Huế, sau tết Mậu Thân 1968
Mậu thân xong, tôi lấy vợ trong hoàn cảnh đất nước
mà tương lai không sáng sủa gì. Tôi nhận Sự Vụ Lệnh ra Huế chấm
thi. Lại một tháng trời đăng đẳng, sống chung với gió Lào. Huế,
nơi mà những năm trước tôi phải chứng kiến những cảnh rối loạn chính
trị không mấy vui.
Nhiều lúc tôi ghét Huế lắm. Ra là buồn, về đôi khi cũng vương buồn.
Trong khi xuống Cần Thơ, đi tuốt xuống miệt Long Xuyên, Rạch Giá
vẫn thấy lòng thảnh thơi, ăn uống thoải mái. Đến và đi nhẹ nhàng.
Chẳng biết tại sao, chẳng hề có dịp nào quen biết một cô gái.
Từ phi trường về đến thành phố, nét hoang tàn đổ nát vẫn không dấu
diếm được. Những tàu lá chuối tả tơi rách nát. Những cây bị cắt
đứt ngang đoạn. Những mái nhà tôn tróc nóc. Con đường dẫn vào Huế
bụi mù.
Đôi mắt con gái Huế buồn tang tóc. Những “con đường
tình nhân” ở Huế thưa bóng người. Vắng bóng xe đạp đi hàng đôi.
Nghỉ ngơi xong ra phố, đi một vòng. Những con đường
như Trần Hưng Đạo, áo dài Huế nay không thấy thướt tha nữa.
Vết đổ nát vì bom đạn vẫn còn in đó chưa kịp sửa
chữa hay không sửa chữa vì chủ nhân đã dọn đi vào Sài Gòn.
Huế đã có những mất mát không bao giờ lấy lại được.
Ai phải chuộc lại cho những cái mất mát ấy?
Học trò Huế gian lận dễ sợ hơn các nơi khác. Cả con
trai, con gái. Họ phải sống còn mà. Họ gian lận không dấu diếm,
bắt được thì năn nỉ. Con gái thì nước mắt lưng tròng. Ai nỡ làm
gì, đành ngoảnh mặt quay đi.
Lòng đã nản. Chấm thi như là “phóng sinh,” tôi cho
rộng rãi hơn giám khảo khác đến hai ba điểm. Cứ có một vài ý là
có điểm. Cho điểm rộng, chấm nhanh. Rồi bỏ ra phố. Nhiều giám khảo
khác nhìn với ánh mắt thiếu tôn trọng.
Hoàn cảnh đất nước như thế còn có can đảm gò lưng
từng phân ly nửa điểm để làm gì? Tôi nghĩ tôi hiểu biết đất nước
hơn những giám khảo cù lần kia. Tôi có cái lý bắt từ chuỗi cảm nghiệm
từ cuộc sống mà mặt đất đang rung lên từng hồi của bom đạn và chết
chóc. Chẳng còn nghĩa lý gì nữa. Tôi như sờ thấy, giáp mặt với chiến
tranh. Tôi sợ và thù ghét chiến tranh.
Trong chiến tranh, cái gì cũng có thể được. Tout
est possible.
Điểm của tôi là điểm của thời chiến, điểm của thời
kỳ bom đạn. Thay vì những viên đạn, tôi cho
điểm rộng hy vọng có một người khỏi chết vì bom đạn.
Cũng như những lần ra Huế trước, tôi gặp một cô giáo
viên cùng coi chung phòng. Tạm gọi tên cô là N. Tôi và N. nói chuyện
tương đắc, mặc dầu N. hầu như không nói câu nào cả. N. nói truyện
bằng những mỉm cười, bằng ánh mắt, bằng những thỏa thuận ngầm của
cả con người N. N. nhẹ nhàng, N. kín đáo, nụ cười chúm chím, môi
hồng phơn phớt. Tôi ghét chỗ ấy đậm mầu. Tôi không cắt nghĩa tại
sao.
Chúng tôi đã đi dạo buổi chiều ở một chỗ có nước
rất êm đềm, rất ngọt nào đó. Mát dịu hẳn lên. Tôi nhìn N. qua làn
áo dài mỏng thấy được nét trinh nguyên, tinh tuyền của N. Nếp quần
dài au lên tuổi con gái. Không một tì vết. N. đi nhẹ nhàng, cẩn
trọng từng bước. Không nói năng. Lâu lâu một tiếng dạ nhỏ. Ánh mắt
ngước nhìn tinh nghịch. Cái đẹp nhất của người con gái để ta tôn
thờ là nét trinh nguyên ấy. Lòng mềm đi khi nghĩ đến điều ấy khi
nghĩ về N.
Chẳng bao giờ còn những cảm giác như thế nữa. Chẳng
bao giờ gặp những cảm giác như thế ngoài Huế. Gặp nhau chỉ có mấy
ngày coi thi. Nhưng N. đã đi với tôi nhiều buổi chiều xem ra tin
cẩn lắm.
Chúng tôi có cảm tưởng quen nhau từ kiếp nào. Còn
đi nhiều nơi không nhớ hết. Chúng tôi cứ đi thế thôi. Có lần đi
trên một loại xe hàng như xe thùng, vuông, mầu trắng bẩn. Đi đâu
không nhớ. Chỉ biết đi. Nắm nhẹ tay nhau truyền cảm giác chẳng nói
năng gì mà nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ ấy. Tôi còn nhớ vài nốt
mụn trứng cá tuổi dậy thì phía má trái, phấn son không che hết của
N.
Tôi thích nhất là N. biết ngượng ngùng. Rồi một bữa,
N. bạo dạn mời tôi đến nhà ăn cơm tối. Hình như chỉ có hai mẹ con.
Nhà neo đơn lắm, thanh bạch không dấu nổi. Mẹ N. soắn sít đến tội
nghiệp không dấu được nỗi mừng cho con gái. Phần tôi đã có vợ. Tôi
làm gì được?
Như thể những người phụ nữ chân chính nhất như N.
bao giờ cũng nhận những phần thiệt thòi về mình.
Tôi rời xa Huế mà không có lấy cái địa chỉ. Sao N.
có thể dại khờ đến như thế. Không biết trao tay một cái địa chỉ
để liên lạc. Thế còn tôi thì sao?
Một sáng chủ nhật trong cái tuần lễ cuối cùng ở lại
Huế, tôi lần mò lên nhà thờ Phủ Cam. Đường buổi sáng còn vắng người.
Hai bên đường không còn một dấu vết đổ nát. Đã đến giờ lễ rồi. Tôi
len lén ngồi dưới cuối dãy nhà thờ như một người khách xa lạ. Tiếng
cầu kinh vang vang. Nhưng đến cái kinh: Lạy Chúa tôi, tôi ở dưới
vực sâu kêu lên Chúa tôi thì giọng đọc kinh dần không còn bình thường
nữa. Càng ngày nó càng biến thành những tiếng nỉ non, rồi tiếng
rên xiết ứ trong cổ họng. Cả nhà thờ trắng xóa một mầu tang từ trên
xuống dưới. Sao chết nhiều thế. Không trừ ai, không trừ nhà nào.
Huế tang thương. Huế giết Huế. Tôi rời Huế với những
ý nghĩ đen tối như thế. Tôi vứt bỏ lại đằng sau những chuyện thi
cử và muốn chạy trốn khỏi Huế.
Tôi ra trụ sở hãng máy bay Air Viet Nam để trở về
Sài Gòn. Hết một tháng mệt mỏi. Hình bóng N. lúc tỏ, lúc nhạt. Tôi
đã vô tình không hỏi nàng về những ngày tết Mậu thân vừa qua.
Quầy bán vé cũng chỉ loe ngoe người. Không có đến
quá 5 người. Còn sớm quá chăng? Tôi tạt qua bên kia đường, phía
chợ Đông Ba thấy bầy bán nhiều nhãn lồng Huế. Tôi mua vội ít chùm
tính làm quà cho gia đình. Mua xong mới thấy hố, vì bà bán nhãn
không có túi ni lông để đựng. Tôi vào đại một cửa hàng bán tạp hóa
thuộc loại sang hỏi mua túi ni lông. Cô bán hàng lắc đầu không có
bán. Nhưng nghĩ thế nào, cô bắc ghế trèo lên những kệ bán áo chemise
bầy trong tủ kính. Cô lấy xuống hai chiếc và tháo gỡ bao ni lông
ra. Cô đưa cho tôi và không tính tiền. Tôi ái ngại vì chiếc áo có
giá là vì có vỏ ni lông bao bên ngoài. Tôi đã nán lại và nói chuyện
hỏi thăm cô. Cô cho biết ba cô có tiệm trên đường Gia Long hay Lê
Thánh Tôn gì đó. Tôi cho địa chỉ và không chờ đợi có dịp gặp lại
được cô.
Về Sài Gòn, bẵng đi một thời gian, tôi nhận được
điện tín nhắn tôi ra phi trường đón cô. Quá đột ngột mà tôi lại
vừa cưới vợ. Tôi đành thất hẹn với cô.
Tôi nợ những người con gái Huế nhiều lắm. Đây là lần thứ hai, tôi
mong muốn tuyệt vọng gặp lại N và cô. Cô có đẹp không nhỉ? Nói đẹp
thì ai tin. Nhưng thưa, cô xinh đẹp và quý phái lắm, người cao mảnh
khảnh. Nhưng đẹp xấu lúc này để làm gì?
Mỗi mùa thi đối với tôi là một mùa kỷ niệm và mùa
tình ái. Mỗi lần bước lên máy bay đi về từ Huế thì hình như máy
bay nặng thêm.
© DCVOnline
|